LỜI MỞ ĐẦU
Việt Bắc là vùng núi địa đầu Tổ quốc, theo địa danh trước đây gồm 6 tỉnh
Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang. Việt Bắc
có vị trí thuận lợi cho giao thông, liên lạc sang Trung Quốc, về Thủ đô và vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Từ xa xưa, Việt Bắc đã là vùng căn cứ chiến đấu của nhiều
phong trào yêu nước Việt Nam. Việt Bắc có nhân hoà, địa lợi. Với tầm nhìn xa
trông rộng của nhà chiến lược, Nguyễn Ái Quốc sớm nhận thấy và xây dựng
Việt Bắc làm căn cứ địa, trung tâm đầu não của phong trào cách mạng giải
phóng dân tộc. Từ khi Bác Hồ về nước đến 1945, tại Việt Bắc đã diễn ra nhiều
sự kiện quan trọng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ cuối tháng 1 năm 1941 đến cuối tháng 5 - 1945 là thời gian Bác Hồ từ
Pác Bó về Tân Trào chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám. Thời gian này Việt
Bắc được xây dựng thành căn cứ địa, quê hương giải phóng. Giữa năm 1945,
sau khi nghe báo cáo về nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, lãnh tụ Hồ
Chí Minh đã ra chỉ thị; "Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các
tỉnh: Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái, địa thế nối liền với nhau, nên lập
thành một khu căn cứ lấy tên là khu Giải phóng, thống nhất các lực lượng vũ
trang lại, đặt tên là Quân giải phóng".
Từ khi chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng, đến khi thành hình khu
giải phóng Việt Bắc, thời gian chỉ gần 4 năm, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
đã có nhiều đóng góp cực kỳ quan trọng cho phong trào cách mạng ở Việt Bắc
và cách mạng cả nước. Những thành công của phong trào cách mạng ở Việt Bắc
vừa là kết tinh truyền thống yêu nước, đoàn kết của các dân tộc ở đây, vừa thể
hiện tính đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về tiến hành khởi
nghĩavũ trang giành chính quyền cách mạng ở vùng núi cao, nhiều dân tộc nói
riêng và cả nước nói chung. Việt Bắc tự hào với địa danh căn cứ địa cách mạng,
tự hào có Bác Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ lôí, dẫn đường. Cả nước tôn vinh
Việt Bắc, nơi khởi nguồn của cách mạng giải phóng dân tộc Việt nam.
Nhân dân các dân tộc Việt Bắc theo lời dạy của "Già Thun, Ông Ké" cùng
toàn dân làm cách mạng giải phóng dân tộc. Việt Bắc được đồng bào cả nước
1
2
còn sử dụng một số tư liệu trong cuốn Kỷ yếu khoa học "Bác Hồ với nhân dân
các dân tộc tỉnh Cao Bằng" do Tỉnh uỷ Cao Bằng xuất bản năm 1995.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khoá luận kết cấu chia thành 2 chương:
Chương I: Nguyễn Ái Quốc chọn Cao bằng làm căn cứ địa cách mạng.
Chương II: Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Việt Bắc (1941 - 1945).
3
CHƯƠNG I
NGUYỄN ÁI QUỐC CHỌN CAO BẰNG LÀM CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG
1. Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trước khi về Cao Bằng (1890 - 1940)
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19 - 5 - 1890, trong một gia đình nhà nho yêu
nước nguồn gốc nông dân lao động, lúc còn nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, từ
thời niên thiếu, đã được giáo dục ý thức lao động, nếp sống trong sạch, giản dị
và đạo lý làm người. Quê hương của Người, bên dãy núi Hồng và dòng sông
Lam (Kim liên- Nam Đàn - Nghệ an). Đây là nơi đã sinh ra nhiều bậc vĩ nhân
tiêu biểu cho phẩm chất, tinh hoa văn hoá Việt nam và là một cái nôi của phong
trào yêu nước đương thời.
Những cảnh đồng bào bị hành hạ tàn nhẫn vì thiếu tiền nộp tô nộp thuế,
hoặc bị bắt đi phu làm đường và những gương hy sinh lẫm liệt của các chiến sỹ
Cần Vương ngay tại xóm làng đã khiến Nguyễn Sinh Cung căm hờn quân cướp
nước và bè lũ tay sai bán nước. Những buổi đàm luận về thời cuộc của các sỹ
phu yêu nước taị nhà cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh ra Người, hoặc
tại nhà cụ cử nhân Vương Thúc Quý, thầy học của Người, đã sớm khơi dậy cho
cường, vượt qua những thử thách của cảnh nghèo túng, Nguyễn Tất Thành trong
quá trình tìm đường cứu nước đã từ chủ nghĩa yêu nước hướng tới đỉnh cao trí
tuệ của thời đại là Chủ nghĩa Mác- Lê nin.
