Hoàn thiện hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt - Pdf 11

1
Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
Sự bùng nổ của thị trường chứng khoán (TTCKVN) cùng với sự phát triển nhanh
và khá bền vững của kinh tế Việt Nam đã được nhiều tờ báo có uy tín trong và ngoài
nước đánh giá là một trong mười sự kiện nổi bật nhất của năm 2006. Cùng với sự
phát triển nhanh cả về quy mô và số lượng, TTCKVN đã bước đầu tạo ra một kênh
huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, thu hút được đông đảo nhà đầu tư
tham gia cũng như sự quan tâm chú ý của công chúng. Tổng mức vốn huy động qua
cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và đấu giá cổ phần hoá trên TTGDCK Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh năm 2006 đạt khoảng 27,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,93 lần so
với năm 2005. Tổng mức vốn hoá đã lên đến mức 38% GDP, nếu kể cả trái phiếu đạt
mức 46% GDP.
Sự tăng trưởng của TTCK đã dẫn tới việc ra đời hàng loạt các tổ chức trung gian tài
chính hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, cho đến nay đã có 55 công ty chứng
khoán, 18 công ty quản lý quỹ, 6 ngân hàng hoạt động lưu ký chứng khoán.
Các công ty chứng khoán được hoạt động trên 4 lĩnh vực chủ yếu: môi giới, tự
doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư. Trong đó môi giới là lĩnh vực mang lại lợi
nhuận mang lại lợi nhuận nhiều nhất và ổn định nhất cho các công ty chứng khoán.
Thị trường càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán trong lĩnh
vực môi giới càng khốc liệt hơn, đòi hỏi các công ty chứng khoán không ngừng đổi
mới và hoàn thiện hoạt động của mình.
Xuất phát từ yêu cầu nói trên,em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện
hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt”. Đề tài nghiên cứu một số
lý luận chung về hoạt động môi giới và dựa trên đó nghiên cứu hoạt động môi giới tại
công ty chứng khoán Bảo Việt nhằm tìm ra những tồn tại và nguyên nhân, qua đó đề
xuất một số giải pháp khắc phục những nguyên nhân đó.
Đề tài gồm các phần sau:
Chương I: công ty chứng khoán và hoạt động môi giới của công ty chứng khoán
Chương II: Thực trạng hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán Bảo Việt
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động môi giới tại BVSC

Hoạt động của CTCK rất đa dạng và phức tạp. Vấn đề xác định mô hình tổ chức dựa trên
những điểm khác nhau, dựa vào các khối thị trường có mức độ phát triển khác nhau. Có thể khái quát
mô hình hoạt động của CTCK như sau:
1) Mô hình công ty chứng khoán đa năng:
Theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới một hình thức tổ hợp dịch vụ tài chính tổng
hợp bao gồm kinh doanh CK, kinh doanh tiền tệ, và các dịch vụ tài chính. Các ngân hàng thương mại
hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh CK, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này thể
hiện dưới hai hình thức:
• Loại đa năng một phần: Theo mô hình này, các ngân hàng muốn kinh doanh CK, kinh doanh
bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này gọi là ngân hàng kiểu Anh, Canada, úc.
• Loại đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh CK, kinh doanh bảo
hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như dịch vụ tài chính khác. Mô hình này còn gọi là mô hình ngân
hàng kiểu Đức.
3
4
Chuyên đề thực tập
2) Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh:
Theo mô hình này, CTCK sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực CK
đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh CK, mô hình hạn chế được rủi ro cho hệ
thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh
vực CK để thúc đẩy thị trường phát triển. Mô hình được áp dụng khá rộng rãi ở các thị trường Mỹ,
Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan... Tuy nhiên, mô hình công ty chứng khoán
chuyên doanh làm giảm sự cạnh tranh trong hệ thống tài chính, đồng thời làm lãng phí về tiềm lực tài
chính và uy tín của ngân hàng trong việc trợ giúp TTCK phát triển. Hiện nay, các nước áp dụng mô
hình này cũng đang chuyển sang mô hình đa năng một phần bằng cách nới lỏng các điều kiện cho
phép các ngân hàng tham gia TTCK. ở các nước phát triển, trên cơ sở về điều kiện thuận lợi về cơ sở
hạ tầng, môi trường pháp lý có thể áp dụng ngân hàng đa năng toàn phần. Với các nước đang phát
triển, mô hình ngân hàng đa năng một phần lại đảm bảo sự an toàn cần thiết cho hoạt động của các
ngân hàng và TTCK.

