căn cứ địa cách mạng ở trung trung bộ trong kháng chiến chống mỹ (1954-1975) - Pdf 25

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THÚY HIỀN
CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG
BỘ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
(1954 – 1975)
Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 13
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HUẾ, NĂM 2015
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Sư phạm Huế
Người hướng dẫn khoa học:
1: PGS.TS Trần Ngọc Long
2: PGS.TS Trương Công Huỳnh Kỳ
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận án cấp Đại
hoc Huế họp tại:……………………………………….
Vào hồi… giờ……ngày…….tháng ……năm
Có thể tìm đọc tại Thư viện………………….
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN
QUAN ĐÃ CÔNG BỐ
1. Trần Thúy Hiền (2011), “Căn cứ K20 trong kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 234.
2. Trần Thúy Hiền (2011), “Khu Sông Đà trong kháng chiến chống
Mỹ”, Tạp chí Khoa học và Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng, số 1.
3. Trần Thúy Hiền (2012), “Đấu tranh bảo vệ Căn cứ Trà Bồng
trong kháng chiến chống Mỹ (1959-1965)”, Tạp chí Khoa học và
Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, số 3.
4. Trần Thúy Hiền (2013), “Kế hoạch chống phá căn cứ địa kháng
chiến ở các tỉnh duyên hải Trung Trung Bộ của chính quyền Việt

(1945-1954).
Từ năm 1954 đến 1975, để chống lại cuộc chiến tranh
xâm lược của đế quốc Mỹ – một nước đế quốc mạnh nhất thế
giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng ta đã
tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng để giải phóng miền
Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Để hoàn thành
nhiệm vụ cách mạng to lớn này, ngoài việc xây dựng miền Bắc
1
thành hậu phương vững mạnh, thành căn cứ địa cách mạng của
cả nước, Đảng ta còn chủ trương xây dựng và phát triển hệ
thống căn cứ địa trên các địa bàn chiến lược ở miền Nam như
Trị Thiên, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ,
Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ… Do tác động của mục tiêu và
nhiệm vụ cách mạng đặt ra, cũng như các điều kiện tự nhiên,
kinh tế, chính trị, xã hội ở khu vực, vùng miền mà ở miền Nam
thời chống Mỹ có nhiều loại hình căn cứ địa với các quy mô
khác nhau. Mặt khác, các căn cứ địa cách mạng ở miền Nam
thời chống Mỹ có những điểm giống nhau nhưng cũng có
nhiều nét riêng do điều kiện lịch sử địa phương quy định.
Song, tất cả các căn cứ địa đã góp phần tạo ra tiềm lực to lớn
để quân và dân miền Nam đánh thắng các chiến lược chiến
tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.
Với vai trò và vị trí to lớn trên đây, vấn đề căn cứ địa trở
thành một phận hữu cơ của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền
Nam thời chống Mỹ. Đây là một đối tượng lịch sử cần được
nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò và vị trí của một phương thức
chiến tranh cách mạng, góp phần làm sáng tỏ đầy đủ về lịch sử
của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại do dân tộc ta
tiến hành. Vấn đề căn cứ địa thời chống Mỹ không chỉ cần và

V cũng như trong các công trình tổng kết lịch sử truyền thống
địa phương. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề Căn cứ địa cách
mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-
1975) sẽ mang lại nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Về ý nghĩa khoa học, luận án làm rõ quá trình hình
thành, phát triển, vai trò, vị trí, đặc điểm của căn cứ địa cách
mạng ở Trung Trung Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
cứu nước. Qua đó, bổ sung một số tư liệu làm rõ vai trò lãnh
đạo của các cấp ủy Đảng đối với vấn đề căn cứ địa; sự linh
hoạt, sáng tạo trong hoạt động tổ chức, xây dựng căn cứ địa
cách mạng ở các vùng miền. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
làm sáng tỏ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và chiến
lược xây dựng căn cứ địa đã được vận dụng một cách sáng tạo
vào thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Trung
Trung Bộ.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần bổ sung
kiến thức nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ,
3
cứu nước nói chung, đặc biệt là đối với Trung Trung Bộ nói
riêng.
Về ý nghĩa thực tiễn, từ những cứ liệu nghiên cứu để
bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm là một yêu cầu cần
thiết nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng thế trận
an ninh – quốc phòng trên địa bàn hiện nay. Kết quả nghiên
cứu của luận án cũng sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền
thống yêu nước và cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, là cơ
sở để trùng tu và bảo tồn các di tích căn cứ địa kháng chiến
thời chống Mỹ. Đây còn là nguồn tài liệu quý báu để nghiên
cứu và dạy học về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước ở các bậc học.

