VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ (SISD)
TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ PHÁT TRIỂN (CRCD)
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KHẢO SÁT CƠ BẢN VỀ TÌNH HÌNH
NƯỚC VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TẠI 6 HUYỆN CỦA TỈNH BÌNH ĐỊNH
Năm 2010
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
NS&VSMT : Nước sạch và vệ sinh môi trường
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
PVS : Phỏng vấn sâu
TLN : Thảo luận nhóm
3
MỤC LỤC
A. GIỚI THIỆU ............................................................................................................6
B. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................................................7
I. CÁC TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU..................................................................................7
II. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN..............................................7
1. Chọn mẫu định lượng .................................................................................................7
2. Chọn mẫu định tính .....................................................................................................8
3. Thu thập thông tin thứ cấp .........................................................................................9
C. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU........................................................................................9
PHẦN I. ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ.......................9
I. CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG..........................................9
1. Các thể chế và quan hệ giữa các thể chế quản lý nhà nước về môi
trường ............................................................................................................................9
2. Nguồn nhân lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ............12
3. Công tác kiểm tra, giám sát về nước sạch và vệ sinh môi trường................12
4. Công tác lưu trữ và báo cáo định kỳ ..................................................................14
6. Mức nước sử dụng của hộ gia đình ...................................................................49
7. Đánh giá dịch vụ cung cấp nước máy cho hộ gia đình ...................................49
8. Nhận thức của người dân về lý do không sử dụng nước máy ......................53
9. Nhận thức của người dân ở những nơi chưa có nước máy ..........................53
III. RÁC VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG.........................................................................55
1. Thực trạng thu gom và xử lý rác thải, nước thải và vệ sinh môi trường
của các hộ dân cư......................................................................................................55
1.1. Tình hình xử lý rác thải của các hộ dân cư................................................55
1.2. Tình hình xử lý nước thải của các hộ dân cư............................................56
1.3. Các vấn đề khác về vệ sinh môi trường của các hộ dân cư...................57
2. Nhận thức của người dân về việc thu gom, xử lý rác, nước thải và vệ
sinh môi trường, dịch bệnh.......................................................................................58
2.1. Đánh giá của người dân về tình hình rác thải, nước thải và vệ
sinh môi trường nói chung....................................................................................58
2.2. Đánh giá ảnh hưởng của rác, nước thải và vệ sinh môi trường đối
với sức khỏe phân theo 6 huyện, 12 xã. ............................................................60
3. Đánh giá sự cần thiết về việc sử dụng các dịch vụ thu gom rác và
mức độ sẵn sàng tham gia của các hộ dân cư.....................................................60
3.1. Sự cần thiết của dịch vụ thu gom rác..........................................................60
3.2. Mức độ sẵn sàng tham gia dịch vụ thu gom rác của người dân ............61
4. Đánh giá dịch vụ thu gom rác thải hiện có tại vùng khảo sát......................62
4.1. Các dịch vụ thu gom rác hiện có tại địa phương.......................................62
4.2. Đánh giá của người dân trong vùng khảo sát về các dịch vụ hiện
có ..............................................................................................................................63
5
5. Công tác truyền thông và nâng cao nhận thức của người dân về vệ
sinh môi trường ..........................................................................................................65
5.1. Thực trạng công tác truyền thông tại các địa bàn khảo sát ....................65
5.2. Một số đề xuất về công tác tuyên truyền, vận động.................................66
PHẦN III: CÁC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH........................................................................68
A. GIỚI THIỆU
Bình Định là một trong những địa phương nghèo và có mật độ dân số cao. Mặc dù điều
kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng ở nông thôn đã được cải thiện đáng kể trong những năm
qua, đời sống của người dân vẫn còn nhiều khó khăn và đang đối mặt với nhiều thách
thức ngày càng tăng lên về môi trường. Nước sạch, xử lý chất thải rắn, nước thải… là
những vấn đề chính về môi trường ở nông thôn mà chính quyền và người dân đang rất
quan tâm hiện nay. Với 6 huyện trong vùng khảo sát thì trừ Tây Sơn là huyện trung du,
các huyện còn lại (Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, và An Nhơn) đều là những
huyện đồng bằng và huyện ven biển. Do vậy, nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nhiễm
mặn là khá phổ biến. Mặt khác, việc sử dụng bừa bãi các nguồn nước ngầm, và sự
nhiễm bẩn nguồn nước từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, và chất thải sinh hoạt của
dân cư với mật độ ngày càng cao… là những tác nhân chính làm cho môi trường bị ô
nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt và sức khỏe của người dân.
Mục đích chính của cuộc khảo sát này là:
1. Mô tả định lượng về tình trạng hiện nay của vùng dự án liên quan đến:
o Các vấn đề nước sinh hoạt, rác thải, nước thải, và vệ sinh môi trường;
o Mức độ cung ứng dịch vụ nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường hiện nay;
o Mức độ nhận thức về các vấn đề liên quan đến nước sinh hoạt và vệ sinh môi
trường;
o Khả năng và sự sẵn sàng của người dân trong việc chi trả cho các dịch vụ nước
sinh hoạt và vệ sinh môi trường đã được cải thiện.
