MỘT VÀI BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH cực CHỦ ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC địa LÝ - Pdf 32

gi

Sáng kiến kinh nghiệm :

MỢT VÀI BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CHỦ ĐỢNG
CỦA HỌC SINH TRONG GIỜ HỌC ĐỊA LÝ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

1.Cơ sở lí luận :
Dạy học là một nghệ thuật,một nghệ thuật đòi hỏi có nhiều cố gắng và kinh
nghiệm
Một vấn đề cần quan tâm đối với bản thân giáo viên chúng ta là “ Làm thế
nào để nâng cao chất lượng giảng dạy” và trong giờ học các học sinh là đối
tượng chủ động, tích cực hóa các hoạt động học tập của mình. Muốn thực hiện
được vấn đề này, giáo viên cần phải biết tổ chức, phối hợp bài trí bài học như thế
nào để tạo sự hăng say học tập của học sinh. Đây là mấu chố t để tiết dạy thành
công, là yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáo dục.
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, hiện nay trong nội dung
chương trình SGK mới được biên soạn theo hướng tạo điều kiện để tổ chức các
hoạt động tự giác, tích cực, độc lập của học sinh. Bên cạnh việc cung cấp kiến
thức, SGK cũng chú trọng đến cách thức làm việc để học sinh có thể tự khám phá,
lónh hội kiến thức. Nội dung SGK đã thể hiện một cách hài hòa cả kênh chữ lẫn
kênh hình.
Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong q trình giảng dạy chúng
ta cần thiết phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, trong đó đổi mới phương
pháp nhằm phát huy tích tích cực của học sinh là vấn đề quan trọng. Định hướng đổi
mới phương pháp dạy và học được xác định trong nghị quyết Trung ương 4 khóa
VII(1-93), nghị quyết Trung ương 2 khóa VII (12-1996), được thể chế hóa trong Luật
Giáo dục (2005), trong chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đăc biệt chỉ thị số 14(41999). Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thơng phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, mơn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo

s dụng các phương pháp truyền thống hoặc nếu có nhưng chỉ ở mức độ đơn giản
học sinh sẽ thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, đa số các em không hiểu bài và
không có hứng thú học tập bộ môn. Như vậy đối với giờ học Đòa lý ở tất cả các
khối, việc hướng dẫn sử dụng đồ dùng dạy học cũng như các kênh hình, biểu bản
trong SGK là cần thiết và không thể thiếu đó là lí do tôi chọn đề tài “

“.

II. NỘI DUNG :

Khi đã xác đònh mục đích trên, tôi đã thực hiện nhiều biện pháp và đầu tư
thích đáng cho từng nội dung bài giảng.
1. Nội dung 1: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan.
2. Nội dung 2: Phương pháp sử dụng số liệu thống kê và các biểu đồ.
3. Nội dung 3: Phương pháp khai thác các tranh ảnh trong sách giáo khoa.
4. Nội dung 4: kỹ thuật khăn phủ bàn
5. Nội dung 5: kỹ thuật mảnh ghép
III GIẢI PHÁP :

1. Giải pháp 1: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan:
a/ Hướng dẫn sử dụng bản đồ :
Trong giảng dạy Đòa lý, bản đồ giữ vai trò rất quan trọng không thể thiếu.
Bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và các mối quan hệ của các đối tượng
Đòa lý trên bề mặt Trái đất một cách cụ thể với nhiều ưu điểm riêng mà không
một phương tiện nào có thể thay thế được. Do đó bản đồ vừa là một phương tiện
trực quan, vừa là nguồn tri thức quan trọng của việc dạy học Đòa lý và sử dụng bản
đồ là phương pháp đặc trưng trong dạy học Đòa lý.
Hệ thống bản đồ trong dạy học Đòa lý rất đa dạng và phong phú, mỗi loại bản
đồ có chức năng riêng. Vì vậy trong dạy học phải biết sử dụng phối hợp các loại


