Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Sự bùng nổ của thị trường chứng khoán (TTCKVN) cùng với sự phát triển nhanh và khá bền vững
của kinh tế Việt Nam đã được nhiều tờ báo có uy tín trong và ngoài nước đánh giá là một trong mười
sự kiện nổi bật nhất của năm 2006. Cùng với sự phát triển nhanh cả về quy mô và số lượng,
TTCKVN đã bước đầu tạo ra một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, thu hút được
đông đảo nhà đầu tư tham gia cũng như sự quan tâm chú ý của công chúng. Tổng mức vốn huy động
qua cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và đấu giá cổ phần hoá trên TTGDCK Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh năm 2006 đạt khoảng 27,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,93 lần so với năm 2005. Tổng mức
vốn hoá đã lên đến mức 38% GDP, nếu kể cả trái phiếu đạt mức 46% GDP.
Sự tăng trưởng của TTCK đã dẫn tới việc ra đời hàng loạt các tổ chức trung gian tài chính hoạt
động trong lĩnh vực chứng khoán, cho đến nay đã có 55 công ty chứng khoán, 18 công ty quản lý
quỹ, 6 ngân hàng hoạt động lưu ký chứng khoán.
Các công ty chứng khoán được hoạt động trên 4 lĩnh vực chủ yếu: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát
hành, tư vấn đầu tư. Trong đó môi giới là lĩnh vực mang lại lợi nhuận mang lại lợi nhuận nhiều nhất
và ổn định nhất cho các công ty chứng khoán. Thị trường càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các công
ty chứng khoán trong lĩnh vực môi giới càng khốc liệt hơn, đòi hỏi các công ty chứng khoán không
ngừng đổi mới và hoàn thiện hoạt động của mình.
Xuất phát từ yêu cầu nói trên,em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện hoạt động môi
giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt”. Đề tài nghiên cứu một số lý luận chung về hoạt động môi
giới và dựa trên đó nghiên cứu hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt nhằm tìm ra
những tồn tại và nguyên nhân, qua đó đề xuất một số giải pháp khắc phục những nguyên nhân đó.
Đề tài gồm các phần sau:
Chương I: công ty chứng khoán và hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
Chương II: Thực trạng hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động môi giới tại BVSC
Em xin trân trọng cảm ơn thạc sĩ Lê Hương Lan cùng các anh chị cán bộ của Công ty Cổ phần
Chứng khoán Bảo Việt đã hướng dẫn tận tình để em có thể nâng cao được kiến thức và hoàn thành
Chuyên đề tốt nghiệp này.
• Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh CK, kinh doanh bảo
hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như dịch vụ tài chính khác. Mô hình này còn gọi là mô hình ngân
hàng kiểu Đức.
2) Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh:
2
2
Chuyên đề thực tập
Theo mô hình này, CTCK sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực CK
đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh CK, mô hình hạn chế được rủi ro cho hệ
thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh
vực CK để thúc đẩy thị trường phát triển. Mô hình được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ,
Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan... Tuy nhiên, mô hình công ty chứng khoán
chuyên doanh làm giảm sự cạnh tranh trong hệ thống tài chính, đồng thời làm lãng phí về tiềm lực tài
chính và uy tín của ngân hàng trong việc trợ giúp TTCK phát triển. Hiện nay, các nước áp dụng mô
hình này cũng đang chuyển sang mô hình đa năng một phần bằng cách nới lỏng các điều kiện cho
phép các ngân hàng tham gia TTCK. ở các nước phát triển, trên cơ sở về điều kiện thuận lợi về cơ sở
hạ tầng, môi trường pháp lý có thể áp dụng ngân hàng đa năng toàn phần. Với các nước đang phát
triển, mô hình ngân hàng đa năng một phần lại đảm bảo sự an toàn cần thiết cho hoạt động của các
ngân hàng và TTCK.
b.Căn cứ vào hình thức tổ chức:
• Công ty hợp danh : Bao gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn
• Công ty cổ phần : Là một pháp nhân độc lập với chủ sở hữu công ty.
• Công ty trách nhiệm hữu hạn: Là công ty có chủ là một pháp nhân.Có quyền chuyển
nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ của mình cho một tổ chức hoặc cá nhân
khác theo quy định của pháp luật.
c.Căn cứ vào nghiệp vụ hoạt động kinh doanh:
• Dạng công ty môi giới chứng khoán : Công ty chỉ thực hiện riêng nghiệp vụ môi giới
chứng khoán.