2. Mô tả năng lực của các cơ quan nhà nước và các tổ chức cung ứng dịch vụ, gồm cả
các tổ chức tư nhân, trong công tác thực thi chương trình, dự án cũng như công tác
vận hành và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng của dự án.
3. Xây dựng các chỉ số cơ bản cho từng kết quả dự kiến của khung logic để làm cơ sở
sau này so sánh với các thành tựu mà dự án đạt được, bao gồm các chỉ số đối với
các cơ quan phụ trách về quy hoạch, thiết kế, thực thi các hệ thống cấp nước nông
thôn và các hệ thống quản lý rác thải rắn được tăng cường; và các chỉ số về nâng
cao nhận thức trong việc sử dụng nước ăn uống an toàn và bảo vệ nguồn nước cũng
như việc bảo vệ môi trường thông qua việc thu gom và xử lý chất thải rắn.
được chất lượng dịch vụ cung cấp nước sạch tập trung và thu gom rác ở nông thôn hiện
nay trong điều kiện mà số hộ gia đình có sử dụng các dịch vụ này chiếm tỷ trọng nhỏ.
Công tác chọn mẫu được thực hiện theo 2 giai đoạn.
Giai đoạn 1: Chọn điểm khảo sát (đơn vị chọn là xã/thị trấn). Mỗi huyện sẽ chọn 2 xã/thị
trấn. Mỗi xã/thị trấn sẽ chọn 2 thôn. Tổng cộng, có 24 thôn của 12 xã/thị trấn thuộc 6
huyện được chọn để khảo sát.
Bước 1: Chọn xã/thị trấn khảo sát với tiêu chí dựa vào tình trạng nguồn nước sử dụng
và xử lý rác thải hiện nay, mức độ cung ứng dịch vụ nước và xử lý rác thải: tốt, không tốt,
chưa có (đối với những điểm chưa có dịch vụ thì xác định thêm tiêu chí: cụm dân cư tập
trung, đường giao thông), và nhu cầu bức thiết. Quá trình lựa chọn xã/thị trấn được tham
vấn và thống nhất với lãnh đạo các địa phương, nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn
đặt ra hiện nay. Danh sách các xã/thị trấn được trình bày trong bảng 1.
8
Bước 2: Mỗi xã chọn 2 thôn với tiêu chí: (1) đối với xã có dịch vụ cung cấp nước sạch thì
chọn các thôn có dịch vụ; đối với xã chưa có dịch vụ thì chọn 1 thôn trung tâm xã và 1
thôn cách xa trung tâm xã. Danh sách 24 thôn khảo sát được trình bày trong bảng 2.
Giai đoạn 2: Chọn đơn vị điều tra. Mỗi thôn chọn 30 hộ gia đình (có sử dụng dịch vụ
nước máy hay không có dịch vụ tùy vào điều kiện của địa phương) để khảo sát bằng bản
hỏi định lượng. Tổng số hộ được khảo sát là 720 hộ gia đình gồm 2 nhóm. Nhóm 1 gồm
các hộ tại nơi có đường ống nước máy. Nhóm này gồm các hộ gia đình (i) có sử dụng
nước máy và có đồng hồ chính thức; (ii) có sử dụng nước máy nhưng không có đồng hồ
(những hộ sử dụng vòi công cộng); (iii) có đường ống nước máy nhưng không sử dụng
nước. (2) Nhóm 2 gồm những hộ tại nơi không có đường ống nước máy.
Bước 1: Làm việc với Ủy ban Nhân dân xã/thị trấn để lấy danh sách hộ gia đình 2 thôn
đã xác định ở giai đoạn 1.
Bước 2: Chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên hệ thống, xác định 30 hộ gia đình ở mỗi
thôn để khảo sát. Cách thức là lấy tổng số hộ gia đình có trong danh sách do cán bộ địa
phương cung cấp chia cho số hộ cần khảo sát, có được khoảng cách sau khi chia và lấy
khoảng cách đó làm bước nhảy để chọn hộ.
Kết quả chọn được 720 hộ gia đình ở 24 thôn, trong đó có khoảng 1/3 số hộ thuộc nhóm
C. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
PHẦN I. ĐỐI VỚI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ
I. CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG
1. Các thể chế và quan hệ giữa các thể chế quản lý nhà nước về môi trường
UBND tỉnh thống nhất chỉ đạo quản lý nhà nước tất cả các hoạt động liên quan đến quản
lý tài nguyên nước, môi trường, chất thải sinh hoạt và chất thải trong sản xuất trên địa
bàn tỉnh; đồng thời phân công, phân cấp chỉ đạo thực hiện cho các sở, ban, ngành, và
UBND cấp dưới.
o Sở Tài nguyên và Môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, có chức năng
tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên
và môi trường, bao gồm: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, địa chất, môi
trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và bản đồ, quản lý tổng hợp về biển và hải đảo; thực
hiện các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở. Chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định
được thực hiện theo Quyết định số 603/QĐ-UBND, ngày 19/08/2009 của UBND tỉnh. Chi
cục Bảo vệ môi trường, trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có chức năng giúp Sở
thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực môi trường trên địa bàn tỉnh.