Năm 1918, Người vào Đảng xã hội Pháp vì Đảng này ủng hộ cuộc đấu
tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa. Đầu năm 1919, Người gửi bản Yêu sách
của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đến Hội nghị Véc xây (Pháp), ký tên là
Nguyễn Ái Quốc. Đây là tiếng nói chính nghĩa của đại biểu đầu tiên cho phong
trào giải phóng dân tộc Việt nam trên diễn đàn quốc tế.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản tức quốc tế III, bộ tham mưu cách
mạng của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới được thành
lập taị Mát- xcơ- va. Đây là một thắng lợi của phong trào cộng sản và công nhân
thế giới. Quốc tế cộng sản đóng vai trò to lớn trong việc vạch trần chủ nghĩa cơ
hội, xây dựng và củng cố các Đảng cộng sản, phát triển phong trào cách mạng
tren toàn thế giới.
Đại hội II QTCS (28/7/1920) thông qua "Sơ thảo lần thứ nhất những Luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I.Lênin. Báo Nhân Đạo của
Đảng cộng sản Pháp đã đăng toàn văn tác phẩm này.
Cũng như các đảng xã hội khác ở châu Âu lúc bấy giờ, trong Đảng xã hội
Pháp nổ ra cuộc tranh luận gay gắt: ra nhập Quốc tế III hay ở lại Quốc tế II?
Điều mà Nguyễn Ái Quốc muốn biết hơn cả-và cũng là điều mà người ta không
thảo luận tại các cuộc họp, là: Vậy quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước
thuộc địa? Trong một cuộc họp Nguyễn Aí Quốc đã nêu câu hỏi ấy lên. Có
người trả lời: đó là quốc tế III chứ không phải quốc tế II. Và một người nữa đưa
6
cho Nguyễn Ái Quốc đọc luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa. Lần đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc được đọc một tác phẩm của Lê-nin.
Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp họp tại Tua tháng 12 năm
có một Đảng cách mạng. Đảng đó phải theo chủ nghĩa Mác-Lê nin, phải được
xây dựng vững mạnh thống nhất, gan góc, không sự hy sinh. Người cách mạng
phải có tư cách, có đạo đức cách mạng, có lý luận cách mạng, có ý chí không sợ
gian khổ hy sinh.
Tư tưởng nổi bật nhất trong Đường cách Mệnh là tư tưởng chiến lược về
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng đó của Nguyễn Ái Quốc
thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác-Lê nin với thực tiễn cách
mạng nước ta, là ngọn cờ chỉ đạo cách mạng nước ta trong thời kỳ xúc tiến
chuẩn bị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Sau năm 1927, Nguyễn Ái Quốc trở lại Liên Xô, dự hội nghị chống đế
quốc ở Bỉ (12 - 1927), qua Đức, Thuỵ Sĩ, Italia rồi về Pháp. Mùa thu 1928,
Người trở về Xiêm hoạt động trong Việt kiều và liên hệ theo dõi phong trào
trong nước.
Cuối năm 1928 đến năm 1930 phong trào cách mạng trong nước lên cao.
Ba tổ chức cộng sản đầu tiên được thành lập ở ba kỳ: Đông Dương Cộng sản
Đảng (6-1929), An Nam cộng sản Đảng (11 - 1929), Đông Dương cộng sản liên
đoàn (01 - 1930). Theo sự uỷ nhiệm của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành
Đảng Cộng sản Việt nam (3 - 2 - 1930). Các văn kiện do Người soạn thảo như
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng đã được Hội
nghị thành lập Đảng thông qua và trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng Cộng sản Việt nam. Người đã ra Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, báo
cho toàn thể công nhân,nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và đồng bào bị
áp bức rằng Đảng Cộng sản Việt nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai
cấp vô sản. Đảng sẽ lãnh đạo cách mạng Việt nam đấu tranh giải phóng đồng
bào khỏi bị áp bức, bóc lột.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng thể hiện rõ những vấn đề cơ bản về
chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam. Con đường cách mạng Việt
Nam là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng XHCN.