Bàn, Duy Xuyên, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, thị xã
Hội An và thành phố Đà Nẵng. Từ năm 1964 đến tháng 11-
1967, thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy V, thành phố Đà Nẵng
tách ra khỏi tỉnh Quảng Đà, gồm 3 quận: quận Nhất, quận Nhì
và quận Ba. Tháng 11-1967, trước cuộc Tổng tiến công và nổi
dậy Tết Mậu Thân, tỉnh Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp
nhất thành Đặc khu Quảng Đà. So với các tỉnh Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên, mặc dù Quảng Nam – Đà Nẵng là địa bàn
trải qua nhiều lần tách, nhập, song về cơ bản địa giới hành
chính của địa phương này không thay đổi. Do vậy, từ đây đến
khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung
Trung Bộ bao gồm: Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên.
Như vậy, về cơ bản địa bàn Trung Trung Bộ không có
sự thay đổi, chủ yếu vẫn bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà
Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
Về nội dung: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận
về căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng; những
yếu tố tác động đến quá trình phục hồi, xây dựng, bảo vệ và
phát huy vai trò căn cứ địa (điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư,
tình hình kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử; tình hình xây
dựng căn cứ địa trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống
Mỹ); những âm mưu, thủ đoạn đánh phá căn cứ của Mỹ và
chính quyền Việt Nam Cộng hòa; chủ trương của Đảng về xây
dựng căn cứ địa trong mỗi giai đoạn cách mạng; hoạt động xây
dựng căn cứ về các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa –
xã hội; các cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ; đặc điểm, vai trò và
5
một số bài học đúc rút từ quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ
địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ,

4. NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Nguồn tư liệu bao gồm:
- Các văn kiện: Hệ thống các văn kiện của Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam về
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
- Tác phẩm của các vị lãnh tụ và lãnh đạo: Tác phẩm
của Hồ Chí Minh, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội về
cách mạng giải phóng dân tộc, về cuộc kháng chiến chống Mỹ,
về căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng dân tộc.
- Tài liệu lưu trữ: Các tài liệu liên quan đến cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước hiện được lưu trữ ở Bộ Tư lệnh
Quân khu V; Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, thành phố Hồ Chí
Minh; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Viện Lịch sử Đảng;
Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
- Các công trình nghiên cứu đã công bố: Các công trình
nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Viện
Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Mác – Lênin, Viện Lịch sử
Đảng; Các chuyên khảo, bài viết, báo cáo khoa học đã được
công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong những năm gần
đây; Các công trình Lịch sử Đảng bộ, Lịch sử kháng chiến và
Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân địa phương các tỉnh, thành
phố, quận (huyện) trên địa bàn; Các luận án, luận văn về đề tài
căn cứ địa cách mạng đã được bảo vệ và xuất bản.
- Tài liệu khảo sát thực tế: Tài liệu khảo sát thực địa tại
các di tích căn cứ địa cách mạng trên địa bàn nghiên cứu.
- Các hồi ký cách mạng: Hồi ký và lời kể của các cán bộ
lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử sống và hoạt động ở
địa bàn Trung Trung Bộ.

Trung Trung Bộ (1954-1960)
Chương 3: Kết hợp xây dựng với bảo vệ và phát huy vai
trò căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ (1961-1975)
Chương 4: Đặc điểm, vai trò và bài học kinh nghiệm
8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Liên quan đến nội dung luận án có các nhóm công trình
sau:
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa
cách mạng nói chung
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa
cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ
1.1.3. Nhóm các công trình phản ánh trực tiếp hoạt
động xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung
Trung Bộ
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN KẾ THỪA TỪ CÁC
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ XUẤT BẢN
- Một là, phương pháp luận nghiên cứu vấn đề căn cứ
địa cách mạng: Nắm vững lý luận, khảo cứu tài liệu và tham
chiếu thực tế, so sánh giữa các vùng miền.
- Hai là, những vấn đề lý luận về căn cứ địa cách mạng
trong chiến tranh giải phóng dân tộc: Điều kiện xây dựng căn
cứ địa, việc lựa chọn địa bàn phù hợp, hoạt động xây dựng căn
cứ vững mạnh toàn diện, kết hợp hoạt động xây dựng và chiến
đấu bảo vệ, xây dựng căn cứ lòng dân.
-Ba là, hệ thống tư liệu về căn cứ địa cách mạng ở các
vùng miền khác nhau để có cái nhìn tổng quan, trên cơ sở đó
tiến hành so sánh, đối chiếu, tìm ra những đặc điểm riêng của