kinh tế và an ninh và quốc phòng?
 Thông qua bản đồ HS có thể nêu được vò trí của vùng có ý nghóa chiến lược
về giao lưu kinh tế Bắc – Nam, nhất là Đông – Tây. Đặt biệt về an ninh quốc
phòng ( có 2 quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa ).
Như vậy chúng ta thấy bản đồ giúp giáo viên trau dồi kiến thức, rèn luyện kó
năng khai thác kiến thức đòa lý, củng cố phần lý thuyết nhằm giúp bài giảng sinh
động hơn và đạt hiệu quả cao hơn. Đối với HS giúp các em biết cách khai thác
kiến thức từ bản đồ, đạc biệt các bản đồ Đòa lý để phục vụ trong học tập và cuộc
sống.
Ví dụ : Khi dạy bài 24 : Vùng Bắc Trung Bộ GV cho HS quan sát bản đồ giao
thông vận tải Việt Nam kết hợp lược đồ 24.3 SGK yêu cầu xác đònh vò trí các quốc
lộ 7, 8, 9 và nêu tầm quan trọng của các tuyến đường này?
 Có bản đồ HS sẽ dễ xác đònh được các tuyến đường và nêu được tầm quan
trọng của các quốc lộ 7, 8, 9 nối liền các cửa khẩu biên giới Lào – Việt với cảng
biển nước ta.

Qun

3


gi

 Giáo viên mở rộng thêm đường số 9 được chọn là một trong những tuyến
đường xuyên ASEAN và Lao Bảo trở thành khu vực trọng điểm phát triển
kinh tế, thương mại. Việc quan hệ về mọi mặt với các nước trong khu vực
Đông Nam Á và thế giới thông qua hệ thống đường biển mở ra nhiều khả
năng to lớn hơn nhiều đối với vùng Bắc Trung Bộ.
Khi dạy học bằng phương pháp trực quan, đối với phần khai thác tri thức từ bản
đồ, giáo viên phải nắm vững kó năng khai thác các kiến thức từ bản đồ, tìm cách

Dựa vào chú giải của bản đồ học sinh sẽ xác đònh được các trung tâm du lòch
Quốc gia : Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Thành Phố Hồ Chí Minh. Trung tâm du lòch
vùng : Hải Phòng, Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ.
Qun

5


gi

 Cả nước hình thành 3 vùng du lòch :
+ Bắc Bộ ( 28 tỉnh – Thành )
+ Bắc Trung Bộ ( 6 tỉnh )
+ Nam Trung Bộ và Nam Bộ ( 29 tỉnh – thành )
 Ngoài ra bản đồ này còn giúp giáo viên khai thác triệt để các kiến thức có
trong nội dung bài học, học sinh có thể quan sát được các đòa danh có di sản thiên
nhiên thế giới ( Vònh Hạ Long, Động Phong Nha) di sản văn hóa thế giới ( Cố Đô
Huế, Di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An ), các phong cảnh, bãi tắm đẹp, các vườn
quốc gia, các công trình kiến trúc, di tích lòch sử, lễ hội truyền thống, làng nghề
truyền thống, văn hóa dân gian…thông qua các kí hiệu được biểu hiện trên bản đồ.
 Cuối cùng giáo viên có thể kết luận du lòch ngày càng khẳng đònh vò thế của
mình trong cơ cấu kinh tế cả nước, đem lại nguồn thu nhập lớn, góp phần mở rộng
giao lưu giữa nước ta với các nước trên thế giới và đồng thời cải thiện đời sống
nhân dân.
Bản đồ sẽ giúp các em tự phân tích, nhận xét, từ đó trả lời một cách chính xác
đầy đủ các câu hỏi của giáo viên. Giúp các em phát triển tư duy nghe, nhìn, suy
nghó, đối chiếu và so sánh các sự vật hiện tượng đòa lý. Lớp học sẽ sinh động nhờ
có sự tham gia của thầy và trò. Phù hợp với phương pháp mới “ Lấy học sinh làm