gian công sức để sưu tầm, nghiên cứu trước khi quyết định đầu tư. Với CTCK có trình độ chuyên
môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp nhà đầu tư sử dụng vốn một cách có hiệu quả.
• Đối với TTCK:
- Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả của chứng khoán do thị trường quyết
định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng người mua và người bán phải thông qua CTCK. Các
CTCK góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, CTCK định giá
cho các cổ phiếu khi phát hành lần đầu ra công chúng. CTCK còn góp phần bảo vệ khách hàng trong
việc định giá các loại cổ phiếu.
- Góp phần tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính. Các CTCK giúp các nhà đầu tư
giao dịch chứng khoán dễ dàng hơn. Trên thị trường cấp I CTCK làm đại lý bảo lãnh phát hành và
bán những cổ phiếu mới niêm yết trên thị trường chứng khoán, đảm bảo tài sản của các chủ đầu tư.
Trên thị trường cấp II, các CTCK giúp các nhà đầu tư bán chứng khoán và dễ dàng chuyển cổ phiếu
thành tiền mặt. Những hoạt động đó làm tăng tính thanh khoản của thị trường tài chính.
• Đối với cơ quan quản lý thị trường: CTCK giúp các cơ quan quản lý thị trường giám sát và
công khai hoá và thông tin về tài sản tài chính.
b.Chức năng
• Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt :huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi
và người sử dụng vốn. CTCK huy động vốn giúp các doanh nghiệp có vốn để kinh doanh đồng thời
giúp cho người đầu tư sinh lời khi đem tiền sử dụng hợp lý.
• Cung cấp giá cả: Thông qua hệ thống khớp giá khớp lệnh, các CTCK cung cấp kịp thời sự
thay đổi về giá cả qua từng phút giúp nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định về giá, lượng một cách hợp
lý.
• Tạo tính thanh khoản cho hoạt động thị trường: CTCK giúp chuyển từ CK sang tiền mặt
hoặc từ tiền mặt sang CK một cách dễ dàng. CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng. Nhờ những CTCK mà vốn được sử dụng một cách có hiệu
quả hơn.
1.1.2,Điều kiện thành lập và nguyên tắc hoạt động của công ty CK:
1.1.2.1,Điều kiện thành lập:
5
6

lên vốn điều lệ đã góp của tổ chức đề nghị cấp giấy phép.
• Dự thảo Điều lệ công ty.
• Dự kiến phương án hoạt động kinh doanh trong ba năm đầu phù hợp với nghiệp vụ kinh
doanh đề nghị cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy
trình quản lý rủi ro.
6
7
Chuyên đề thực tập
1.1.2.2,Nguyên tắc hoạt động của công ty CK:
Công ty chứng khoán hoạt động theo hai nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc
mang tính chất đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
a. Nhóm nguyên tắc đạo đức :
• Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi ích của khách
hàng.
• Kinh doanh có kĩ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm.
• Ưu tiên thực hiện lệnh khách hàng trước lệnh của công ty.
• Có nghĩa vụ bảo mật thông tin cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin về tài khoản
của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ khi có yêu cầu của các cơ
quan quản lý nhà nước.
• Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích
rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu, đồng thời họ không được khẳng
định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư vấn.
• Công ty không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù lao thông
thường cho dịch vụ tư vấn của mình.
• Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián. Đặc biệt các công ty chứng khoán không được
phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán cho chính mình, gây thiệt hại cho
nhà đầu tư.
• Không được tiến hành các giao dịch gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất của chứng
khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng.
b. Nhóm nguyên tắc tài chính :

cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình. Vì vậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn
đến xung đột lợi ích giữa việc thực hiện lệnh giao dịch cho khách hàng và lệnh giao dịch cho bản
thân công ty . Do đó, UBCK đều yêu cầu phải tách biệt hai nghiệp vụ này và công ty Chứng Khoán
phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty.
1.1.3.3,Bảo lãnh phát hành:
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: Là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực
hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của
tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết.
Bảo lãnh phát hành là một hoạt động nghiệp vụ rất quan trọng của công ty chứng khoán. Có
thể nói, đây là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập và cơ sở khách hàng lớn nhất cho
công ty chứng khoán. Về bản chất, bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán hỗ trợ cho các
đơn vị phát hành huy động vốn bằng cách bán chứng khoán trên thị trường. Sự hỗ trợ đó giúp đơn vị
phát hành nắm chắc khả năng huy động vốn và có kế hoạch sử dụng vốn huy động. Thông thường,
khi thực hiện bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán sẽ áp dụng một trong ba hình thức bảo lãnh
sau:
Bảo lãnh chắc chắn: Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ
số chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành, sau đó sẽ bán ra công chúng, hoặc công ty
bảo lãnh phải nhận mua toàn bộ số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của đợt phát hành.
Giá mua của công ty bảo lãnh là một giá đã được ấn định, thường là thấp hơn giá thị trường. Giá bán
8
9
Chuyên đề thực tập
của công ty bảo lãnh là giá thị trường. Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động tự doanh, hoạt
động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
Bảo lãnh cố gắng tối đa: Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành hứa sẽ cố
gắng đến mức tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công ty phát hành. Trường hợp
không bán hết, số chứng khoán còn lại được trả về cho công ty phát hành. Người bảo lãnh được
hưởng hoa hồng trên số chứng khoán đã được bán ra.
Bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: Đây là trường hợp áp dụng khi công ty phát hành
chứng khoán cần một số vốn nhất định để giải quyết một mục tiêu nhất định. Nếu huy động được đủ

ty chứng khoán. Với khả năng chuyên môn của mình, công ty chứng khoán hỗ trợ các khách hàng
trong việc lập và thực hiện các kế hoạch tài chính quan trọng nhằm tối đa hóa lợi ích của doanh
nghiệp, đảm bảo đầy đủ các nguồn lực tài chính cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp, công ty chứng khoán phải đáp ứng được
các yêu cầu sau:
• Trung thực, tận tụy và vì lợi ích của khách hàng;
• Chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tư vấn của mình đối với doanh
nghiệp;
• Có đủ năng lực thực hiện hoạt động tư vấn đã cam kết với khách hàng.
• Không được nhận bất kỳ một lợi ích không chính đáng nào ngoài những lợi ích đã thỏa thuận
với khách hàng theo quy định của pháp luật
Các công ty chứng khoán có thể thu phí hoặc miễn phí khi cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách
hàng, tuỳ theo tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động tư vấn. Theo thông lệ, các công ty chứng
khoán chỉ chịu trách nhiệm về những ý kiến tư vấn của mình, khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về
mặt tài chính khi quyết định thực hiện theo lời tư vấn. Chính vì vậy, các công ty chứng khoán và nhân
viên của mình phải tuân thủ rất nghiêm ngặt những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp nhằm tránh
gây ra những tổn hại về vật chất cho khách hàng, không được phép đưa ra những cam kết hoặc dụ dỗ
khách hàng về kết quả của khoản đầu tư khi thực hiện những ý kiến tư vấn
1.1.3.5,Quản lý danh mục đầu tư:
Quản lý danh mục đầu tư chính là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng trên cơ sở
tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng .Quản lý danh mục đầu tư được hiểu như một nghiệp
vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư. Khi đó, khách hàng sẽ uỷ thác tiền của mình
cho công ty và công ty sẽ thay mặt khách hàng để quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những
thoả thuận giữa công ty và khách hàng về mức lợi nhuận kỳ vọng, rủi ro có thể chấp nhận.
Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát như sau:
Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: Tức công ty Chứng Khoán và khách hàng tiếp
xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đua ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác.
Bước 2: Ký hợp đồng quản lý :Sau khi tìm hiểu và thương lượng , thoả thuận .Công ty Chứng
Khoán và khách hàng sẽ ký hợp đồng quản lý theo các yêu cầu, nội dung về vốn ,thời gian uỷ thác,
mục tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên.Phân chia lợi nhuận, rủi ro và chi phí quản lý danh