Cuối năm 1938 Nguyễn Ái Quốc về Trung Quốc hoạt động. Sau Đại hội
VII, Quốc tế Cộng sản chuyển hướng lãnh đạo thành lập mặt trận nhân dân rộng
rãi chống phát xít; thực tiễn Đảng ta đã kịp thời chủ trương chỉ đạo chiến lược
9
trong thời kỳ này (1936 - 1939) với việc thành lập Mặt trận dân chủ Đông
Dương, mở rộng lực lượng và hình thức đấu tranh đã chứng minh tư tưởng Hồ
Chí Minh về việc đoàn kết mọi lực lượng tập trung mũi nhọn chống đế quốc là
hoàn toàn đúng đắn.
Trong suốt quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã phải làm nhiều
công việc lao động vất vả; trải qua nhiều nghề, có lúc bị đói rét, bị giam cầm;
Người đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế, tham gia Bát lộ quân Trung Quốc
v.v... Đặc điểm xuyên suốt của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình hoạt động ở
ngoài nước là Người luôn luôn tìm cách liên hệ với phong trào cách mạng Việt
Nam, đặt phong trào cách mạng Việt nam trong bối cảnh quốc tế và thường
xuyên tìm đường trở về Tổ quốc.
Hành trang tư tưởng và là thành công lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc trong
suốt 30 năm hoạt động ở nước ngoài là tìm ra con đường cứu nước giải phóng
dân tộc Việt Nam, chuẩn bị chu đáo về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thành
lập Đảng Cộng sản Việt nam và hình thành đội ngũ cán bộ nòng cốt cho phong
trào cách mạng Việt Nam.
2. Nguyễn Ái Quốc chọn và xây dựng căn cứ địa Cao Bằng.
Nghiên cứu kinh nghiệm cách mạng các nước, Nguyễn Ái Quốc đã nắm
vững được lý luận xây dựng căn cứ địa cách mạng ở vùng nông thôn, miền núi.
Từ đây có thể xây dựng các tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang,
phát triển và mở rộng ra khắp đất nước. Người cho rằng đó là những công việc
quan trọng và cần tiến hành trước hết.
Ngay từ năm 1928, khi viết tác phẩm "Công tác quân sự của Đảng trong
người trên thế giới. Ngày 20 - 6 - 1940, đang ở Côn Minh, nghe tin thủ đô Pa ri
của Pháp thất thủ, bị phát xít Đức chiếm đóng, Người nói: "Việc Pháp mất nước
là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về
nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng". Phát
xít Đức - Ý, Nhật đang tiến công ở khắp các chiến trường Châu Âu, Châu á và
Thái Bình Dương, nhưng Người vẫn cho rằng bọn phát xít cuối cùng sẽ thất bại,
cách mạng sẽ phát triển mạnh mẽ và thành công ở nhiều nước. Người chủ
trương chuyển hướng hoạt động của các lực lượng cách mạng về sát biên giới
Việt - Trung. Người chỉ thị cho các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh đến Quý
Dương cùng với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đi Quế Lâm,
về Nam Ninh gần biên giới Quảng Tây - Cao Bằng.
Tháng 9 - 1940, thực dân Pháp dâng Đông Dương cho Nhật, phát xít Nhật
kéo quân vào Đông Dương và ngày càng bị sa lầy ở Châu Á. Trước tình hình đó,
12
Người nhận định: Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương sẽ bắn nhau.
Việt Nam sẽ giành được độc lập. Nhận định đó của Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ thời
cơ cho dân tộc ta giành độc lập, tự do đã đến.
Cuối năm 1940, trước khi về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng
Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc bàn với một số đồng chí cách mạng Việt Nam đang
ở Trung Quốc: Lúc này vấn đề đoàn kết toàn dân để giải phóng dân tộc càng
quan trọng, ta phải nghĩ đến "việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có
tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? Việt Nam phản đế đồng
minh? Hay là Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho dễ
nhớ". Những ý kiến của Nguyễn Ái Quốc nói hồi đó, sau này được Hội nghị
Trung ương lần thứ tám(mở rộng) của Đảng họp ở lán Khuồi nặm ( Pác Bó)
thảo luận và quyết định thành lập Mặt trận Việt minh.
Người nói với đồng chí Lê Thiết Hùng: "Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng
nhiệm vụ chính trị. Nói chính trị quân sự đi đôi thì dễ, nhưng làm thì khó.
nam và lực lượng Đồng minh Đồng minh (13- 8-1942), Nguyễn Ái Quốc đã tiến
hành nhiều công việc quan trọng chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam.