trung tâm “


b/ Thực hiện :
 Giáo viên tiến hành đầy đủ các bước lên lớp như qui đònh và chúng ta sẽ
củng cố từng phần.
 Khi vào bài mới, giáo viên sẽ gọi học sinh cho biết hôm nay sẽ học bài mấy,
tên bài học mới là gì? Sau đó học sinh sẽ tự ghi tựa bài vào tập. Có như thế
các em sẽ tập trung ngay từ đầu.
 Trong quá trình giảng dạy một vấn đề mới, giáo viên phải kết hợ p phương
pháp vấn đáp và cho học sinh phân tích, giải thích trên bản đồ. Có thể cho
các em đứng tại chỗ nhìn bản đồ phân tích hoặc gọi lên chỉ bản đồ tùy từng
trường hợp cụ thể.
 Khi cho học sinh lên chỉ bản đồ hoặc mô hình phải gọi ít nhất 2 học sinh,
giáo viên theo dõi kỹ để kòp thời uốn nắn những lỗi sai của học sinh, giúp
các em hoàn thiện hơn kỹ năng chỉ bản đồ.
Với những vấn đề có tính phức tạp, giáo viên gọi học sinh củng cố lại kiến thức
vừa tiếp thu và kỹ năng bản đồ, kết hợp với bản đồ câm ( nếu cần ) để kiểm tra,
đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh.
 Cần kết hợp hài hòa giữa việc quan sát, phân tích bản đồ treo tường với bản
đồ trong sách giáo khoa vì điều này là cơ sở rèn luyện kỹ năng bản đồ cho học
sinh trong thời gian học bài, chuẩn bò bài ở nhà.
 Cuối giờ học giáo viên dành thời gian dặn dò học sinh, có 2 phần cần chú ý :
+ Câu hỏi trọng tâm bài cũ có kết hợp với việc phân tích lược đồ sách giáo
khoa hoặc bản đồ.
+ Câu hỏi chuẩn bò bài mới có kết hợp lược đồ, bản đồ chủ yếu hướng học
sinh vào mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố Đòa lý.
c/ Kết luận :
Trong một tiết Đòa lý phương pháp trực quan không thể thiếu được. Dùng
phương pháp trực quan không khỏe hơn cho giáo viên vì phải tính toán, cân nhắc
kỹ, giáo viên phải nắm rõ vấn đề, kiến thức phải chắc chắn, nhưng học sinh sẽ
hiểu rõ bài và nắm bài sâu hơn.

tị ơ
ệp ủa D N s ớ ả ớ ?
Bảng 1 : Giá trị sản xuất cơng nghiệp của DHNTB và của cả nước thời kì 1995 2002 ( nghìn tỉ đồng ).
Năm
Dun Hải NTB
Cả nước

1995

2000

2002

5.6

10.8

14.7

103.4

168.3

261.1

Giáo viên u cầu học sinh phân tích bảng số liệu, tính xem giá trị sản xuất cơng
nghiệp của Dun Hải NTB và cả nước tăng gấp mấy lần từ 1995 đến 2002, so sánh
giá trị cơng nghiệp của vùng chiếm khoảng bao nhiêu % so với cả nước. Từ đó có thể
rút ra kết luận giá trị sản xuất cơng nghiệp của vùng còn thấp so với các vùng khác
của cả nước. Việc này mất thời gian khơng nhiều nhưng để cho học sinh thấy rằng