Sở Tài nguyên và Môi trường giúp UBND tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý
nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh: chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến lược,
chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; chỉ đạo định kỳ tổ chức đánh
giá hiện trạng môi trường; tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường; chỉ đạo
công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát, xây dựng đồng bộ hệ thống các
văn bản pháp quy (pháp luật, quy phạm, quy chế) trong lĩnh vực quản lý tài nguyên nước
và chất thải rắn nhằm quản lý, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước; phòng chống,
10
khắc phục ô nhiễm môi trường; tổ chức lập và quản lý quy hoạch về tài nguyên nước,
cấp phép các dự án công trình khai thác tài nguyên nước theo thẩm quyền.
Chi cục Bảo vệ môi trường có chức năng tham mưu cho Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi
xử lý rác thải trên địa bàn; tổ chức quản lý quy hoạch cấp nước và quy hoạch tổng thể
quản lý chất thải rắn theo nội dung đã được phê duyệt;
Chỉ đạo các phòng chức năng, UBND các xã, thị trấn trực thuộc tổ chức thành lập các
đơn vị quản lý, vận hành công trình cấp nước tập trung và các đơn vị thu gom, xử lý chất
thải rắn đảm bảo hoạt động có hiểu quả.
11
Ở cấp huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn giúp UBND
huyện, thành phố thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
trên địa bàn huyện, thành phố theo quy định của pháp luật, chịu sự quản lý trực tiếp của
UBND huyện, thành phố; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ
của Sở Tài nguyên và Môi trường.
Phòng Tài nguyên và Môi trường giúp UBND cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn cấp huyện: Chỉ đạo, tổ chức
thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường; tổ chức
đăng ký và kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường; tuyên truyền, giáo dục
pháp luật về bảo vệ môi trường; chỉ đạo công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bảo vệ
môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định khác của
pháp luật có liên quan; thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
theo uỷ quyền của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh; chỉ đạo
công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của UBND cấp xã.
o Ủy ban Nhân dân xã, thị trấn
UBND cấp xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
tại địa phương theo quy định; bố trí cán bộ địa chính phụ trách về bảo vệ môi trường; có
trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương theo quy
định sau đây: Chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi quản lý của
mình; tổ chức vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ môi trường trong hương
ước của cộng đồng dân cư; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môi trường vào trong
việc đánh giá thôn, làng, khu phố và gia đình văn hóa; kiểm tra việc chấp hành pháp luật
chuyên môn có phần hạn chế. Đối với cấp xã hiện nay không có cán bộ đảm đương
nhiệm vụ này mà được giao cho cán bộ địa chính-xây dựng thực hiện. Vì vậy, công tác
thu thập số liệu và lưu trữ ở cấp cơ sở hiện nay còn rất thiếu và không có hệ thống.
“Đa số những cán bộ chuyên trách về lĩnh vực về nước và vệ sinh môi trường chưa qua
đào tạo chuyên môn (có tình trạng là một số cán bộ có kinh nghiệm quản lý thì lại hết
nhiệm kỳ và một người mới chưa có kinh nghiệm lên thay thế). Thỉnh thoảng có tập huấn
cho các chuyên viên kỹ thuật từ 5 – 10 ngày (nhưng cũng là do những người đi trước tập
huấn cho những người sau.). Do đó cần nâng cao năng lực cán bộ (TLN cán bộ huyện
Phù Mỹ, Bình Định, 2010);
“Phòng chỉ quản lý về mặt nhà nước, không quản lý trực tiếp mà chủ yếu kiêm nhiệm
không có cán bộ chuyên trách. Nguồn nhân lực hiện nay thiếu, không chuyên sâu. Công
tác phối hợp giữa các ngành không đồng đều cộng với nguồn nhân lực có trình độ chênh
lệch giữa các ban ngành nên sự thống nhất và thực thi không cao (PVS cán bộ quản lý
huyện Hoài Nhơn);
“Về chuyên môn 50% đạt yêu cầu, còn lại các ngành chưa phù hợp. Rất nhiều người lúng
túng khó khăn trong công việc, vì không có chuyên môn ngành môi trường. Hiện nay, có
1 kỹ sư xây dựng, 1 kiến trúc sư qui hoạch đô thị, 1 trung cấp giao thông, 1 cử nhân kinh
tế, 3 cao đẳng [điện, hóa nhiệt, chế tạo cơ khí], nên rất khó khăn trong thực hiện công tác
nước sạch và vệ sinh môi trường (PVS cán bộ quản lý huyện An Nhơn).
