Những khó khăn và thuận lợi trong việc huy động và quản lý nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại - Pdf 32

I. Lịch sử ra đời và
phát triển của Ngân Hàng Thương Mại
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là một tổ chức quan trọng nhất
của nền kinh tế, là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ
tập trung, phân phối lại vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài
chính-tiền tệ khác trong nền kinh tế quốc dân.
Là một sản phẩm của nền kinh tế thị trường, cho nên lịch sử hình thành
và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử
phát triển của nền sản xuất hàng hóa. Tiền thân
của các nghiệp vụ hiện đại bắt nguồn từ nghề
đổi tiền và đúc tiền của các thợ vàng. Người
làm nghề đúc tiền, đổi tiền, thực hiện kinh
doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ
và ngược lại. Lợi nhuận thu được từ chênh lệch
giá mua và giá bán.
Do yêu cầu cất trữ tiền của lãnh chúa, các nhà buôn nhiều người làm
nghề đổi tiền thực hiện luôn nghiệp vụ cất trữ hộ. Dần dần có uy tín, những
người giữ hộ tiền bạc của các nhà buôn, thanh toán hộ và do tích lũy được
nhiều tiền họ kiêm luôn cả nghề cho vay. Trong một thời gian dài, từ nghề đổi
tiền đã phát triển thành nghề ngân hàng. Nghề ngân hàng thời kỳ đầu chỉ bao
gồm các nghiệp vụ đơn giản như: đổi tiền, nhận tiền gửi, bảo quản hộ tiền,
thanh toán, chuyển tiền cho vay. Nghiệp vụ cho vay mang tính chất cho vay
nặng lãi, cho nên các ngân hàng thời kì này gọi là các ngân hàng cho vay nặng
lãi.
Trong lịch sử phát triển, nghề ngân hàng đã trãi qua nhiều bước thăng
trầm. Nghề này được phát triển từ thời thượng cổ đến thời trung cổ, nghề ngân
1
hàng bị đình đốn do sự sụp đổ của đế quốc La Mã. Đến thời kì phục hưng,
nghề này được phục hồi và phát triển khá mạnh. Số lượng các tổ chức kinh
doanh tiền tăng lên, nhiều nghiệp vụ mới được áp dụng, như nghiệp vụ thanh
toán bằng thương phiếu, thanh toán bù trừ, nghiệp vụ bảo lãnh cho vay và

chính phủ thông qua thị trường tài chính. Nhưng thị trường tài chính đôi khi
không đem lại hiệu quả cao nhất cho người đầu tư vì: khó tìm kiếm thông tin;
chi phí tìm kiếm thông tin lớn; chất lượng thông tin không cao; chi phí giao
dịch lớn; phải có sự trùng khớp giữa người thừa vốn, người thiếu vốn, số
3
lượng, thời hạn,… Chính vì thế NHTM với tư cách là một trung gian tài chính
đứng ra nhận tiền gửi tiết kiệm và cung cấp vốn cho nền kinh tế với số lượng
và thời hạn phong phú, đa dạng đáp ứng mọi nhu cầu về vốn của khách hàng
đủ điều kiện vay vốn. Với mạng lưới giao dịch rộng khắp, các dịch vụ đa
dạng, cung cấp thông tin nhiều chiều, hoạt động ngày càng phong phú, chuyên
môn hóa vào từng lĩnh vực. NHTM đã thật sự giải quyết được những hạn chế
của thị trường tài chính trực tiếp, góp phần nâng cao hiệu quả luân chuyển vốn
trong nền kinh tế thị trường.
2.2. Chức năng tạo tiền
Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức
năng này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và
hoạt động đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ với NHTW, đặc biệt trong
quá trình thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn
định giá trị đồng tiền. Từ một lượng tiền cơ sở do NHTW phát hành qua hệ
thống NHTM sẽ được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh
tế. Khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức:
D = m.MB
Trong đó: D: khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng
MB: khối lượng cơ sở
M=1/rd: hệ số nhân tiền
rd: tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHTW có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi tỷ
lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM. Từ đó ảnh
hưởng đến khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Do đó, đạt được hiệu quả
mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra.