Chuyển bảng số liệu thành biểu đồ và rút ra nhận xét, giải thích. Đây là kó
năng đòa lý cơ bản đối học sinh lớp 9 trong chương trình môn Đòa lý. Trong nhiều
bài học ở SGK Đòa lý 9 đều yêu cầu học sinh thành thạo kó năng vẽ biểu đồ từ
bảng số liệu đã cho và rút ra nhận xét từ biểu đồ đã vẽ. Do đó giáo viên cần
hướng dẫn các em thành thạo các thao tác để vẽ được tất cả các loại biểu đồ trong
chương trình và nêu cách nhận xét, giải thích từ biểu đồ đã vẽ cùng với bảng số
liệu đã cho.
Ví dụ: Cho bảng số liệu sau:
Bảng3: Diện tích gieo trồng, phân theo nhóm cây ( nghìn ha)
Năm
1990
2002
Các nhóm cây
Tổng số
9040,0
12831,4
Cây lương thực
6474,6
8320,3
Cây công nghiệp
1199,3
2337,3
Cây thực phẩm, cây ăn quả và cây khác
1366,1
2173,8
a) Hãy vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây. Biểu đồ
năm 1990 có bán kính là 20mm; biểu đồ năm 2002 có bán kính là 24mm?
b) Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ, hãy nhận xét sự thay đổi quy mô diện tích
và tỉ trọng diện tích gieo trồng của các nhóm cây?
Đối với bài tập này, trước hết giáo viên yêu cầu học sinh đọc đề bài nêu cho

Cây ăn quả, cây thực phẩm, cây
khác

Năm 1990

Năm 2002

Năm 1990

Năm 2002

100,0
71,6
13,3
15,1

100,0
64,9
18,2
16,9

360
258
48
54

360
233
66
61

ạ â ăm 1990
ăm 2002( %)
Sau khi vẽ xong biểu đồ giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét sự thay đổi
quy mô diện tích và tỷ trọng diện tích gieo trồng của các nhóm cây dựa vào bảng
số liệu và biểu đồ đã vẽ.
b/ Các sơ đồ :
Các sơ đồ trong sách giáo khoa Đòa lý cung cấp cho học sinh những kiến thức
về cơ cấu của một số đối tượng kinh tế như hệ thống cơ sở vật chất – kó thuật trong
nông nghiệp, vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển của
một số ngành công nghiệp trọng điểm, hệ thống giao thông vận tải của nước ta…
Thông qua phân tích các sơ đồ rèn luyện cho học sinh kó năng đọ c, phân tích sơ đồ
và lập sơ đồ dựa vào nội dung bài học.
Các sơ đồ được sử dụng trong nhiều khâu khác nhau của bài học Đòa lý như
kiểm tra kiến thức cũ đầu tiết học, đònh hướng nhận thức của học sinh lúc mở đầu
bài học, giảng bài mới, củng cố bài học, ra bài tập về nhà cho học sinh…Việc sử
dụng sơ đồ trong SGK có thể được tiến hành bằng nhiều cách khác nhau. Giáo
viên có thể yêu cầu học sinh quan sát và đọc các yêu cầu của SGK để nêu các đối
Qun

10


gi

tượng được thể hiện trong sơ đồ từ đó phân tích, rút ra kết luận, nắm kiến thức cơ
bản của nội dung bài học.
Ví dụ : Dựa vào sơ đồ cắt ngang của vùng biển Việt Nam, hãy nêu giới hạn từng
bộä phận của vùng biển nước ta ?

Đất liền

…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
…………
Giáo viên …………
hướng dẫn học…………
sinh khám phá
các mối liện…………
hệ, song song với việc hồn
…………
…………
………….
…………
thành sơ đồ. Đây là hình thức dạy học có sự tham gia tích cực của học sinh. Bằng

….