Hiện nay, nguồn nhân lực về lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn ở cơ sở
gặp rất nhiều khó khăn kể cả lĩnh vực quản lý nhà nước lẫn lực lượng thực hiện nhiệm
vụ. Một số đơn vị cấp nước cán bộ chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ chuyên
ngành. Vì thế, trong thời gian đến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Trung tâm
Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn) sẽ tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ quản
lý, vận hành cho lực lượng cán bộ, nhân viên kỹ thuật vận hành các công trình cấp nước
tập trung trên địa bàn tỉnh.
3. Công tác kiểm tra, giám sát về nước sạch và vệ sinh môi trường
Công tác kiểm tra, giám sát nước sạch và vệ sinh môi trường được thực hiện theo các
qui định hiện hành.
13
kỳ 6 tháng/1lần; ngoài ra tuỳ tình hình cụ thể, các cơ quan chức năng tổ chức đoàn kiểm
tra đột xuất đối với các cơ sở sản xuất, các cơ sở xử lý chất thải, các địa điểm bị ô nhiễm
để kịp thời có biện phát khắc phục nhằm hạn chế ô nhiễm.
Các nội dung cần kiểm tra, giám sát bao gồm:
- Kiểm tra tình trạng vệ sinh chung nguồn nước nguyên liệu: tường rào bảo vệ xung
quanh giếng khoan; các công trình xây dựng (kể cả công trình của nhà máy nước); các
đường ống cống, kênh mương, rãnh nước thải chạy qua; gia súc, gia cầm hoặc các loại
vật nuôi khác; rác thải, phân người, phân gia súc, xác súc vật; biển báo giới hạn khu vực
bảo vệ nguồn nước; bộ phận chắn rác...
14
- Kiểm tra quy trình xử lý nước bao gồm: bể, hồ chứa nước ban đầu; bộ phận khử sắt,
mangan (nếu có); bể keo tụ và lắng; bể lọc; hệ thống (bể) khử trùng; bể chứa sau xử lý;
hoá chất để xử lý nước (loại, tên, nguồn gốc, tình hình bảo quản, hạn sử dụng, cách sử
dụng, số lượng dự trữ); bộ phận pha chế hoá chất xử lý; kho hoá chất xử lý; thiết bị
phòng hộ khi có sự cố (đối với các nhà máy nước); bộ phận kiểm soát chất lượng nước;
- Kiểm tra các kết quả xét nghiệm chất lượng nước của nhà máy trong khoảng thời gian
từ lần kiểm tra trước đến thời điểm hiện tại và các hồ sơ lưu trữ liên quan đến chất lượng
nước;
- Kiểm tra chất lượng nước sinh hoạt: Thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN
02: 2009/BYT (kiểm tra về mặt hoá lý và vi sinh).
Việc kiểm tra giám sát được giao cho các cấp nào có thẩm quyền như sau:
- Ngành nông nghiệp (chỉ kiểm tra về cấp nước): Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn (Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn), UBND huyện, thành phố
(Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn/ Phòng Kinh tế);
- Ngành Tài nguyên, môi trường: Sở Tài nguyên và Môi trường (Chi cục Bảo vệ môi
trường), Phòng Tài nguyên và Môi trường.
- Ngành Y tế: Sở Y tế (Trung tâm Y tế Dự phòng), Phòng Y tế (Đội Y tế dự phòng);
- Ngành Khoa học, công nghệ: Sở Khoa học và Công nghệ (Trung tâm Phân tích và kiểm
nghiệm)
Trong những năm qua công tác triển khai giám sát về cấp nước và môi trường trên địa
bộ giữ liệu về tài nguyên môi trường trên địa bàn quản lý.
o Các loại tài liệu cần được lưu trữ và thời gian lưu trữ
- Dữ liệu về tài nguyên nước gồm: số lượng, chất lượng nước mặt, nước dưới đất; số
liệu điều tra khảo sát địa chất thủy văn; các dữ liệu về khai thác và sử dụng tài nguyên
nước; quy hoạch các lưu vực sông, quản lý, khai thác, bảo vệ các nguồn nước; kết quả
cấp, gia hạn, thu hồi, cho phép, trả lại giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên
nước; trám lấp giếng khoan; các dữ liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước.
- Dữ liệu về môi trường gồm: các kết quả điều tra, khảo sát về môi trường; dữ liệu, thông
tin về đa dạng sinh học; dữ liệu, thông tin về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá
tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; kết quả về giải quyết bồi thường thiệt
hại về môi trường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết; danh sách,
thông tin về các nguồn thải, chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; các khu vực bị
ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; danh
mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; kết quả điều tra, khảo sát về hiện
trạng môi trường, chất thải nguy hại, chất thải rắn thông thường; thông tin, dữ liệu quan
trắc môi trường được phép trao đổi; kết quả cấp, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép về
môi trường (bảng 6).
Đến nay, hầu hết các dữ liệu về tài nguyên môi trường đã được cập nhận lưu trữ theo
đúng quy định. Thông qua các ứng dụng công nghệ tin học vào công tác lưu trữ dữ liệu;
vì thế việc khai thác cập nhận dữ liệu thực hiện khá thuận lợi.