cộng, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị
5
trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá cả,
khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thỏa mãn trên phương diện thời gian,
địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanh nghiệp
không những nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ cấu kinh
tế, chế độ hạch toán kinh tế, mà cần phải không ngừng cải tiến máy móc thiết
bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụng nguyên vật liệu mới,
mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi
phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quá khả năng của doanh
nghiệp. Do đó để giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp đến ngân hàng xin
vay vốn để thảo mãn nhu cầu đầu tư của mình thông qua hoạt động cấp tín
dụng cho doanh nghiệp, ngân hàng là cầu nối doanh nghiệp với thị trường.
Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp đóng vai trò
rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặt của quá trình sản
xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đó tạo cho doanh
nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh.
3.3. NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả sẽ thật sự là công cụ để nhà
nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống,
NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Thông
qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các
nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một
cách hiệu quả và thực thi vài trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ
quan khác, ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để nhà
nước điều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế.
Khi nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đó
thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các NHTM
luôn được sử dụng bằng cách NHNN yêu cầu các NHTM thực hiện chính sách

4. Các loại hình của NHTM
4.1. Căn cứ theo hình thức sở hữu ngân hàng thương mại
Có 4 loại:
 Ngân hàng sở hữu tư nhân.
 Ngân hàng cổ phần.
 Ngân hàng sở hữu nhà nước.
 Ngân hàng liên doanh.
4.2. Căn cứ theo cơ cấu tổ chức ngân hàng thương mại
Có 4 loại:
 Ngân hàng sở hữu công ty.
 Công ty sở hữu ngân hàng.
 Ngân hàng đơn nhất.
 Ngân hàng có chi nhánh.
4.3. Căn cứ theo tính chất hoạt động ngân hàng thương mại
Có 4 loại:
 Ngân hàng hoạt động chuyên doanh.
 Ngân hàng hoạt động đa năng.
 Ngân hàng hoạt động bán buôn.
 Ngân hàng hoạt động bán lẻ.
8
III. Nguồn vốn của Ngân Hàng Thương Mại
1. Khái niệm:
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập hoặc huy
động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác.
Thực chất, vốn của Ngân hàng là
một bộ phận của thu nhập quốc dân
tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản
xuất, phân phối và tiêu dùng, người
chủ sở hửu của chúng gửi vào Ngân

• Quỹ dự trữ đặc biệt
• Các quỹ khác
2.2 Vốn huy động:
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ
các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội, thông qua việc thực hiện các
nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm
vốn để kinh doanh.
Nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, Ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm
hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút.
Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh
của NHTM.
10
Nguồn vốn huy động không ngừng tăng lên, tỷ lệ thuận với mọi thành
phần kinh tế trong xã hội. Do đó, các NHTM luôn quan tâm khai thác để mở
rộng tín dụng. Nhưng nguồn vốn này chỉ được sử dụng một phần để kinh
doanh, còn phải dự trữ một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán. Vốn
huy động gồm có: Vốn tiền gửi và phát hành những giấy tờ có giá.
2.3. Vốn đi vay
Vốn đi vay là khoản tiền vay muợn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi
khả năng huy động vốn bị hạn chế. Đây là nguồn chủ yếu để chống rủi ro
thanh khoản của các ngân hàng. Vay từ Ngân hàng Trung ương là khoản vay
nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của Ngân hàng Thương mại.
Hình thức cho vay chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước là tái chiết khấu (tái cấp
vốn). Các thương phiếu đã được các Ngân hàng Thương mại chiết khấu (tái
chiết khấu) trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền ngân hàng mang những
thương phiếu này lên tái chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước. Thông thường
Ngân hàng Nhà nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng
như thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao và phù hợp với mục tiêu của
ngân hàng nhà nước trong từng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu

3. Hoặt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn của NHTM là hoạt động mà trong đó các ngân
hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhau đảm bảo sự
vận hành bình thường hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định phát
luật. Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất
của Ngân hàng Thương mại. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng
12
có thể thực hiện các hoạt động khác nhau như cấp tín dụng và cung cấp các
dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của ngân
hàng thương mại, chúng ta thấy rằng nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh
bên phần tài sản Nợ. Do đó, huy động vốn còn được gọi là nghiệp vụ tà sản
Nợ.
Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi là
hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính
đặc thù riêng của ngân hàng thương mại. Do
vậy, đây cũng là điểm khác nhau giữa ngân
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng. Chính vì đặc thù này, NHTM
thường được gọi là tổn chức nhận tiền gửi
(depository institutions), trong khi các tổ chức
tín dụng phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận tiền gửi (non-
depository institutions). Do nhu cầu và động thái gửi tiền của khách hàng rất
đa dạng và khác nhau nên để thu hút được nhiều khách hàng gửi tiền, NHTM
phải thiết kế và phát triển thành nhiều loại sản phẩm tiền gửi khác nhau. Ngoài
ra NHTM còn huy động vốn qua phát hành các giấy tờ có giá.
3.1. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán.
3.1.1. Đối tượng khách hàng và tình huống sử dụng :
Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách
mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản
này được mở cho các tài khoản khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu

tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng Thương mại, khách hàng cần làm các thủ
tục sau đây:
14
• Đối với khách hàng cá nhân: chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở
tài khoản tiền gửi cá nhân, đăng ký chữ ký mẫu, xuất trình và nộp
bản sao giấy chứng minh nhân dân.
• Đối với khách hàng tổ chức: chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở
tài khoản tiền gửi thanh toán, đăng ký chữ ký mẫu và mẫu con dấu
của người đại diện, xuất trình và nộp bản sao giấy chứng minh tư
cách pháp nhân của tổ chức, và các giấy tờ chứng minh tư cách đại
diện hợp pháp của chủ tài khoản.
• Đối với khách hàng là đồng chủ tài khoản cần điền và nộp giấy đề
nghị mở tài khoản đồng sở hữu, các giấy tờ chứng minh tư cách đại
diện hợp pháp của người đại diện cho tổ chức tham gia tài khoản
đồng sở hữu, văn bản thỏa thuận quản lý và sử dụng tài khoản chung
của các đồng chủ tài khoản.
3.1.3. Tính lãi tiền gửi thanh toán:
Theo thông lệ ở các nước phát triển, ngân hàng không trả lãi cho khách
hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán vì mục đích của khách hàng khi sử
dụng tài khoản này là để thực hiện thanh toán qua ngân hàng chứ không phải
để hưởng lãi. Hơn nữa, ngân hàng còn yêu cầu khách hàng phải duy trì một số
dư tối thiểu (compensation balance) để được hưởng các dịch vụ ngân hàng,
nếu không có đủ số dư này thì khách hàng phải trả phí cho ngân hàng.
Ở Việt Nam, do dân chúng chưa có thói quen sử dụng tài khoản và gửi
tiền vào ngân hàng nên để thu hút khách hàng ngân hàng vẫn phải trả lãi đối
với tài khoản thanh toán.
Tuy nhiên, mức lãi suất áp dục áp ụng thường rất thấp, khoản 0.2-
0.25%/tháng, so với lãi suất của những loại tiền gửi tiết kiệm khác. Lãi tiền
gửi thanh toán có thể tính theo định kỳ hàng tháng hoặc quý theo phương pháp
tích số và lãi được nhập vào số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Công

