NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 63

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGUỒN
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
I.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.Khái niệm và đặc điểm của ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại đã có quá trình hình thành và phát triển rất lâu đời.Tuy nhiên cho
đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về ngân hàng thương mại. Sở dĩ các nhà nghiên
cứu, các nhà kinh doanh chưa nhất trí với nhau về định nghĩa ngân hàng thương mại là do hoạt
động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại lại phức
tạp, hơn nữa tập quán pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ cũng khác nhau dẫn đến quan
niệm về ngân hàng thương mại không đồng nhất giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới. Theo
luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam được Quốc hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo
tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân
hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân
hàng khác.”. Trong đó “ tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật
này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng
với nội dụng chủ yếu là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gứi để cấp tín dụng cung ứng các dịch vụ
thanh toán.”
Để hiểu rõ hơn về khái niệm ngân hàng thương mại, chúng ta hãy tìm hiểu những đặc điểm
của nó. Trước hết, ngân hàng thương mại là một doanh nghiiệp kinh doanh, vì vậy hoạt động của
nó cũng nhằm mục tiêu là thu được lợi nhuận. Song hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại là một loại kinh doanh đặc thù với đối tượng kinh doanh chủ yếu là quyền sử dụng khoản tiền
tệ của ngân hàng thương mại có đặc tính phi vật chất, hay nói cách khác ngân hàng thương mại là
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và hoạt động của nó gắn liền với quá trình vận động và lưu
thông tiền tệ. Trong quá trình hoạt động của mình, ngân hàng tìm cách huy động, tập trung những
nguuồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng cách đưa ra những lợi ích và những tiện ích cho người
có tiền nhàn rỗi và từ nguồn vốn đó, ngân hàng tìm cách đầu tư có lợi nhất để bù đắp các khoản
chi phí và thu được lợi nhận. Cũng xuất phát từ hoạt động đó, ngân hàng thương mại quản lý một
khối lượng lớn nguồn vốn của xã hôị và chịu nhiều rủi ro, đồng thời mang tính xã hội sâu sắc.
Ngoài đặc điểm là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại còn mang

2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại:
Cùng với sự phát triển của ngân hàng thương mại thì các hoạt động và dịch vụ của ngân
hàng thương mại ngày càng được mở rộng. Song nhìn chung lại, hoạt động của ngân hàng thương
mại bao gồm ba hoạt động cơ bản là hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt
động trung gian.
2.1.Hoạt động huy động vốn:
Là hoạt động khởi đầu của các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. Ngân hàng
thương mại bản chất là một trung gian tài chính có đặc điểm hoạt động chủ yếu không phải bằng
nguồn vốn chủ sở hữu, vì vậy nguồn vốn hoạt động, cung cấp vốn cho nền kinh tế thì ngoài nguồn
vốn chủ sở hữu, ngân hàng thương mại phải huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế thông qua các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay các tổ
chức tín dụng khác hay từ Ngân hàng Trung ương.
2.2.Hoạt động sử dụng vốn:
Sau khi huy động được vốn, để bù đắp chi phí huy động vốn và có lợi nhận thì ngân hàng
thương mại phải tìm cách sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn này để thu lãi. Đây là hoạt động chủ
yếu và đem lại tỷ trọng thu nhập lớn nhất cho ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại sủ
dụng vốn theo các hướng cơ bản là hoạt động tín dụng, đầu tư chứng khoán, đầu tư mua sắm tài
sản cố định và trang thiết bị, hoạt động ngân quỹ trong đó hoạt động tín dụng là quan trọng nhất
bởi nó đem lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng.
2.3.Các hoạt động trung gian của ngân hàng thương mại
Các hoạt động trụng gian của ngân hàng bao gồm hoạt động thanh toán, hoạt động quản lý
tài sản cho khách hàng, hoạt động phát hành chứng khoán, hoạt động mua bán và bảo quản chứng
khoán, hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn kinh doanh và quản trị doanh nghiệp…Các hoạt động
trung gian này thường đem lại thu nhập từ 20%-30% thu nhập cho ngân hàng, sự đa dạng của các
dịch vụ là thước đo sự phát triển của ngân hàng hiện đại, việc phát triển các hoạt động trung gian
có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao thu nhập, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Trên đây là ba nhóm hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, mỗi hoạt động có những
đặc điểm khác nhau song có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ và bổ sung cho nhau. Vì vậy đối
với các nhà quản trị ngân hàng, không được coi nhẹ hoạt động nào mà phải luôn đặt mối quan hệ
giữa chúng trong khi đề ra chiến lược cũng như lập kế hoạch kinh doanh để đạt được hiệu quả