• Hoạt động lưu ký:
Là việc lưu giữ , bảo quản Chứng Khoán của khách hàng thông qua các tài khoanr lưu ký
Chứng Khoán .Đây là nghiệp vụ bất buộc của các công ty Chứng Khoán trong thời đại ngày nay và
cũng là nghiệp vụ mang lại không ít thu nhập cho công ty
Ngoài các dịch vụ nêu trên, CTCK còn có các dịch vụ khác như quản lý quỹ đầu tư, quản lý
vốn, kinh doanh bảo hiểm …
1.2,Hoạt động môi giới ở công ty CK:
11
12
Chuyên đề thực tập
1.2.1,Khái niệm về môi giới:
Thị trường chứng khoán là một thể chế bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa, thể
hiện mối quan hệ về cung và cầu mà ở đó, giá cả chứng khoán sẽ chứa đựng thông tin về chi phí vốn
hay giá cả của đầu tư
Thị trường chứng khoán hoạt động theo 3 nguyên tắc: trung gian, đấu giá và công khai, tuy
nhiên tùy theo trình độ và yêu cầu của từng quốc gia mà quy trình có thể khác nhau
Để mua hay bán một loại chứng khoán, nhà đầu tư phải đáp ứng nguyên tắc của thị trường
bằng cách tìm đến một tổ chức trung gian như một công ty chứng khoán để đặt lệnh, công ty chỉ có
vai trò trung gian và được hưởng hoa hồng,còn trách nhiệm của quyết định đó tùy thuộc vào nhà đầu
tư,nếu có cái nhìn sang suốt, anh ta sẽ kiếm được lời, ngược lại anh ta phải chịu lỗ
Môi giới là họat động của công ty chứng khoán làm trung gian đại diện cho khách hàng mua
bán và được hưởng hoa hồng
1.2.2,Chức năng của môi giới:
* Cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng:
Công ty chứng khoán thông qua nhân viên môi giới của mình cung cấp cho khách hàng những
thông tin về các công ty niêm yết (bản cáo bạch, báo cáo tài chính hàng quý,các thông tin về phát
hành thêm, trả cổ tức,thưởng cổ phiếu). Người môi giới tiếp cận với lượng thông tin vô cùng lớn qua
nhiều kênh khác nhau bằng nghiệp vụ của mình, do đó bên cạnh việc giới thiệu với khách hàng mã cổ
phiếu và các dịch vụ đơn thuần của công ty, nhân viên môi giới có thể đưa ra những lời khuyên về
những cổ phiếu tiềm năng và những danh mục có mức rủi ro và lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư. Tư