• Dạng công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán : Công ty chỉ thực hiện việc bảo lãnh
phát hành chứng khoán cho các tổ chức phát hành.
công khai hoá và thông tin về tài sản tài chính.
b.Chức năng
• Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt :huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi
và người sử dụng vốn. CTCK huy động vốn giúp các doanh nghiệp có vốn để kinh doanh đồng thời
giúp cho người đầu tư sinh lời khi đem tiền sử dụng hợp lý.
• Cung cấp giá cả: Thông qua hệ thống khớp giá khớp lệnh, các CTCK cung cấp kịp thời sự
thay đổi về giá cả qua từng phút giúp nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định về giá, lượng một cách hợp
lý.
• Tạo tính thanh khoản cho hoạt động thị trường: CTCK giúp chuyển từ CK sang tiền mặt
hoặc từ tiền mặt sang CK một cách dễ dàng. CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng. Nhờ những CTCK mà vốn được sử dụng một cách có hiệu
quả hơn.
1.1.2,Điều kiện thành lập và nguyên tắc hoạt động của công ty CK:
1.1.2.1,Điều kiện thành lập:
Theo điều 62,luật chứng khoán, điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của công ty CK
bao gồm:
4
4
Chuyên đề thực tập
-Điều kiện về cơ sở vật chất: Có trụ sở; có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh
chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì
không phải đáp ứng điều kiện về trang bị, thiết bị
-Điều kiện về vốn:
CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định.Vốn pháp định được quy định cho
từng loại hình thức nghiệp vụ
a. Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
b. Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
c. Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
d. Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
-Điều kiện về nhân sự: Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực hiện nghiệp vụ
của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ
quan quản lý nhà nước.
• Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích
rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng
định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn.
• Công ty không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông
thường cho dịch vụ tư vấn của mình.
• Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián. Đặc biệt các công ty chứng khoán không được
phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại cho
nhà đầu tư.
• Không được tiến hành các giao dịch gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng
khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
b. Nhóm nguyên tắc tài chính :
• Công ty Chứng khoán cần phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hoạch
toán, báo cáo theo các quy định của UBCK Nhà nước. Đảm bảo nguồn tài chính trong cam
kết kinh doanh chứng khoán với khách hàng.
• Công ty không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ
trường hợp số tiền đó dùng để phục vụ cho giao dịch của khách hàng.
• Công ty phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình. Công ty
không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp
được khách hàng chấp nhận bằng văn bản
1.1.3,Các nghiệp vụ của công ty CK:
1.1.3.1,Môi giới:
Theo giáo trình Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam (Trường Đại Học KTQD) thì Môi giới
Chứng Khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán, chứng khoán cho khách hàng để
hưởng hoa hồng. Theo đó, Công ty Chứng Khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông
qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm
đối với KQGD của mình. Thông qua hoạt động này công ty Chứng Khoán sẽ chuyển đến khách hàng
các sản phẩm dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa các nhà đầu tư với nhau. Thành công của Công ty
6
bảo lãnh phải nhận mua toàn bộ số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của đợt phát hành.
Giá mua của công ty bảo lãnh là một giá đã được ấn định, thường là thấp hơn giá thị trường. Giá bán
của công ty bảo lãnh là giá thị trường. Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động tự doanh, hoạt
động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
Bảo lãnh cố gắng tối đa: Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành hứa sẽ cố
gắng đến mức tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công ty phát hành. Trường hợp
không bán hết, số chứng khoán còn lại được trả về cho công ty phát hành. Người bảo lãnh được
hưởng hoa hồng trên số chứng khoán đã được bán ra.
Bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: Đây là trường hợp áp dụng khi công ty phát hành
chứng khoán cần một số vốn nhất định để giải quyết một mục tiêu nhất định. Nếu huy động được đủ
số vốn cần thiết đó thì sẽ thực hiện phát hành, nếu không huy động đủ thì sẽ huỷ bỏ. Cũng có thể, để
cho việc chào bán có hiệu quả, nhẹ nhàng hơn trong trách nhiệm của người bảo lãnh, công ty phát
hành yêu cầu phải phát hành được một số lượng chứng khoán tối thiểu nào đó trong tổng số chứng
khoán cần phát hành, nếu đạt được số tối thiểu này thì số còn lại sẽ phát hành tiếp, nếu không đạt
được số tối thiểu đó thì sẽ huỷ bỏ toàn bộ.
Khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, các công ty chứng khoán phải tuân
thủ một số nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này thường được quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật, chẳng hạn như các quy định về hạn mức bảo lãnh, nghĩa vụ bình ổn thị trường của
các loại chứng khoán nhận bảo lãnh, tách bạch nghiệp vụ, công khai thông tin, nghĩa vụ liên đới trong
các hoạt động gian lận liên quan đến việc phát hành chứng khoán,.v.v.