phương pháp dạy học giảng giải, nêu vấn đề, thảo luận nhóm…hình thành sơ đồ

Khó khăn

c/ Các lược đồ:
Lược đồ có vai trò, ý nghóa quan trọng trong dạy học Đòa lý, là kiến thức, là
cuốn SGK thứ hai, là phương tiện dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Từ
lược đồ có thể bồi dưỡng thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh.
Do đặc điểm của đối tượng, sự vật đòa lý được trải rộng ra trong không gian,
giáo viên không thể hướng dẫn học sinh đến từng nơi được. Vì vậy, dạy học Đòa lý
không thể không có lược đồ. Trong mỗi lược đồ đòa lý đều chứa đựng những kiến
thức thông qua các kí hiệu, ước hiệu. Dựa vào lược đồ, giáo viên có thể nêu ra
những vấn đề cho học sinh suy nghó, nhận thức, phát triển tư duy đòa lý và khai
thác dựa trên cơ sở lược đồ.
Trước khi khai thác kiến thức từ lược đồ, giáo viên hướng dẫn học sinh nêu
rõ nội dung của lược đồ là gì và đọc bảng chú giải để biết cách thể hiện nội dung
của lược đồ. Giáo viên có thể tổ chức học sinh làm việc với lược đồ bằng nhiều
cách khác nhau.
Dựa vào lược đồ học sinh xác đònh vò trí các đối tượng đòa lý kinh tế trên
lược đồ, điều này rèn luyện cho học sinh kó năng chỉ lược đồ.
Ví dụ : Dựa vào Hình 6.2 SGK Địa lý 9 “ lược đồ các vùng kinh tế và vùng kinh
tế trọng điểm” hãy xác đònh các vùng kinh tế của nước ta, phạm vi lãnh thổ các
vùng kinh tế trọng điểm. Kể tên các vùng kinh tế giáp biển, vùng kinh tế không
giáp biển? Qua lược đồ học sinh có thể xác đònh được nước ta có 7 vùng kinh tế
đó là: Trung du và miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long. Trong đó duy nhất chỉ có vùng Tây Nguyên là không giáp biển và các vùng
Qun

12


kiến thức quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.
Các tranh ảnh trong SGK Đòa lý 9 phần “ Đòa lý kinh tế Việt Nam” chủ yếu
là các ảnh minh học cho kiến thức, có vai trò cung cấp cho học sinh những kiến
thức về tình hình hoạt động sản xuất như hệ thống kênh mương nội đồng đã được
kiên cố hoá, thu hoạch lúa bằng máy ở Đồng bằng sông Cửu Long, mô hình kinh tế
trang trại nông – lâm kết hợp, chế biến cá tra xuất khẩu, các trung tâm thương
mại… Qua đó, rèn luyện cho học sinh kó năng phân tích và nhận xét tranh ảnh.
Việc hướng dẫn học sinh sử dụng và khai thác kiến thức về tranh ảnh đòa lý được
tiến hành theo các bước như sau:
 Trước hết giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc tên bức tranh hoặc ảnh, nhìn
bao quát xem nội dung của bức tranh là gì? Đối tượng đòa lý nào được biểu hiện?
Từ đó hướng dẫn học sinh dựa vào kiến thức đòa lý đã học kết hợp với bản đồ, lược
đồ… giải thích, chứng minh các đặc điểm, thuộc tính sự phân bố của các đối tượng
đòa lý đó.
 Nội dung các bức tranh dùng để chứng minh một vấn đề kinh tế mà nội dung
bài học đề cập đến để học sinh nắm vững vấn đề đó.

Qun

13


gi

Ví dụ : Khi dạy bài 4 “ Lao động việc làm và chất lượng cuộc sống “ để chứng
minh cho chất lượng cuộc sống mỗi vùng khác nhau, giáo viên yêu cầu học sinh
quan sát Hình 4.1 “ Cấp phát màn chống muỗi cho đồng bào miền núi “, bức tranh
đã phản ánh chất lượng cuộc sống của dân cư còn nhiều chênh lệch giữa thành thị,
nơng thơn, giữa vùng đồng bằng và miền núi, giữa các tầng lớp trong xã hội.
Qua đó, các em thấy rằng cần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên mọi

trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới. Qua đó giáo viên giáo dục cho học sinh lòng
u q hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc. Từ đó xây dựng ý thức gìn giữ, phát
huy các danh lam thắng cảnh của đất nước.
Hoặc các tranh khác trong SGK. Ví dụ giáo viên cho học sinh quan sát Hình
18.2 SGK trang 67 : “ Đập t ủ đ ệ òa
t
sơ Đà “.Giáo viên đặt câu hỏi:
Hãy nêu ý nghĩa của thủy điện Hòa Bình ? Cung cấp điện năng, điều tiết nước, ni
trồng thủy sản, du lịch, điều hòa khí hậu địa phương.
Qun