Tuy nhiên, vẫn còn một số lĩnh vực, đơn vị công tác lưu trữ chưa được chú trọng nhất là
ở cấp cơ sở, trang thiết bị phục vụ công tác lưu trữ còn thô sơ, không đáp ứng được yêu
cầu, cán bộ lưu trữ không có chuyên môn nghiệp vụ dẫn đến tình trạng tài liệu bị hư
hỏng, khả năng sử dụng bị hạn chế.
Ở cấp huyện, vì không có một cơ quan chuyên trách về tất cả những lĩnh vực liên quan
đến môi trường nên cũng gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước về môi trường ở cấp
cơ sở. Hiện trạng hiện nay là các phòng ban phụ trách tổ chức quản lý nước sạch và vệ
sinh môi trường mỗi huyện mỗi khác và nhiệm vụ được giao cũng không giống nhau dẫn
đến khó khăn trong việc cập nhật các số liệu định kỳ về các chương trình hiện đang hoạt
động tại địa phương, và khó thống nhất để xây dựng một bức tranh toàn cảnh về vấn đề
sạch và VSMT nông thôn, và nâng cao nhận thức cơ bản về NS&VSMT nông thôn.
Ở cấp huyện, Hoài Nhơn cũng có nhiều hoạt động tập huấn và truyền thông liên quan
đến triển khai thực hiện Bộ chỉ số NS&VSMT cũng như nâng cao nhận thức cho cán bộ
chính quyền, đoàn thể cấp cơ sở. Các hoạt động này cũng thu hút đền 3506 lượt người
tham gia. Phù Mỹ, An Nhơn, Tuy Phước cũng có các hoạt động tập huấn và truyền
thông, nhưng tập trung chủ yếu vào việc triển khai thực hiện Bộ chỉ số NS&VSMT nông
thôn, và thu hút ít người tham gia hơn. Các huyện khác cũng triển khai dạng hoạt động
này nhưng không có thông tin.
Ở cấp cơ sở, nguồn nhân lực làm về công tác tập huấn, tuyên truyền không có chuyên
môn về nước và vệ sinh môi trường. Kết quả các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy: Các hoạt
động tập huấn, tuyên truyền hiện nay theo kiểu phong trào hoặc tổ chức lồng ghép với
các chương trình khác. Đặc biệt ở cấp xã, các chương trình tập huấn, truyền thông còn
mờ nhạt và thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn sâu về nước và vệ sinh môi trường.
“Chưa có chương trình nào tuyên truyền về nước sạch cũng như rác thải và vệ sinh môi
trường nói chung. Thường thì khi có việc gì thì xã chỉ có vận động người dân thực hiện
sao cho hợp vệ sinh thôi, chứ chính ngay những người có trách nhiệm quản lý như chúng
17
tôi, cũng như các hội đoàn thể không có chuyên môn thì làm sao nói được. Cán bộ kiêm
nhiệm thôi chứ chưa có chuyên trách, chưa có cán bộ chuyên môn, chưa có bài bản
trong việc động viên, tuyên truyền (PVS cán bộ quản lý xã Cát Lâm, huyện Phù Cát); (ii)
Chưa có khóa tập huấn nào vệ sinh môi trường nào ở xã này, chưa ai đề cập đến vấn đề
vệ sinh môi trường cụ thể như nước sạch, rác và môi trường nói chung, chưa có tổ chức
tuyên truyền về môi trường. Đội ngũ tuyên truyền không có chuyên môn, chủ yếu là có
một anh ở lĩnh vực địa chính, đất đai làm kiêm luôn môi trường. Từ trước đến hiện nay
chưa có đợt nào được đi tập huấn về môi trường hết. Nếu như có chương trình nào về
môi trường cũng như nước sạch thì cần có những khóa tập huấn có nội dung cụ thể, kế
hoạch thực hiện như thế nào cho rõ ràng và có một khoản kinh phí thì xã đứng ra quản
lý tốt, và có thể phối hợp làm được, xã có thể đứng ra tuyên truyền vận động (PVS quản
lý xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ). “Đối với công tác tập huấn thì chưa có lần nào tập huấn
về vệ sinh môi trường, cũng chưa có tài liệu gì để tham khảo cho chính thức về vệ sinh
tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó còn có những chương trình hỗ trợ
18
khác như giải ngân cho vay vốn xoay vòng để làm nhà vệ sinh, nhà tắm. Những hộ gia
đình chưa có trong danh sách giải ngân thì có những quỹ tiết kiệm của Hội phụ nữ (5
triệu/ hộ). Năm 2008 đã thành lập Hội Bảo vệ môi trường. Có những chương trình tuyên
truyền về dùng các vật dụng chai lọ, vứt rác thải, dịch cúm gia cầm. Về vấn đề tổ chức
truyền thông, không phụ thuộc theo mức độ nào. Truyền thông nhóm nhỏ thì truyền
miệng, lớn thì mượn máy chiếu, thuê âm thanh). (TLN cán bộ huyện Phù Mỹ). “Các đoàn
thể, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân vận động tuyên truyền thường xuyên nhưng chỉ theo dạng
lồng ghép. Hằng năm huyện cũng có kinh phí tổ chức tập huấn cho các tuyên truyền viên
ở xã (tập huấn riêng, theo chuyên đề, 1 lần/năm). Tuy nhiên khi về đến thôn thì chỉ thực
hiện theo cách lồng ghép. Hội Phụ nữ nhận tài liệu từ Trung tâm Nước sạch rồi photo gửi
cho các cộng tác viên. Công tác viên sẽ dựa vào tài liệu để truyền đạt đến người dân.