cá nhân có nhu cầu sử dụng. Loại tài khoản này thích hợp cho cá nhân có nhu
cầu nhận chuyển tiền vào tài khoản, chẳng hạn nhận tiền lương hàng tháng,
16
nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc cá nhân khác trong nước. Khi nhận
chuyển tiền, khách hàng được ghi “có” vào tài khoản, ngược lại khi rút tiền tài
khoản được ghi “nợ”. Số dư trên tài khoản này là “số dư có” phản ánh số tiền
khách hàng còn gửi ở ngân hàng. Đây chính là nguồn vốn ngân hàng có thể
huy động qua tài khoản này.
Thông thường, số dư tài khoản này tăng lên khi khách hàng nhận tiền
lương vào thời điểm trả lương và giảm dần khi khách hàng rút tiền về chi tiêu.
Mặc dù số dư trên tài khoản tiền gửi cá nhân thường không lớn, nhưng với số
lượng tài khoản rất lớn, kết quả là, ngân hàng có thể huy động được khối
lượng vốn đáng kể. Chẳng hạn, NHTM ACB có số lượng tài khoản tiền gửi cá
nhân là hàng trăm nghìn tài khoản. Trung bình, mỗi tài khoản có số dư hàng
tháng là 2 triệu đồng. Như vậy, trong tháng ngân hàng ACB có thể huy động
được khối lượng vốn lên đến 200 tỷ đồng. Một con số rất đáng kể cho thấy vai
trò tích tụ và tập trung vốn của ngân hàng.
Trong những năm gần đây, số lượng
loại tài khoản này ở cá NHTM không
ngừng tăng lên nhờ có sự phối hợp tốt giữa
NHTM với các doanh nghiệp cũng như các
tổ chức khác trong việc triển khai mở tài
khoản và trả lương trực tiếp cho nhân viên
vào tài khoản. Mặt khác, các NHTM đã khá thành công trong việc thay đổi
thói quen sử dụng tiền mặt và ngày càng thu hút được nhiều người sử dụng
dịch vụ của ngân hàng. Điển hình là, ngân hàng Phương Đông - Orientbank đã
rất thành công trong việc kết hợp với Đại Học Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh mở
tài khoản và nhận chi trả tiền lương cho giảng viên và nhân viên của trường.
Ngoài ra, còn thu hút cả sinh viên mở tài khoản cá nhân để chuyển tiền và nộp
học phí cho trường. Tuy nhiên, những nổ lực này của các NHTM chỉ mới thu

18
Về phía Orientbank, lợi ích chủ yếu huy động được khối lượng tiền gửi
khá lớn từ trường và những người hưởng lương của trường. Ngoài ra,
Orientbank còn có được lợi ích mà các ngân hàng khác không thể nào có
được đó là quảng bá hình ảnh và thương hiệu Orientbank cho đối tượng
khách hàng rất tìm năng: giảng viên và sinh viên của trường.
Từ kinh nghiện thành công này, Orientbank có thể mở rộng hợp tác sang
các trường đại học khác, trong khi các NHTM khác bắt đầu “dòm ngó” và
nghĩ đến việc thâm nhập vào các trường đại học để cạnh tranh với
Orientbank. Sự thâm nhập của NHTM vào các trường đại học còn góp phần
đáng dấu cột mốc quan trọng trong đổi mới hoạt động ngân hàng.
3.3. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm.
3.3.1. Tiết kiệm không kỳ hạn
Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết
kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân hoặc tổ
chức, có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì
mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập
được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Đối
với khách hàng khi lựa chọn hình thức gửi tiền này thì mục tiêu an toàn và
tiện lợi quan trọng hơn là mục tiêu sinh lợi. Đối với ngân hàng, vì loại tiền gửi
này khách hàng muốn rút bất kỳ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm
bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng.
Do vậy, ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này (khoảng
0,25%/tháng).
Thủ tục mở sổ tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn rất đơn giản. Chỉ cần
khách hàng đến bất kỳ chi nhánh nào của ngân hàng điền vào mẫu giấy đề
nghị gửi tiết kiệm không kỳ hạn có kèm giấy chứng minh nhân dân và chữ ký
mẫu. Nhân viên sẽ hoàn tất thủ tục nhận tiền và cấp sổ tiền gửi ngay cho
khách hàng.
19

gửi không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào
thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và
13 tháng hoặc lâu hơn đến 36 tháng. Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể
chia thành:
• Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ.
• Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ.
• Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ (tháng hoặc quý).
Việc phân chia tiền gửi kỳ hạn thành nhiều loại khác nhau làm cho sản
phẩm tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng
được nhu cầu gửi tiền đa dạng của khách hàng.
3.3.3. Các loại tiết kiệm khác
Ngoài hai loại tiền gửi tiết kiệm chính
là tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm
định kỳ, hầu hết các ngân hàng thương
mại đều có thiết kế những loại tiền gửi
tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết
kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với
nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản
phẩm của mình luôn được đổi mới theo
nhu cầu khách hàng và tạo ra rào cản dị biệt để chống lại sự “bắt chước” của
các đối thủ cạnh tranh.
3.4. Huy động vốn qua phát hành chứng từ có giá.
Ngoài việc huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản
tiết kiệm, các tổ chức tín dụng nói chung và NHTM nói riêng, còn có thể huy
động vốn bằng cách phát hành các loại giấy tờ có giá. Giấy tờ có giá là chứng
nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn, trong đó xác nhận
21
nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi
và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua.