Trong tháng 1 năm 1941, taị một địa điểm gần biên giới Việt -Trung,
Nguyễn Aí Quốc mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho công cuộc giải phóng.
Người trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn
Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh biên soạn tài liệu và giảng bài. Tài liệu của lớp
huấn luyện này về sau được in thành sách với nhan đề "con đường giải phóng".
Tác phẩm này đánh dấu bước phát triển hoàn chỉnh lý luận của Người về khởi
nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc ở Việt nam.
Cao Bằng là địa phương đầu tiên đã trực tiếp thể nghiệm tư tưởng Hồ Chí
Minh và thành công của phong trào cách mạng ở đây cũng chứng minh lý luận
cách mạng của Người là đúng. Những thắng lợi của phong trào cách mạng ở
Cao bằng đã trở thành căn cứ thực tiễn để Người hoàn thiện lý luận cách mạng
của mình. Phân tích đúng xu thế phát triển của tình hình thế giới và cách mạng
trong nước, Nguyễn Ái Quốc dự đoán, nhận định đúng con đường và bước ngoặt
đặc biệt của tình thế, đưa quần chúng tới cuộc đấu tranh quyết định cuối cùng.
Cuối tháng 4 - 1941, Nguyễn Ái Quốc yêu cầu triệu tập Hội nghị cán bộ
tỉnh Cao Bằng để rút kinh nghiệm qua việc tổ chức thí điểm Mặt trận Việt Minh
ở tỉnh. Hội nghị này được tổ chức tại Pác Bó do đồng chí Hoàng Văn Thụ chủ
trì. Những Châu có phong trào quần chúng tương đối mạnh như Hoà An, Hà
Quảng, Nguyên Bình đều có đại biểu dự hội nghị. Hội nghị đã nêu ra những
15
kinh nghiệm tiêu biểu trong xây dựng lực lượng cách mạng, củng cố khối toàn
dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh ở địa phương. Chủ trương thí điểm xây
dựng Mặt trận Việt Minh ở Cao Bằng của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa rất quan
trọng để phát triển phong trào cả nước. Tư tưởng toàn dân đoàn kết trong một
Mặt trận dân tộc thống nhất của Nguyễn Ái Quốc trở thành vấn đề chiến lược
của Đảng ta. Sau này tại Hội nghị Trung ương 8, Mặt trận Việt Minh đã chính
- Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc.
- Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp - Nhật,
mà đã sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.
- Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng đến cực điểm
vừa về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
Những điều kiện khách quan tiện lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương
như: Quân Trung Hoa đại thắng quân Nhật; cách mạng Pháp hay cách mạng
Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng,
cách mạng các nước thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Trung Hoa hay
quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương.
Chủ trương Hội nghị Trung ương 8 của Đảng đã có tác dụng quyết định
trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân tích cực tiến tới cuộc khởi nghĩa vũ
trang giành chính quyền.
Giữa năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức lớp huấn luyện chính trị quân
sự ngắn hạn cho cán bộ địa phương Việt Bắc và Người đã trực tiếp giảng bài.
Cũng dịp này Người cử 10 thanh niên Việt Bắc đi học vô tuyến điện ở Liễu
Châu (Trung Quốc).
Ngày 6 - 6 - 1941, Người viết thư kính cáo đồng bào: "Nay cơ hội giải
phóng đã đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể
cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Đế quốc Nhật đã bị sa lầy ở Trung Hoa, lại đương
gay go với Anh - Mỹ. Hiện thời muốn đánh Pháp - Nhật, ta chỉ cần một
điều:"Toàn dân đoàn kết".
Ngày 1 - 8 - 1941, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Báo Việt Nam độc lập là cơ
quan tuyên truyền của Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng. Mục đích đó của báo như
Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: "Tây cốt làm cho ta ngu hèn, báo Việt Nam độc lập
cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây,
đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do". Mặc dầu bận nhiều
17
Khoảng tháng 7 - 1942, sau khi đã có những tổng, xã Việt Minh ở Cao
Bằng, Nguyễn Ái Quốc chủ trương mở thêm đường liên lạc và mở rộng các lực
lượng, tổ chức Việt Minh về tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn và tuyến Cao Bằng Bắc Kạn, Thái Nguyên, tăng cường liên lạc giữa Pác Bó với Thường vụ Trung
ương Đảng. Nguyễn Ái Quốc và Tổng bộ Việt Minh chủ trương cho các đội du
kích đánh thông con đường Thái Nguyên - Tuyên Quang với miền lân cận.