Không có người có chuyên môn để phổ biến sâu cho người dân, vì vậy phải phối hợp với
các ban ngành. Năng lực tuyên truyền của cán bộ ở xã nghe 10 chỉ tuyên truyền 7. Theo
từng cấp thì nội dung tuyên truyền sẽ bị mất dần đi, không còn đầy đủ như ban đầu.”
(TLN cán bộ huyện Tuy Phước)
7. Kết quả thực hiện các chỉ số cơ bản về môi trường năm 2009
Bảng 8 trình bày các chỉ số cơ bản về nguồn nước và tỷ lệ hộ sử dụng năm 2009 phân
theo địa bàn. Đối với cấp độ tỉnh, có khoảng 18,6% số hộ nông thôn (kể cả các thị trấn)
sử dụng nước máy (đồng hồ riêng và công cộng), số còn lại chủ yếu là sử dụng nước
giếng đào và giếng khoan. Trong số này, có 80,1% số giếng đào và 86,4% số giếng
khoan hợp vệ sinh.
Kết quả cũng cho thấy sự phân bố các nguồn nước máy là rất khác nhau giữa 6 huyện
và 12 xã được khảo sát. Phù Mỹ, Tuy Phước, và An Nhơn là 3 huyện có số hộ sử dụng
nước máy bằng đồng hồ riêng cao hơn mức bình quân chung (tương ứng là 11,6%,
14,7%, và 15,5%). Tỷ lệ cao này không thuộc các xã được khảo sát vì cuộc khảo sát là
tập trung chủ yếu vào những địa bàn khó khăn về nguồn nước. Đối với giếng đào thì sự
chênh lệch về tỷ lệ nước hợp vệ sinh không lớn dù các vùng phía bắc và gần biển có tỷ
lệ thấp hơn. Tỷ lệ nước hợp vệ sinh ở giếng khoan cao hơn và khá đồng đều, trừ trường
tế huyện Phù Cát).
Về vấn đề vệ sinh, kết quả từ bảng 10 cho thấy, tính chung cho toàn bộ nông thôn của
tỉnh Bình Định, tỷ lệ hộ gia đình gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm 50,2%, trong đó
khoảng 28,5% là nhà tiêu tự hoại, 14,5% là nhà tiêu 2 ngăn. Điều này cũng có nghĩa là
khoảng 50% số hộ ở nông thôn không có nhà vệ sinh hoặc có nhà tiêu chưa hợp vệ sinh,
một tỷ lệ rất cao. Tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh cao nhất là ở huyện Hoài Nhơn, thị trấn
Phú Phong của huyện Tây Sơn, thị trấn Bình Định của huyện An Nhơn và xã Phước Lộc
của huyện Tuy Phước. Ngược lại, một số nơi như huyện Phù Cát, xã Vĩnh An của huyện
Tây Sơn có tỷ lệ hộ không có nhà tiêu hoặc nhà tiêu không hợp vệ sinh rất cao. Nhà tiêu
có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng sức khỏe và sự lây lan các loại bệnh liên quan đến
tiêu hóa. Do vậy, đây là một trong những chỉ báo quan trọng nhất về vệ sinh môi trường
mà một số địa phương chưa đạt cần nỗ lực trong thời gian tới.
Đối với các cơ quan, tổ chức, thì hầu hết đều có nhà tiêu, chủ yếu là nhà tiêu tự hoại,
nhưng vẫn còn một tỷ lệ nhỏ chưa có nhà tiêu (bảng 11). Tỷ lệ trường học ở huyện Phù
Mỹ không có nhà tiêu là rất cao (86 cơ sơ không có nhà tiêu, chiếm đến 44,6% trên tổng
số các cơ sở trường học của huyện). Một số chợ, cơ quan huyện vẫn chưa có nhà tiêu.
Hoài Nhơn và An Nhơn là hai huyện có các tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh cao nhất. Tuy
nhiên, do thông tin thu thập được về các chỉ số này từ một số huyện không đầy đủ nên
không thể so sánh một cách hệ thống vấn đề này. Dù vậy, các chợ và trường học vẫn là
nơi có tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh thấp hơn so với các cơ quan nhà nước. Sự thiếu hụt
thông tin ở một số huyện cho thấy công tác kiểm tra, thống kê và lưu trữ các chỉ số cơ
bản ở cấp huyện và xã là chưa tốt.