Khi UBCK cho phép phát hành Chứng Khoán công ty Chứng Khoán sẽ hoàn tất thủ tục thực
hiện phân phối Chứng Khoán. Sau đây là một số hình thức phân phối Chứng Khoán chủ yếu :
• Bán rộng rãi ra công chúng .
• Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí.
• Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với tổ chức phát
hành.
• Sau khi phát hành xong tổ chức bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán Chứng Khoán cho tổ
chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị Chứng Khoán trừ đi chi phí bảo lãnh.
1.1.3.4,Tư vấn:
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán: Là việc công ty chứng khoán cung cấp các thông
cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng .Quản lý danh mục đầu tư được hiểu như
một nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư. Khi đó, khách hàng sẽ uỷ
thác tiền của mình cho công ty và công ty sẽ thay mặt khách hàng để quyết định đầu tư theo
một chiến lược hay những thoả thuận giữa công ty và khách hàng về mức lợi nhuận kỳ vọng,
rủi ro có thể chấp nhận.
Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát như sau:
Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: Tức công ty Chứng Khoán và khách hàng tiếp
xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đua ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ
thác.
Bước 2: Ký hợp đồng quản lý :Sau khi tìm hiểu và thương lượng , thoả thuận .Công ty
Chứng Khoán và khách hàng sẽ ký hợp đồng quản lý theo các yêu cầu, nội dung về vốn ,thời
gian uỷ thác, mục tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên.Phân chia lợi nhuận, rủi ro và
chi phí quản lý danh mục đầu tư.
Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lý công ty Chứng khoán thực hiện đầu tư vốn uỷ thác
của khách hàng theo những nội dung đã ký kết và phải đảm bảo tuân thủ các quy định về quản
lý vốn, tách biệt tài sản của khách hàng và của công ty.
Bước 4: Kết thúc hợp đồng quản lý :Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các khoản phí
quản lý theo hợp đồng đã ký kết và xử các trường hợp đột xuất sảy ra như công ty Chứng
Khoán bị ngừng hoạt động, giải thể hoặc phá sản
1.1.3.6,Các hoạt động khác:
• Hoạt động tín dụng
CTCK cho khách hàng của mình vay tiền để họ mua chứng khoán và thế chấp bằng chính
những chứng khoán mà họ mua đựơc khi khách hàng không trả được nợ thì CTCK sẽ bán những
chứng khoán đó để thu hồi nợ. Giao dịch mua bán với số tiền vay này được thực hiện trên tài khoản
bảo chứng. Quy trình giao dịch không khác các giao dịch của công ty thực hiện cho khách hàng trên
tài khoản giao dịch.
Rủi ro sẽ xảy ra khi chứng khoán được mua từ tiền vay giảm giá. Vì thế, CTCK khi mở tài
khoản cho khách hàng đòi hỏi một tỷ lệ ký quỹ bắt buộc nhất định. Công ty đưa ra sách lược để quản
lý các khoản vay, tránh tập trung một loại khách hàng để thu hồi vốn.
• Hoạt động cho vay bảo chứng:
bán và được hưởng hoa hồng
1.2.2,Chức năng của môi giới:
* Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng:
Công ty chứng khoán thông qua nhân viên môi giới của mình cung cấp cho khách hàng những
thông tin về các công ty niêm yết (bản cáo bạch, báo cáo tài chính hàng quý,các thông tin về phát
hành thêm, trả cổ tức,thưởng cổ phiếu). Người môi giới tiếp cận với lượng thông tin vô cùng lớn qua
nhiều kênh khác nhau bằng nghiệp vụ của mình, do đó bên cạnh việc giới thiệu với khách hàng mã cổ
phiếu và các dịch vụ đơn thuần của công ty, nhân viên môi giới có thể đưa ra những lời khuyên về
những cổ phiếu tiềm năng và những danh mục có mức rủi ro và lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư. Tư
vấn và môi giới là 2 họat động riêng biệt trong nghiệp vụ của nhà môi giới. Nhưng trong hoạt động