những người được lợi trực tiếp từ quá trình này
1.2.4,Các kỹ năng nhà môi giới cần có:
Thành công của người môi giới cũng chính là thành công của công ty Chứng Khoán. Khi mà
họ chiếm được lòng tin của khách hàng, thu hút được ngày càng nhiều tài sản để quản lý. Để có được
thành công này nhà môi giới cần phải có các kỹ năng như:
* Kỹ năng truyền đạt thông tin:
Theo quan sát của các nhà tâm lý thì có tới 93% ý nghĩa của bất kỳ một sự truyền đạt nào
được truyền đi không bằng lời mà bằng âm điệu trong giọng nói của người nói, bằng sự nhấn mạnh
những ngôn từ được sửa dụng bằng tốc độ nói và bằng cử chỉ của người nói. Các nghiên cứu về tâm
lý cho thấy rằng 90% sự phản kháng của khách hàng đều nảy sinh từ 1 trong 3 nguồn:
• Khách hàng nhận thức rằng người môi giới đơn thuần chỉ là người bán hàng, có mục tiêu
duy nhất là thu hút tiền từ khách hàng. Chính định kiến này sẽ khiến cho khách hàng có thái độ tự
nhiên là phản đối.
• Trên quan điểm của khách hàng thì người môi giới đã không truyền đạt được rõ ràng những
điều cần thiết, điều này sẽ khiến việc môi giới khó khăn và dễ bị khước từ.
13
14
Chuyên đề thực tập
• Cho dù người môi giới có thể truyền đạt rất rõ ràng, vẫn có thể không thiết lập được sự
đồng cảm sâu sắc và tin cậy đối với khách hàng.
* Kỹ năng tìm kiếm khách hàng :
Đó chính là khả năng, sự nhanh nhạy thông minh cũng như tư chất có sẵn của người môi
giới. Về cơ bản thì có sáu cách tìm kiếm khách hàng như sau:
• Dựa vào những đầu mối do Công ty gây dựng hoặc các tài khoản bàn giao lại.
• Khách hàng được giới thiệu tới đây là nguồn tuyệt vời để nuôi ý tưởng kinh doanh. Bất cứ
ai cũng có thể bán các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Nhưng khách hàng thì cần có một
người bán hàng luôn sẵn sàng, nhiệt tình và có khả năng giúp đỡ họ đạt được những mục
tiêu tài chính.
• Giới thiệu khách hàng và mạng lưới kinh doanh.Là một nhà môi giới chúng ta mong
muốn làm ăn với những người giàu có .Nhưng để tìm được những khách hàng giàu có thì

• Giá trị cuả chứng khoán luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế và tâm lý;
• Những lời tư vấn có thể là hoàn toàn không chính xác;
• Khách hàng cần được biết công ty chứng khoán không chịu trách nhiệm về những lời tư vấn;
• Phải cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin thị trường cho khách hàng, bảo mật thông
tin cho khách hàng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người môi giới cần phải tuân theo các quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động môi
giới:
• Phải cẩn trọng khi hành nghề: phải hiểu rõ khách hàng về thông tin cá nhân cơ bản, về tình
hình tài chính, mục tiêu đầu tư; trên cơ sở đó phải tư vấn phù hợp cho khách hàng;
• Phải trung thực, công bằng trong họat động môi giới: phải ưu tiên lợi ích của khách hàng;
phải tôn trọng tài sản của khách hàng, bảo vệ quyền lợi của khách hàng; phải cung cấp thông
tin đầy đủ và chính xác cho khách hàng, đặc biệt không gợi ý khách hàng mua bán vì lợi ích
riêng, không thúc giục khách hàng mua bán quá nhiều một loại chứng khoán; không đưa ra
những lời hứa hẹn đảm bảo lợi ích của khách hàng sẽ nhận được; không có hành vi và biểu
hiện có thể gây ra sự hiểu lầm về sự trung thực, độ tin cậy cho khách hàng;
• Hoạt động phải mang tính chuyên nghiệp: nhân viên thực hiện theo đúng yêu cầu của khách
hàng, tuân theo quy định về nghiệp vụ, quy định khác của công ty. Đặc biệt người môi giới
cần phải thường xuyên học tập nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ;
• Phải bảo mật: bảo quản hồ sơ, tài liệu của khách hàng; không được thảo luận bất kỳ thông tin
nào về khách hàng với người không có liên quan; không sử dụng thông tin của khách hàng
dưới bất cứ hình thức nào để tác động tới các giao dịch vì lợi ích của nhân viên môi giới, của
công ty hay của khách hàng khác.
Bên cạnh đó, hoạt động môi giới chứng khoán còn có quy định rõ về hành vi bị cấm không
được thực hiện. Đó là:
- Chỉ những người đã được cấp giấy phép hành nghề hay được công ty cho phép mới được thực hiện
các giao dịch cho khách hàng.
15
16
Chuyên đề thực tập
- Không được sử dụng những thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho bên