Nhìn chung, các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường trong các trường học,
trạm y tế và các cơ sở công cộng khác ở nông thôn mặc dù đã được quan tâm nhưng kết
quả đạt được còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế. Nhiều trường học còn thiếu các công
trình cấp nước và vệ sinh hoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu. Nếu so sánh kết
quả đạt được trên đây với các mục tiêu đề ra theo Quyết định số 104/QĐ-TTg ngày
25/08/2000 là “tất cả các nhà trẻ, trường học và các cơ sở giáo dục khác, các bệnh viện,
20
trạm xá, công sở, chợ ở nông thôn có đủ nước sạch và có đủ hố xí hợp vệ sinh”, thì chưa
Cát Tiến, huyện Phù Cát). “Xã có một chợ, tính ra một tháng có 5 lần nhóm chợ, mỗi lần
nhóm chợ có một người thu gom rác. Gần chợ có bãi đất trống nhỏ nhỏ, sau khi tan chợ
thì người gom rác đốt, hoặc chôn để làm sạch rác ở chợ.” (PVS cán bộ quản lý xã Mỹ
Châu, huyện Phù Mỹ). “Y tế xã có xử lý rác theo phân loại y tế, nghĩa là loại nào thuộc
rác y tế thì họ đốt rồi chôn lấp.” (PVS cán bộ quản lý xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ)
Mặc dù đạt được các chỉ tiêu cơ bản, công tác tổ chức quản lý thống nhất kết quả thực
hiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh chưa đồng bộ.
Hiện nay, việc triển khai đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường nông thôn trên địa bàn tỉnh do nhiều sở, ban, ngành, đơn vị cùng thực hiện. Vì
vậy, việc thu thập số liệu, quản lý, đánh giá chất lượng công trình gặp rất nhiều khó khăn.
21
Công tác quản lý, khai thác các công trình cấp nước tập trung sau đầu tư của các cấp
chính quyền, nhất là cấp huyện, cấp xã chưa thật sự được quan tâm đúng mức. Hầu hết
các công trình sau khi hoàn thành, bàn giao cho chính quyền cấp xã quản lý khai thác,
công nhân vận hành thiếu chuyên môn nghiệp vụ, các vật liệu phụ, hóa chất ít được bổ
sung, thay thế; quá trình quản lý, vận hành bị cắt giảm bớt công đoạn không tuân thủ quy
trình vận hành, dẫn đến chất lượng nước, chất lượng phục vụ ngày càng giảm; công
trình hoạt động không hiệu quả, công tác duy tu bảo dưỡng thực hiện chưa tốt, khá nhiều
công trình không phát huy được hiệu quả đầu tư.
Công tác chỉ đạo lồng ghép các chương trình, dự án trên cùng địa bàn chưa được quan
tâm thực hiện. Việc huy động các nguồn lực, các thành phần kinh tế và vốn trong nhân
dân vùng hưởng lợi để đầu tư mở rộng mạng cấp nước đến từng hộ gia đình còn chậm,
làm cho các dự án cấp nước tập trung chậm phát huy hiệu quả.
Công tác giáo dục truyền thông, vận động xã hội có vai trò rất quan trọng, nhưng sự
quan tâm chỉ đạo thực hiện lĩnh vực này còn nhiều hạn chế, cả về phương tiện truyền
thông và năng lực cán bộ.
Công tác xã hội hóa trong lĩnh vực cấp nước sạch và các dịch vụ vệ sinh môi trường
nông thôn chưa phát triển, thiếu mô hình mẫu, mô hình thí điểm để học tập và nghiên
cứu áp dụng rộng rãi trên địa bàn tỉnh.
Công tác thu gom chất thải rắn sinh hoạt và y tế đã đạt được một số kết quả khích lệ
trường; hầu hết các cụm công nghiệp đều chưa xây dựng công trình xử lý nước thải tập
trung. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều cụm công nghiệp vẫn chưa có giải pháp
khắc phục.
Ngoài ra, số doanh nghiệp vi phạm về môi trường bị xử lý so với thực tế chưa nhiều;
mức xử phạt còn quá nhẹ, chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn; nhiều cơ sở sản xuất kinh
doanh thiếu ý thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường.
8. Công tác quy hoạch
o Về cung cấp nước sạch
Quyết định số 5284/QĐ-BNN-KH, ngày 20/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về việc phê duyệt quy hoạch cấp nước và vệ sinh môi trường nông
thôn tỉnh Bình Định giai đoạn 2000-2010 (hiện nay, đơn vị tư vấn đang triển khai rà soát
bổ sung điều chỉnh quy hoạch này). Theo đó, đến hết năm 2010 tỉnh Bình Định phải đạt
được các chỉ tiêu sau:
+ 85% dân cư nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh để sử dụng với số lượng 60
lít/người/ngày;
+ 70% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh để sử dụng;
+ 100% cơ sở giáo dục, trường học, trạm y tế vùng nông thôn có nước và nhà tiêu hợp
vệ sinh.