14


gi

Kênh hình còn được xem là công cụ hoạt động trí tuệ của học sinh, góp phần
nâng cao năng lực tư duy của học sinh. Thực hiện các nhiệm vụ do giáo viên yêu cầu
trên cơ sở quan sát, phân tích hình ảnh buộc học sinh phải s dụng các thao tác tư
duy. Đó là một trong những cơ hội để học sinh rèn luyện và phát triển tư duy.
Ví dụ : Khi cho các em quan sát tranh 17.2 “ Ruộ bậ t a ở m ề
ắ bộ “.
Qua bức ảnh này học sinh có thể hiểu được vai trò của ruộng bậc thang ở miền núi có
tác dụng làm giảm đồi trọc, chống xói mòn đất, đem lại hiểu quả kinh tế cao.
Kênh hình còn là cơ sở quan trọng để học sinh rèn luyện các kĩ năng địa lý
nhất định như kỹ năng quan sát, phân tích, nhận xét, khai thác các kiến thức chứa
đựng trong kênh hình…và đưa ra các mối liên hệ nhân quả.
Tuy nhiên, chúng ta không nên lầm tưởng kênh hình chiếm vị trí trung tâm, chi
phối mọi hoạt động của thầy và trò. Mà trong quá trình dạy học cả kênh hình và kênh
chữ đều là hai kênh truyền tin đồng thời giúp các em nhận biết các đối tượng địa lý


gi

Trong quá trình giảng dạy Địa lí 7, có thể áp dụng kỹ thuật “mảnh ghép” vào
các bài sau:
Tiết
học
Tiết 2

Bài học
Bài 2

Tiết 3

Bài 3

Tiết 6
Tiết 7

Bài 6
Bài 7

Tiết 8

Bài 9

Tiết 14 Bài 13
Tiết 18 Bài 17
Tiết 19 Bài 18


Thực hành: Nhận biết đặc Mục 1: Xác định các biểu đồ
điểm môi trường đới ôn hòa tương quan nhiệt ẩm của đới
ôn hòa.
Môi trường hoang mạc
Mục 1: Đặc điểm của môi
trường
Kinh tế châu Phi
Mục 1: Nông Nghiệp
Các khu vực châu phi
Mục 2: Khu vực Trung Phi
Thực hành: So sánh nền Mục 2: So sánh nền kinh tế
kinh tế của ba khu vực châu của 3 khu vực
Phi
Thiên nhiên Bắc Mĩ
Mục 1: Các khu vực địa hình
Thiên nhiên Trung và Nam Mục 1b: Khu vực Nam Mĩ

Kinh tế Trung và Nam Mĩ
Mục 1a: Các hình thức sở hữu
trong nông nghiệp
Thiên nhiên châu Đại Mục 2: Khí hậu thực vật và
Dương
động vật
Thiên nhiên châu Âu (tiếp)
Mục 3: Các môi trường tự
Tên bài

Quyên

16

nhiên và con người?
+ Nhóm chẵn: tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm nước biển? Hậu quả?
Phiếu học tập số 1a (nhóm lẻ)

Phiếu học tập số 1b (nhóm chẵn)
Ô NHIỄM NƯỚC MẶN
..............................................
Nguyên ............................................
nhân
.............................................

Ô NHIỄM NƯỚC NGỌT
............................................
Nguyên ...........................................
nhân ...........................................

..............................................
.............................................
Hậu quả .............................................