DỰNG, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ CĂN CỨ ĐỊA
CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
Trung Trung Bộ bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Địa bàn này có
những thuận lợi trong việc xây dựng căn cứ địa: vùng rừng núi
chiếm khoảng 3/4 diện tích, có thế liên hoàn nối liền với Tây
Nguyên và Lào, có hành lang chiến lược Bắc – Nam đi qua; có
tiềm năng kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng; cộng đồng cư
10
dân ở đây giàu truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường,
bền bỉ trong gian khó, cần cù trong lao động, đoàn kết trong
đấu tranh.
2.1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân
dân Trung Trung Bộ
Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, nhân dân
Trung Trung Bộ giàu truyền thống yêu nước, chống áp bức, bất
công, chống xâm lược. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược
Việt Nam lần thứ nhất, nhiều phong trào đấu tranh chống Pháp
đã nổ ra tiêu biểu như: phong trào Nghĩa hội ở Quảng Nam,
phong trào Ðông Du, phong trào Duy Tân, phong trào chống
thuế…
Trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám năm 1945,
Trung Trung Bộ là một trong những địa bàn tiến hành khởi
nghĩa giành chính quyền sớm trong cả nước.
2.1.3. Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong
quá trình vận động cách mạng Tháng Tám và kháng chiến
chống thực dân Pháp
Trước ngày Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945,
Trung Trung Bộ xây dựng các căn cứ ở Phú Túc, Ô Rây,

khu tập trung.
- Về kinh tế: Phong tỏa về kinh tế, độc quyền mua rẻ các
loại lâm thổ sản miền núi. Trong các cuộc hành quân càn quét,
địch ra sức cướp bóc, phá hoại tài sản của nhân dân.
2.2.2. Chủ trương của ta
Đối với hoạt động xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (mở rộng) năm 1959,
Nghị quyết Hội nghị Liên khu ủy V mở rộng (4-1960)… đã chỉ
rõ: Để bảo vệ các cơ quan đầu não và che giấu cán bộ, cần xây
dựng ở các địa phương những cơ sở an toàn và khu an toàn.
Khẩn trương xây dựng Tây Nguyên và miền Tây thành căn cứ
địa vững chắc, làm trở lực mạnh mẽ cho đồng bằng, tạo thế
chung cho cách mạng ở miền Nam.
12
2.2.3. Quá trình phục hồi căn cứ địa cách
mạng ở Trung Trung Bộ đáp ứng yêu cầu của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Từ năm 1954-1957, các địa phương Trung Trung Bộ
tích cực đẩy mạnh việc xây dựng, phục hồi các căn cứ: Khu
Sông Đà (Đà Nẵng), khu B1 (Quảng Nam); Vĩnh Thạnh (Bình
Định), Thồ Lồ (Phú Yên), Liên khu ủy V (Bến Hiên, Bến
Giằng, Quảng Nam) Trong những năm 1958-1960, ở miền
núi phía Tây Trung Trung Bộ các căn cứ địa được xây dựng,
củng cố và mở rộng:
- Căn cứ Nước Oa (hay Vườn Cam) thuộc xã Trà Tân,
huyện Bắc Trà My. Từ giữa năm 1960 đến năm 1973, Nước Oa
trở thành nơi đứng chân của Khu ủy và BTL Quân khu V.
- Căn cứ Nước Là (Mật khu Đỗ Xá), thuộc xã Trà Mai,
huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Căn cứ Nước Là là nơi
đứng chân của Liên Khu ủy – Ban Quân sự Khu V từ năm 1960