Ngày 13 tháng 8 - 1942, với tên mới Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc nhân
danh đại biểu Việt Minh và Phân hội Quốc tế chống xâm lược của Việt Nam rời
Pác Bó đi Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng Việt Nam và lực
lượng Đồng Minh, để gặp Tưởng Giới Thạch và bà Tống Khánh Linh, Chủ tịch
Phân hội quốc tế chống xâm lược của Trung Quốc để bàn việc chống Nhật.
Nhưng khi Hồ Chí Minh mới đến xã Túc Vinh (27 - 8) cách huyện Đức Bảo
20km thì bị lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giữ. Nguyên nhân bị bắt
giữ, theo báo cáo của Trương Phát Khuê, Tư lệnh Đệ tứ chiến khu của Quốc dân
Đảng lúc đó là: Khi kiểm tra căn cước , tuần cảnh phát hiện ra rằng ngoài Chứng
minh thư của "Quốc tế phản xâm lược hiệp hội Việt Nam phân hội" ra, Hồ Chí
Minh còn mang theo thẻ hội viên đặc biệt của "Quốc tế tân văn xã", và "Giấy
thông hành quân dụng của văn phòng tư lệnh Đệ tứ chiến khu cấp. Tất cả giấy
tờ đều cấp năm 1940, đã quá thời hạn sử dụng. Chúng nghi là gián điệp nên đã
bắt giữ.
Suốt 14 tháng, bị quân Tưởng đầy ải qua 30 nhà tù. Với tinh thần lạc quan
cách mạng, Người viết tập thơ "Nhật ký trong tù", tố cáo chế độ hà khắc bất
công trong nhà tù của quân Tưởng; đồng thời thể hiện, tấm lòng nhân ái bao la
và sự kiên trì, quyết tâm rèn luyện, lạc quan tin tưởng của Người . Ngày 10 - 9 1943, Hồ Chí Minh được trả lại tự do nhưng vẫn bị quản chế. Gần một năm
sống trong điều kiện tự do bị hạn chế, Hồ Chí Minh đã có những hoạt động tích
cực cho mục đích chuyến đi. Người tham gia cải tổ Việt Nam cách mạng đồng
minh; tham dự Đại hội quốc tế chống xâm lược; dự Đại hội các đoàn thể cách
mạng hải ngoại của Việt Nam cách mạng Đồng minh hội; mở rộng quan hệ với
các chính khách và hoạt động xã hội của Trung Quốc.. Sau khi về nước, Hồ Chí
đường cái hiện nay, đi Ngườm Lầm, rẽ vào Yên Luật (xã Xuân Hoà). Đến gần
đền thờ Yên Luật, Hồ Chí Minh cùng đoàn nghỉ chân. Trong khi đó tiểu đội
trinh sát đi thăm dò đoạn đường Kéo Tác để vượt đèo sang xã Đào Ngạn (huyện
Hà Quảng). Ngày 5 tháng 5, Hồ Chí Minh rời Bản Nưa (Xã Đào Ngạn), đoàn
cán bộ đi qua Bó Hang - Lũng Mỏ, vượt đèo Phin Đeng đi Luống Nọi (xã Phủ
Ngọc), nghỉ uống nước tại nhà đồng chí Thế Hùng để trinh sát thăm dò quãng
đường phải vượt qua vì đường ô tô thường có giặc Nhật qua lại. Đến Vỏ
Nuống, theo đường mòn ven núi đến vùng núi đá Lam Sơn (Xã Hồng Việt,
huyện Hoà An).
Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 5 - 1945, tại Lam Sơn, Người nghỉ chân ở trạm
giao thông của Liên tỉnh uỷ và đến tối ngủ lại một nhà cơ sở quần chúng. Trong
những ngày đó Hồ Chí Minh làm việc với các cán bộ Trung ương và cán bộ của
Liên tỉnh uỷ Cao - Bắc - Lạng, bàn một số công việc cần thiết chuẩn bị khởi
nghĩa.
Ngày 9 - 5, Hồ Chí Minh rời Lam Sơn. Đi theo người có tiểu đội cận vệ
đặc biệt do Đặng Văn Cáp phụ trách. Đến trưa, Hồ Chí Minh đến xã Bình
Dương, ăn trưa ở Thin Tăng. Chiều, Người tiếp tục đi, gần tối đến bản Khuổi
Lẩy (thuộc xã Thịnh Vượng, châu Nguyên Bình, nay là xã Bình Dương, huyện
Hoà An). Cùng ngày, Người viết một số bức thư gửi Saclơ Phen và Bécna. Bức
25