của nhà môi giới thì tư vấn chiếm hàm lượng khá lớn, 2 câu hỏi thường xuyên gặp là khi nào thì nên
bán hay nên mua một loại CP, sự tham lam và sự sợ hãi là 2 vấn đề mà tất cả nhà đầu tư tham gia
TTCK đều phải đối mặt, khi đó họ cần nhà môi giới ở bên để đưa ra các quyết định đúng đắn và kịp
thời, đôi khi còn là sự giải tỏa tâm lý trước biến động của thị trường
* Cung cấp các dịch vụ tài chính và giúp khách hàng thực hiện giao dịch theo yêu cầu:
Đối với bất cứ một nhà đầu tư nào, nhà môi giới cũng phải giúp thực hiện các hoạt động như
mở tài khoản tại công ty, tiến hành giao dịch, xác nhận giao dịch, thông báo kết quả đến khách hàng,
…ở các nước phát triển khi các giao dịch sử dụng Internet làm công cụ, nhà môi giới càng cần phải
nắm bắt các thông tin về khách hàng để đảm bảo chất lượng phục vụ đảm bảo yêu cầu của khách
hàng
1.2.3,Vai trò của hoạt động môi giới:
• Giảm chi phí giao dịch:
Cũng như tất cả các giao dịch mua bán khác, để thực hiện được hoạt động mua bán chứng
khoán cần có sự gặp gỡ giữa người mua và người bán, sẽ rất khó khăn cho nhà đầu tư khi họ nắm giữ
cổ phiếu muốn bán mà tự thân đi tìm đối tác mua bán với mình, CK lại là loại hàng hóa đặc biệt. Sự
xuất hiện của các công ty chứng khoán cùng với các tổ chức trung gian khác và các dịch vụ của họ sẽ
làm nhà đầu tư không mất thời gian tìm kiếm đối tác, môi giới sẽ làm việc đó giúp họ, việc của họ chỉ
là tìm cho mình một trung gian đáng tin cậy và trả phí môi giới.
• Phát triển thị trường:
Chịu đựng sự cạnh tranh khắc nghiệt trên thị trường, công ty chứng khoán thông qua đội ngũ
• Khách hàng được giới thiệu tới đây là nguồn tuyệt vời để nuôi ý tưởng kinh doanh.
Bất cứ ai cũng có thể bán các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Nhưng khách hàng thì
cần có một người bán hàng luôn sẵn sàng, nhiệt tình và có khả năng giúp đỡ họ đạt
được những mục tiêu tài chính.
• Giới thiệu khách hàng và mạng lưới kinh doanh.Là một nhà môi giới chúng ta mong
muốn làm ăn với những người giàu có .Nhưng để tìm được những khách hàng giàu có
thì không phải ai cũng làm được. Việc tìm kiếm khách hàng nhờ vào sự giới thiệu của
đối tác (khách hàng cũ) của mình là rất quan trọng. Điều đó khẳng định uy tín của nhà
môi giới với những khách hàng của mình.
* Kỹ năng khai thác thông tin :
Tức khả năng tìm hiểu các thông tin từ các nguồn như: Tổ chức phát hành, tổ chức quản lý,
tổ chức bảo lãnh, nhà đầu tư và từ các nguồn thông tin khác. Để chính từ nguồn thông tin này nhà
môi giới sẽ phân tích xử lý để có những lời tư vấn và chiến lược khách hàng thích hợp
1.2.5,Nguyên tắc hoạt động môi giới CK:
Môi giới chứng khoán là hoạt động trong nền kinh tế thị trường phát triển, là sản phẩm của thị
trường bậc cao với nhiều nét đặc trưng riêng lại càng cần có nguyên tắc áp dụng khi thực hiện. Ta có
thể kể đến những nguyên tắc chung sau:
- Hoạt động môi giới phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành về chứng khoán
và thị trường chứng khoán, phải tuân thủ các quy định của công ty và tuân thủ quy tắc ứng xử và đạo
đức nghề nghiệp.
- Người lãnh đạo công ty chứng khoán phải chỉ đạo thực hiện họat động môi giới trong phạm
vi, quy mô phù hợp với tình hình thị trường, tiềm lực tài chính và năng lực, trình độ của nhân viên
môi giới, nhân viên giao dịch, đảm bảo an toàn, hiệu quả, kiểm soát được rủi ro.
- Phải có sự quản lý tách bạch tiền và chứng khoán của từng khách hàng, sử dụng tiền và chứng
khoán trên tài khoản của khách hàng theo đúng hợp đồng đã ký.
- Người môi giới là đại diện của khách hàng khi thực hiện giao dịch nên:
• Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán chỉ được thực hiện khi công ty ký hợp đồng
bằng văn bản với khách hàng.