Lồ (Phú Yên) đã thất bại âm mưu dồn dân của Mỹ và chính
quyền Ngô Đình Diệm, bảo vệ vững chắc các căn cứ cách
mạng.
CHƯƠNG 3
KẾT HỢP XÂY DỰNG VỚI BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY
VAI TRÒ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG
TRUNG BỘ (1961-1975)
3.1. CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ
TRONG GIAI ĐOẠN CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN
TRANH ĐẶC BIỆT” (1961-1965)
3.1.1. Tiếp tục củng cố các căn cứ địa miền núi,
phát triển căn cứ địa ở vùng đồng bằng
Đến cuối năm 1965, tại các vùng giáp ranh và đồng
bằng, các căn cứ mới được xây dựng: K20, Sơn – Cẩm – Hà,
Triều Tiên, Đà Lạt, Liên Xô, Núi Bà, Hòn Chè, Vân Hòa, Đá
Bàn, Hòa Kiến không ngừng được củng cố, phát triển. Một
số căn cứ ven biển đồng thời là bến bãi tiếp nhận hàng vận
chuyển trên biển cũng được thành lập ở Vũng Rô (Phú Yên),
Lộ Diêu (Bình Định), Đạm Thủy (Quảng Ngãi).
14
3.1.2. Đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ địa
Trong giai đoạn 1961-1965, quân dân Trung Trung Bộ
đã đập tan các cuộc càn điển hình của địch: “Lam Sơn 7”,
“Lam Sơn 8”, “Bình Châu” đánh vào căn cứ Sơn – Cẩm – Hà,
“Chiến dịch quyết thắng 202” đánh vào căn cứ Mang Xinh,
chiến dịch “Dân thắng” đánh vào Căn cứ Vân Hòa…
3.2. CHỦ ĐỘNG XÂY DỰNG KẾT HỢP VỚI BẢO VỆ CĂN
CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG CHIẾN
LƯỢC “CHIẾN TRANH CỤC BỘ” (1965-1968)
3.2.1. Phát triển thực lực căn cứ địa cách mạng đáp

Sau Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, các căn cứ
địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đã nhanh chóng phục hồi, củng
cố thực lực về mọi mặt: sản xuất tự túc được đẩy mạnh; đời sống
văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ; các phong trào thi đua yêu nước
diễn ra sôi nổi; một số căn cứ mới được hình thành và mở rộng:
Khu A, Căn cứ Quế Tiên, Căn cứ lõm Bầu Bính, Chiến khu Tiên
Sơn, Căn cứ Tây Nam.
3.3.2. Đẩy mạnh phát triển thực lực căn cứ địa cách
mạng (1973-1975)
Từ sau Hiệp định Paris, căn cứ địa cách mạng ở Trung
Trung Bộ được củng cố, phát triển trên nhiều mặt quân sự,
chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội.
Với thực lực không ngừng được củng cố, phát triển, trong
mùa Xuân lịch sử năm 1975, quân dân căn cứ địa cách mạng ở
Trung Trung Bộ đã huy động cao độ sức người, sức của để đóng
góp cho sự nghiệp giải phóng quê nhà.
CHƯƠNG 4
ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
4.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG
Ở TRUNG TRUNG BỘ
4.1.1. Các căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
phong phú về loại hình, đa dạng về quy mô và hình thức tổ
chức
Việc xây dựng hệ thống căn cứ địa cách mạng với sự
phong phú về loại hình, đa dạng về quy mô và hình thức tổ
16
chức đồng thời tập trung chủ yếu ở địa bàn miền núi là một sự
lựa chọn sáng tạo, phù hợp với quy luật phát triển của cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc. Nhờ đó, quân dân Trung Trung
Bộ đã giải quyết được vấn đề đất đứng chân tương đối an

17
cạnh vấn đề về xây dựng LLVT, hệ thống bố phòng, chuẩn bị
nguồn hậu cần dự trữ tương đối dồi dào, cần triển khai thế trận
chiến tranh nhân dân rộng khắp để có thể bảo vệ căn cứ từ xa,
đồng thời đảm bảo hệ thống thông tin liên lạc với các căn cứ và
địa phương lân cận, kịp thời có sự hỗ trợ khi bị đánh phá.
4.2. VAI TRÒ CỦA CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG
TRUNG BỘ
4.2.1. Nơi đứng chân và hoạt động của các
cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy kháng chiến
của Khu V và các tỉnh trên địa bàn
Các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến của Khu V,
các tỉnh và các huyện ở Trung Trung Bộ đều đứng chân ở căn
cứ. Căn cứ địa cách mạng là nơi đảm bảo sự liên lạc và tiếp
nhận sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc; nơi diễn ra
nhiều hội nghị đề ra những chủ trương, quyết định quan trọng
của cuộc kháng chiến.
4.2.2. Là hậu phương tại chỗ, trực tiếp bảo đảm cung
cấp sức người, sức của cho các lực lượng kháng chiến; nơi
nhân dân gửi gắm niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp
cách mạng
Các căn cứ địa ở miền núi là nơi tổ chức sản xuất, đảm bảo
cung cấp một phần quan trọng nhu cầu về nhân lực, vật lực cho
kháng chiến. Ở vùng đồng bằng, các cơ sở chính trị, “căn cứ lõm” ở
đô thị tuy không phải là nơi trực tiếp sản xuất tự cấp, tự túc nhưng là
nơi tổ chức quyên góp ủng hộ kháng chiến của các tầng lớp nhân
dân trong vùng địch. Bên cạnh đó, căn cứ địa còn là chỗ dựa về
chính trị, tinh thần, là nơi để đồng bào các dân tộc hướng về
Đảng, Bác Hồ, củng cố niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp
cách mạng.