ngân hàng thương mại. Để kiểm soát khả năng này, luật pháp cho phép ngân hàng Nhà nước được
quyền buộc các ngân hàng thương mại phải ký gửi tại ngân hàng Nhà nước một phần của tổng số
tiền họ nhận được từ nền kinh tế, gọi là khoản dự trữ bắt buộc. (DTBB).
Theo lý thuyết tạo tiền: khi một lượng tiền tăng lên, khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống
ngân hàng thương mại sẽ tăng lên rất nhiều lần. Ngược lại, khi bớt đi một lượng tiền gửi, khả năng
cho vay của toàn hệ thống ngân hàng thương mại sẽ giảm đi nhiều lần. Cụ thể:
Khả năng mở rộng tiền gửi = Số tiền gửi huy động . Hệ số nhân
của ngân hàng ban đầu mở rộng tiền tệ
Hệ số nhân mở rộng tiền tệ = 1/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Chức năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại liên quan chặt chẽ với chính sách
tiền tệ cuả ngân hàng nhà nước. Thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng Nhà nước
có thể tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi dự trữ bắt buộc.
3.3.Ngân hàng thương mại có vai trò là trung gian tài chính, trung gian tín dụng
Ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ ngân hàng, các dịch vụ tư vấn cho các cá nhân
và doanh nghiệp dựa vào các ưu thế riêng có về công nghệ, nhân sự, về thu thập và xử lý thông tin
của mình.
Trong nền kinh tế, do các đơn vị kinh tế có nhu cầu về tiền, vốn vào thời điểm khác nhau là
khác nhau, gây ra hiện tượng thừa, thiếu tạm thời. Ngân hàng thương mại là người trung gian có
vai trò chuyển đổi kỳ hạn nợ, thay đổi thời kỳ đáo hạn của các khoản, các món nợ
Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người nhàn rỗi, muốn kiếm lời nhưng lại không có cơ
hội đầu tư, hoặc không có khả năng chịu đựng rủi ro, vì vậy cách tốt nhất là nên gửi tiền vào ngân
hàng. Bên cạnh những người đó còn tồn tại những người có nhu cầu về vốn nhưng không gặp
được những người thừa vốn kia nên cách tốt nhất là nên đến hỏi vay ngân hàng. Ngân hàng đã giải
quyết được rủi ro, giải quyết mâu thuẫn giữa người tiết kiệm và người đi vay
Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế là rất lớn, muốn phát triển kinh tế, hệ
thống ngân hàng phải phát triển, thậm chí hệ thống ngân hàng phải đi trước một bước. Muốn phát
triển kinh tế trước hết phải phát triển hệ thống ngân hàng.
Khi nói về vai trò của ngân hàng thương mại còn có nhiều cách phân chia
khác. Người ta có thể phân chia ngân hàng thương mại qua các vai trò sau: tạo
tiền, cơ chế thanh toán và huy động tiết kiệm, mở rộng tín dụng, tạo điều kiện tài

điều này giúp cho ngân hàng có thể sử dụng lượng vốn này. Tiền gửi thanh toán có số dư tại ngân
hàng, thời kì đầu có thể bị thu phí, về sau để khuyến khích khách hàng gửi tiền, ngân hàng không
thu phí cho các số dư. Về sau, các ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau, từ việc thu phí, đến
không thu phí, ngân hàng thương mại còn trả lãi cho các số dư tại ngân hàng. Khách hàng gửi tiền
vào ngân hàng ở tài khoản này không nhằm mục đích thu lãi, mà là sử dụng các tiện ích do các
ngân hàng cung cấp. Ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho số dư từ tài khoản tiền gửi thanh toán
vì vậy chi phí huy động vốn thấp. Đây là ưu điểm của nguồn vốn này. Đây là nguồn vốn có chi
phí huy động thấp nhất. Nhưng tính ổn định của nó là thấp nhất, do khách hàng gửi vào đây với
mục đích thanh toán nên họ có thể rút ra để chi trả, thanh toán bất cứ lúc nào, mà ngân hàng không
được phép từ chối. Biến động của tiền gửi thanh toán phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thời vụ, hoặc địa bàn hoạt động của ngân hàng. Để đo độ biến động phức tạp của nguồn vốn này,
ta có thể đo tần suất biến động hoặc số vòng quay, hoặc dựa vào các con số thống kê trong lịch sử
mà ngân hàng đưa ra kết luận. Sử dụng nguồn vốn tiền gửi thanh toán là ngân hàng phải thận
trọng, nếu không rủi ro chi trả sẽ xảy ra, điều này có thể làm giảm uy tín của ngân hàng, hoặc phải
tốn quá nhiều chi phí để đi vay, thậm chí có thể là bị phá sản. Để huy động tiền gửi thanh toán ,
ngân hàng thương mại cần khuyến khích các cá nhân và tổ chức kinh tế mở tài khoản. Lãi suất đôi
khi cũng không phải là yếu tố quan trọng, mà ngân hàng cần chú ý tới những tiện ích và dịch vụ do
ngân hàng đem lại cho khách hàng.
*Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn (thường chiếm khoảng 40% tổng số tiền gửi) là loại tiền gửi có sự thỏa
thuận giữa khách hàng và ngân hàng về thời hạn gửi tiền. Trong khoảng thời gian thỏa thuận đó,
ngân hàng tùy ý sử dụng số tiền do khách hàng ký gửi, khi khách hàng cần rút tiền thì phải báo
trước cho ngân hàng và phải được sự đồng ý của ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn do các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội tạo ra, từ các quỹ như quỹ khấu hao, quỹ đầu tư, từ các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status