Một công ty có trang thiết bị cơ sở vật chất tốt thì mới phục vụ khách hàng tốt được, khi đó các
hoạt động tập hợp và xử lý thông tin của công ty sẽ diễn ra nhanh và hiệu quả hơn,các nghiệp vụ như
lưu ký, thanh toán thực hiện dễ dàng hơn. TTCK thay đổi thất thường làm khối lượng công việc của
16
17
Chuyên đề thực tập
các công ty CK cũng thay đổi theo, việc xây dựng một hệ thống thông tin, trang bị cơ sở vật chất
mạnh là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng dịch vụ công ty, xây dựng lòng tin nơi khách
hàng.
• Mô hình tổ chức:
TTCK thay đổi từng giờ từng phút, công việc của nhân viên môi giới ở đâu cũng đối mặt với áp
lực rất cao, sai sót là vấn đề bất khả kháng nếu không có mô hình tổ chức hiệu quả và nhà lãnh đạo có
năng lực, hoạt động môi giới của công ty sẽ mắc lại ở nhiều khâu, không thể diễn ra trơn tru hiệu quả
được
• Chiến lược kinh doanh của công ty:
Liên quan đến tầm nhìn của công ty, mục tiêu và chiến lược đúng đắn sẽ đảm bảo doanh thu và lợi
nhuận cho công ty
• Uy tín,thương hiệu:
Trong hoạt động kinh doanh,uy tín thương hiệu bao giờ cũng chiếm vai trò quan trọng, trên
TTCK cũng thế, các nhà đầu tư luôn muốn chọn một công ty có uy tín để làm trung gian cho giao
dịch của mình, điều đó làm nhà đầu tư cảm thấy an tâm hơn khi thực hiện giao dịch đầu tư
• Quan hệ với khách hàng:
Khối lượng giao dịch quyết định lợi nhuận của công ty và gián tiếp ảnh hưởng đến toàn bộ các
hoạt động còn lại của công ty, do tính phức tạp của các hoạt động giao dịch CK, mâu thuẫn giữa
khách hàng và công ty là điều khó tránh khỏi, các công ty cần xây dựng đối tượng khách hàng mục
tiêu để đảm bảo lợi ích và sự phát triển lâu dài cho công ty
1.3.2, Nhân tố khách quan:
• Môi trường kinh tế:
TTCK là một bộ phận của thi trường vốn, trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vốn
sẽ tăng nhiều hơn kèm theo sự phát triển của TTCK và ngược lại trong giai đoạn nền kinh tế suy

mức hợp lý nhất hay lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu tư.
Vì vậy, cần có sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động môi giới giữa các cơ
quan hữu quan, các công ty chứng khoán và công chúng đầu tư. Định hướng phát triển của toàn thị
trường chứng khoán nói chung và định hướng phát triển của công ty nói riêng cũng cho thấy những
điều kiện để phát triển hoạt động môi giới.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT
2.1,Khái quát về công ty CK Bảo Việt:
2.1.1,Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) là công ty chứng khoán đầu tiên được thành
lập tại Việt Nam với cổ đông sáng lập là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trực thuộc Bộ
Tài chính; chính thức được hoạt động kể từ ngày 26/11/1999 theo Giấy phép hoạt động số
01/GPHĐKD do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp với vốn điều lệ ban đầu là 43 tỷ đồng.
Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 310/2005/QD-TTG phê duyệt đề
án cổ phần hóa Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính - Bảo
18

Trích đoạn Xây dựng các phần mềm nghiệp vụ Hệ thống Server và các thiết bị tin học Chưa có sự phân công rõ ràng từng bộ phận trong hoạt động môi giới tại BVSC, nhân viên môi giới thường nhiều nghiệp vụ cùng lúc bao gồm cả các nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status