vệ căn cứ địa cách mạng
Tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân đã
thực sự phát huy vai trò trong việc đoàn kết, giáo dục, động viên
các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia hoạt động xây dựng và
bảo vệ căn cứ địa.
4.3.3. Tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, LLVT tại các căn cứ địa
đã chú trọng giải quyết các vấn đề: tôn trọng phong tục, tập
quán, tự do tín ngưỡng của đồng bào; tranh thủ lôi kéo các tầng
19
lớp bên trên người dân tộc và những người làm việc cho bộ
máy của địch ở thôn, xã; nâng cao đời sống mọi mặt cho đồng
bào; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc. Nhờ đó,
khối đoàn kết dân tộc được củng cố, căn cứ địa được bảo vệ
vững chắc.
4.3.4. Xây dựng căn cứ địa cách mạng vững mạnh
toàn diện; kết hợp xây dựng với bảo vệ, bảo vệ để xây dựng
Việc kết hợp xây dựng căn cứ với bảo vệ căn cứ phản
ánh quy luật chung của lịch sử dân tộc đó là dựng nước đi đôi
với giữ nước, xây dựng chế độ mới gắn liền với bảo vệ chế độ
mới.
4.3.5. Kết hợp đồng thời việc xây dựng căn cứ địa
cách mạng ở miền núi với xây dựng căn cứ du kích ở vùng
địch tạm chiếm, các cơ sở, “lõm chính trị” trong nội đô
Sự tồn tại của các loại hình căn cứ tạo thành mạng lưới
rộng rãi tồn tại đan xen trong thế cài răng lược giữa ta và địch
ở nhiều địa bàn. Điều này phản ảnh sự linh hoạt, sáng tạo của
quân dân trong hoạt động tổ chức xây dựng căn cứ địa cách
mạng ở Trung Trung Bộ.

dụng nhiều thủ đoạn chiến tranh vô cùng tàn khốc nhằm tiêu
diệt lực lượng cách mạng và triệt phá căn cứ địa nhưng với ý
chí cách mạng kiên cường và tinh thần bền bỉ đấu tranh, quân
và dân Trung Trung Bộ đã vượt qua nhiều gian nan, thử thách,
21
bảo vệ vững chắc và phát huy hiệu quả vai trò của hệ thống căn
cứ địa cách mạng, nỗ lực góp phần quan trọng cùng chiến
trường toàn Khu V từng bước làm thất bại các chiến lược chiến
tranh của đối phương.
2. Quá trình xây dựng và phát triển của các căn cứ địa
cách mạng ở Trung Trung Bộ diễn ra cam go, quyết liệt và liên
tục. Đó là quá trình đấu tranh toàn diện, bền bỉ, gian nan và
không tránh khỏi những bước quanh co, thậm chí tổn thất nhất
định. Song từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, các cán bộ, đảng
viên đã biết dựa vào nhân dân, phát huy truyền thống yêu nước
và tinh thần đoàn kết cộng đồng các dân tộc, gắn liền việc động
viên sự đóng góp của nhân dân với chăm lo bồi dưỡng, củng cố
sức dân. Để làm được điều này, các cấp ủy Đảng, chính quyền
ở các căn cứ địa thường xuyên thực hiện tốt công tác chính trị,
tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức của nhân dân về nhiệm
vụ, vai trò, ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
từ đó tích cực tham gia xây dựng căn cứ địa; đồng thời chú
trọng đẩy mạnh phát triển kinh tế, giáo dục, y tế… từng bước
cải thiện đời sống người dân, xây dựng những nền tảng ban
đầu của chế độ mới. Quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ địa
được tiến hành thường xuyên trên cơ sở lấy “căn cứ lòng dân”
làm nền tảng căn cứ vững chắc nhất. Trải qua quá trình hình
thành, phát triển và đứng vững qua nhiều thử thách ác liệt của
chiến tranh, căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong
kháng chiến chống Mỹ là biểu trưng cho tinh thần yêu nước, ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status