• Chỉ được thực hiện lệnh của khách hàng, khi khách hàng có đủ các điều kiện về tiền hoặc
chứng khoán ký quỹ theo quy định.
cho bên thứ ba;
- Không được tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho bên thứ ba mua, bán chứng
khoán trên cơ sở thông tin nội bộ;
14
14
Chuyên đề thực tập
- Không được giao dịch chứng khoán mà không thay đổi quyền sở hữu chứng khoán;
- Không được thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo cung cầu giả tạo;
- Không được tham gia lôi kéo người khác liên tục mua, bán thao túng giá chứng khoán;
- Không được tạo dựng truyền bá thông tin sai sự thật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các
họat động giao dịch chứng khoán;
- Không được làm trái lệnh của khách hàng hoặc không cung cấp xác nhận giao dịch theo quy
định hay tự ý mua, bán chứng khoán trên tài khoản của khách hàng;
- Không được có quan hệ tài chính cá nhân với khách hàng, nếu có phải công khai báo cáo với
công ty;
- Không được nhận ủy quyền của khách hàng để quyết định lựa chọn chủng loại, số lượng, giá
cả chứng khoán và thực hiện các giao dịch mua bán trên tài khoản giao dịch chứng khoán của khách
hàng mở tại công ty chứng khoán đó;
- Không được nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài việc thu phí môi giới của khách hàng theo
quy định của công ty;
- Không được có hành vi nào có thể gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của bất kỳ loại
chứng khoán nào;
- Không được mượn danh nghĩa của khách hàng để mua, bán chứng khoán hoặc có hành vi
khác làm thiệt hại đến lợi ích của khách hàng;
- Không được lợi dụng vị trí, công việc, quyền hạn và nhiệm vụ của mình để làm lợi cá nhân,
gây thiệt hại về uy tín, tài sản của công ty chứng khoán, thực hiện các hành vi bị cấm khác theo quy
định của công ty và của pháp luật có liên quan hiện hành;
1.3, Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động môi giới:
1.3.1, Nhân tố chủ quan:
• Nguồn nhân lực:
sẽ tăng nhiều hơn kèm theo sự phát triển của TTCK và ngược lại trong giai đoạn nền kinh tế suy
thoái, có nhiều yếu tố tác động nhưng nói chung sự tăng trưởng của cả nền kinh tế có phần quan
trọng trong những thay đổi trên TTCK
• Hệ thống pháp lý:
Hệ thống pháp lý có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của hệ thống các công ty chứng
khoán và cả hoạt động môi giới, những yêu cầu về vốn tối thiểu để hoạt động, chứng chỉ cần thiết để
trở thành nhân viên môi giới sẽ giới hạn đối tượng tham gia trong lĩnh vực này ,những quy định về
quy trình, lưu ký, xác nhận lệnh sẽ quyết định trình tự và thời gian thực hiện một giao dịch của khách
hàng
• Kiến thức của công chúng đầu tư:
Một thị trường gồm toàn các nhà đầu tư chuyên nghiệp yêu cầu với nhân viên môi giới sẽ
khác thị trường toàn các nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, khi trình độ của nhà đầu tư tăng lên, đòi hỏi
với nhân viên môi giới sẽ phải cao lên và với hoạt động môi giới của các công ty khắt khe hơn
• Tập quán, văn hóa truyền thống:
16
16
Chuyên đề thực tập
Ảnh hưởng đến tất cả hoạt động kinh tế không chỉ môi giới, công ty xây dựng kế hoạch phát
triển hay chiến lược tiếp xúc khách hàng của nhân viên môi giới đều xây dựng dựa trên nền tảng là
yếu tố này
1.3.3, Nguyên nhân và hạn chế của hoạt động môi giới ở Việt Nam:
Thị trường chứng khoán là lĩnh vực khá mới ở Việt Nam. Nên muốn thu hút được nhà đầu tư
đến với thị trường cần phải nâng cao hiểu biết cho họ và quan trọng hơn là tạo niềm tin nơi họ vào
thị trường. Niềm tin của công chúng đầu tư sẽ là yếu tố quyết định sự thành bại của thị trường. Điều
đã càng khẳng định thêm tính tất yếu khách quan cho họat động môi giới của công ty chứng khoán.
Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán chưa thực sự đúng với hoạt động môi giới
thường thấy trên thị trường chứng khoán trên thế giới. Các nhà môi giới chỉ thụ động chờ mua và bán
hộ khách hàng có yêu cầu. Họ hầu như không thực hiện những kỹ năng của một nhà môi giới thông
thường. Bên cạnh đó, vai trò tư vấn đầu tư chứng khoán của nhà môi giới còn tẻ nhạt, chưa được phát
huy. Các nhà đầu tư tự mình theo dõi diễn biến của thị trường và tự mình đặt lệnh dựa vào tâm lý là