............................................
...........................................
Hậu quả
...........................................

Quyên

17



- Ảnh hưởng xấu đến - Ảnh hưởng xấu đến ngành nuôi trồng
ngành nuôi trồng thuỷ sản
hải sản, huỷ hoại cân bằng sinh thái.

- GV chuẩn kiến thức bổ xung thêm kiến thức:
+ Thủy triều đỏ: Do dư thừa lượng đạm và Nitơ nước thải sinh hoạt, phân bón hóa
học đối với loài tảo đỏ chứa chất độc phát triển nhanh chiếm hết lượng khí oxi trong
nước khiến cho cả hệ sinh thái biển vùng c a sông, ven bờ chết hàng loạt, gây cản trở
giao thông, ảnh hưởng đến hệ sinh thái . Ô nhiễm nặng vùng ven bờ.
+ Thủy triều đen: Sự ô nhiễm dầu mỏ nghiêm trọng nhất cho biển về môi trường.
Màng váng dầu ngăn cản việc tiếp xúc giữa nước và không khí làm cho thức ăn của
động vật bị suy giảm. Váng dầu cùng 1 số chất độc khác hòa tan vào trong nước lắng
xuống sâu gây hại cho hệ sinh thái đáy biển, hủy diệt sự sống trên biển và ven biển.
Qua áp dụng kỹ thuật mảnh ghép trong chương trình Địa lí 7 có thể thấy rõ kỹ thuật
này tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú, học sinh được tham gia vào các nhiệm vụ
khác nhau và các mức độ yêu cầu khác nhau. Trong kỹ thuật mảnh ghép đòi hỏi học
sinh phải tích cực nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thành vai
trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Thông qua hoạt động này hình thành ở học sinh
tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong học
tập. Đồng thời hình thành ở học sinh các kỹ năng giao tiếp, trình bày, hợp tác, giải
quyết vấn đề…
Tuy nhiên để hoạt động nhóm có hiệu quả giáo viên cần hình thành ở học sinh
thói quen học tập hợp tác và những kỹ năng xã hội, tính chủ động, tinh thần trách
nhiệm trong học tập. Cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp. Từ đó xác định một
nhiệm vụ phức hợp để giải quyết ở vòng 2 dựa trên kết quả các nhiệm vụ khác nhau
Quyên

18



Bài
học

Tên bài

Tên mục

Nội dung thảo luận

Tiết 9 Bài
10

Dân số và sức ép
dân số tới tài
nguyên,
môi
trường ở đới nóng

Tiết
10

Bài
11

Di dân và sự bùng Mục 2: Đô thị Những tác động xấu tới môi
nổ đô thị ở đới hóa
trường do đô thị hóa tự phát
nóng
gây ra?


Hoạt động kinh tế Mục 2: Hoang Nêu các biện pháp nhằm hạn
của con người ở mạc đang ngày chế sự phát triển của hoang
hoang mạc
càng mở rộng mạc?

Tiết
32

Bài
31

Kinh tế châu Phi Mục 4: Đô thị Nêu những vấn đề kinh tế xã
(tiếp theo)
hóa
hội nảy sinh do sự bùng nổ
dân số đô thị ở châu Phi?

* Ví dụ cụ thể: T ế 18 –

17: Ô

ễm mô

ư

ở ớ ô

ò

(Phần liên hệ thực tiễn địa phương)

5

- Sau thời gian 5 phút, đại diện các nhóm lên trình bày kết quả. Các nhóm khác tham
gia phản hồi góp ý kiến, giáo viên nhận xét, kết luận.
5.4 Nhận xét:
Qua áp dụng kỹ thuật khăn trải bàn trong chương trình địa lí 7 có thể rút ra
một số nhận xét như sau:
Kỹ thuật “khăn phủ bàn” là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện, có thể tổ
chức trong tất cả các bài học. Kỹ thuật này khắc phục được những hạn chế của dạy
Quyên