do vậy, họ có nhu cầu đầu tư ngắn hạn.
3.4.1.2. Đề nghị phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.
Để huy động vốn ngắn hạn, các tổ chức tín dụng có thể phát hành giấy
tờ có giá ngắn hạn. Giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá có thời hạn dưới
12 tháng, bao gồm kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các
giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Muốn phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn, tổ chức
tín dụng phải lập hồ sơ đề nghị phát hành. Nội dung đề nghị phát hành bao
gồm:
• Đề nghị phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong năm tài chính.
• Kế hoạch phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn trong đó nêu rõ mục
đích phát hành, phương án sử dụng, tổng số giấy tờ có giá ngắn hạn
đầu năm tài chính, tổng số mệnh giá phát hành giấy tờ có giá ngắn
hạn trong năm tài chính, số đợt và thời điểm dự kiến phát hành, tên
gọi giấy tờ có giá và đồng tiền phát hành.
• Các báo cáo tài chính của hai năm liên tục gần nhất tính đến thời
điểm đề nghị phát hành.
• Kế hoạch kinh doanh trong năm tài chính.
• Điều lệ và giấy phép hoạt động (đối với tổ chức tín dụng phát hành
lần đầu).
• Các thay đổi về bộ máy tổ chức và các thay đổi khác nếu có.
3.4.1.3. Thông báo phát hành giấy tờ có giá.
Sau khi được xem xét và phê duyệt đề nghị phát hành, tổ chức tín dụng
sẽ ra thông báo phát hành gồm có:
• Tên tổ chức phát hành.
• Tên gọi giấy tờ có giá (tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,…).
23
• Tổng mệnh giá của đợt phát hành.
• Thời hạn của giấy tờ có giá.
• Hình thức phát hành.
• Ngày phát hành.

thức huy động vốn mới. Mặc khác, do thị trường tiền tệ ở Việt Nam kém phát
triển nên thường huy động vốn qua các loại giấy tờ có giá có chi phí cao hơn
là huy động tiền gửi. Nhà đầu tư dễ chấp nhận gửi tiền với lãi suất thấp hơn là
mua chứng chỉ tiền gửi hay kỳ phiếu vì họ kỳ vọng tiền gửi có thanh khoản và
an toàn hơn là các loại giấy tờ có giá.
3.4.1.5. Huy động vốn ngắn hạn thông qua phát hành kỳ phiếu:
Kỳ phiếu là một loại giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành để huy động
vốn ngắn hạn, trong đó ngân hàng cam kết sẽ trả lãi được hưởng và vốn gốc
cho nhà đầu tư khi kỳ phiếu đến hạn. Thời gian qua, Vietcombank đã có và
thường xuyên phát hành kỳ phiếu để huy động vốn ngắn hạn.
Ví dụ:
Kỳ phiếu của VCB- Tình huống khách hàng cá nhân.
Giới thiệu:
-Đối tượng: Cá nhân là người cư trú theo quy định hiện hành của Chính
phủ.
-Loại tiền: VNĐ và các loại ngoại tệ được NHNT công bố từng thời kỳ.
-Hình thức mua: Tiền mặt, séc du lịch, chuyển khoản.
-Mệnh giá: Tối thiểu kỳ phiếu VNĐ là 500000đ, tối thiểu kỳ phiếu ngoại tệ
là 100USD (hoặc trị giá tương đương với ngoại tệ khác).
-Loại kỳ phiếu: Vô danh, đích danh.
25

Trích đoạn Huy động vốn dài hạn bằng phát hành cổ phiếu: Cho vay 1 Khái niệm: Tài trợ xuất – nhập khẩu. Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý. Khuyến mãi thu hút tiền gửi:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status