20


gi

học theo nhóm: trong dạy học theo nhóm nếu tổ chức khơng tốt đơi khi chỉ có các
thành viên tích cực làm việc, các thành viên thụ động thường hay ỷ lại, trơng chờ,
khơng tích cực dẫn đến mất nhiều thời gian mà hiệu quả học tập khơng cao.
Trong kỹ thuật “khăn phủ bàn” đòi hỏi tất cả các thành viên phải làm việc cá
nhân, suy nghĩ, viết ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm. Như vậy có sự kết
hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. Từ đó các cuộc thảo luận thường có
sự tham gia của tất cả các thành viên và các thành viên có cơ hội chia sẻ ý kiến, kinh
nghiệm của mình, tự đánh giá và điều chỉnh nhận thức của mình một cách tích cực.
Nhờ vậy mà nâng cao hiệu quả học tập và phát triển các kỹ năng sống cho học sinh.
Tuy nhiên kỹ thuật này c ng có nhược điểm là nếu giáo viên khơng chú ý đơn
đốc học sinh tích cực làm việc trong hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm thì sẽ mất
nhiều thời gian trong giờ học.
Kỹ thuật này thích hợp nhất với những phòng học chức năng có bàn rộng đủ
để trải hết tờ giấy A0 cho các thành viên trong nhóm cùng viết ý kiến cá nhân. Đối


gi

học sinh, cũng như phụ huynh coi thường và xem nhẹ môn Đòa lý. Các em cho rằng
đây là môn phụ không cần thiết. Tư tưởng đó không chỉ có ở học sinh mà còn có cả
ở một số giáo viên. Quan điểm thiếu khoa học như thế đã làm cho các em học tập
không có chất lượng. Cần phê phán những suy nghó lệch lạc đó và giúp cho họ
nhận thức đúng đắn hơn về tầm quan trọng của môn Đòa lý trong trường phổ thông.
Thông qua việc tìm hiểu một số phương pháp như trên, tôi đã tìm ra một số
nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan dẫn đến học sinh học kém môn Đòa lý. Trên
cơ sở tìm ra những nguyên nhân, đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao chất
lượng giảng dạy cho mình.
Để học tập môn Đòa lý đạt kết quả tốt, người giáo viên phải biết xác đònh
và nắm vững đặc thù của bộ môn trên cơ sở nội dung, chức năng, nhiệm vụ của bộ
môn Đòa lý ở trường phổ thông. Từ đó xác đònh được kiến thức cơ bản, phương
pháp giảng dạy đặc trưng của bộ môn. Ngoài ra còn phải liên hệ thực tế, giáo dục
cho các em tình yêu thiên nhiên, niềm tự hào về quê hương, đất nước; nắm vững
được tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, để các em xác đònh được mục
đích của việc học tập và có phương hướng phấn đấu, góp phần xây dựng quê
hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Muốn được như vậy thì trước khi lên lớp, người giáo viên phải nghiên cứu
phương pháp giảng dạy, tham khảo tư liệu , chuẩn bò tranh ảnh ,bản đồ ,biểu đồ, số
liệu thống kê...còn đối với học sinh, các em cũng phải chuẩn bò kỹ bài ở nhà như :
học bài, làm câu hỏi và bài tập trong SGK, sưu tầm tư liệu tranh ảnh có liên quan
và nhất là phải chuẩn bò bài mới trước khi đến lớp: Đọc bài mới và kết hợp quan
sát lược đồ, tranh ảnh, biểu đồ và dự kiến trả lời các câu hỏi trong SGK.
Ngoài truyền đạt kiến thức, giáo viên còn phải chú ý giáo dục đạo đức cho
các em. Đồng chí Phạm Văn Đồng có nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất
trong các nghề cao quý”. Hoặc “ Người thầy giáo là kỹ sư tâm hồn”. Dạy học
là một nghề vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Do đó, bất cứ một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status