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020, đến
2015, 100% dân cư có nguồn nước sạch cho sinh hoạt, và đến 2020, tất cả dân cư nông
thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày,
sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ vệ sinh môi trường làng,
xã.
o Về xử lý chất thải rắn
Quyết định số 637/QĐ-UBND, ngày 27/8/2009 của UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch
tổng thể quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
Theo đó, đến năm 2015, 100% lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại thành phố Quy
Nhơn; 70% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đối với các đô thị khác được thu
gom và xử lý; 100% chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị được phân loại tại
nguồn. Mục tiêu đến năm 2020, 80% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh đối với
Đến cuối năm 2010, 100% khối lượng chất thải từ các cơ sở sản xuất được xử lý đạt tiêu
chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường.
9. Nhận xét chung về công tác quản lý nhà nước đối với NS&VSMT
o Về nước sạch và vệ sinh
Tóm lại, trong những năm qua được sự quan tâm chỉ đạo tích cực của các cấp Ủy Đảng,
UBND tỉnh, các sở, ban ngành có liên quan của tỉnh đã tích cực xây dựng các văn bản
pháp quy về lĩnh vực cấp nước và vệ sinh trên địa bàn tỉnh nhằm làm căn cứ để triển
khai điều hành, thực hiện; đã xây dựng được các dự án quy hoạch chuyên ngành phục
vụ công tác giám sát triển khai thực hiện; xây dựng các quy chế để điều hành thực hiện.
Tuy nhiên, cấp nước và vệ sinh nông thôn là một trong số những lĩnh vực rất khó thực
hiện, khó kiểm soát, lợi nhuận thấp, thậm chí bị thua lỗ kéo dài, hoạt động phục vụ là
chính. Vì vậy, công tác xã hội hoá về các lĩnh vực này gặp rất nhiều khó khăn, không thu
24
hút được các thành phần kinh tế tham gia; một số đơn vị hoạt động về cấp nước và vệ
sinh nông thôn hiện nay đều phải cấp bù ngân sách để duy trì hoạt động.
Trong những năm gần đây công tác quản lý và phát triển hạ tầng cấp nước sạch nông
thôn đã tạo được bức tranh khá khả quan. Đến nay, trên địa bàn nông thôn Bình Định cơ
bản phần nào đã khắc phục được tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa nắng hạn.
Việc triển khai đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành các dự án cấp nước sạch nông
thôn có quy mô lớn đã được thực hiện như: Cấp nước Đông Khu đông Tuy Phước, cấp
nước hai xã Bình Tường và Vĩnh An huyện Tây Sơn, cấp nước 9 thị trấn đã tạo ra được
bộ mặt nông thôn một diện mạo mới, đầy triển vọng. Bên cạnh đó công tác quản lý, vận
hành các công trình cấp nước sạch nông thôn đang từng bước được chuyên nghiệp hoá,
với tinh thần đầy trách nhiệm của ngành nông nghiệp. Việc Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn giao nhiệm vụ cho Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn
trực tiếp quản lý, vận hành công trình cấp nước sạch nông thôn bước đầu đã tạo được
bức tranh khá khả quan. Với đội ngũ cán bộ có chất lượng như hiện nay, trong vài năm
đến Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn sẽ là hạt nhân trong công
tác quản lý, vận hành công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh.
Trong những năm đến từ nhiều nguồn vốn khác nhau, Sở Nông nghiệp và Phát triển
phải bù lỗ hàng năm. Mô hình hoạt động hiện nay khá đa dạng như: Hợp tác xã, Hạt
Giao thông công chính, doanh nghiệp tư nhân... tuy nhiên, trang thiết bị phục vụ công tác
thu gom, vận chuyển chất thải rắn của một số đơn vị còn thô sơ (huyện Tây Sơn, huyện
Phù Cát... chưa có xe chuyên dùng).
II. Thực trạng của các dự án cung cấp nước tập trung, xử lý rác thải, nước thải và
vệ sinh môi trường tại vùng dự án
1. Đối với lĩnh vực cung cấp nước tập trung
Theo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, trên địa bàn tỉnh hiện có
119 công trình cấp nước tập trung nông thôn với nhiều loại hình cấp nước và mô hình
quản lý, vận hành khác nhau (bảng 14a,14b,14c). Về loại hình cấp nước, có 84 công
trình tự chảy và 34 công trình bơm dẫn. Về mô hình quản lý, có 3 công trình thuộc Trung
tâm Nước sạch, 7 công trình thuộc Công ty cấp thoát nước, 8 công trình thuộc Doanh
nghiệp, 4 công trình thuộc Ban Quản lý cấp huyện, 6 công trình thuộc Hợp tác xã, và 91
công trình thuộc UBND xã quản lý. Trong số 6 mô hình quản lý các công trình nước sạch
nông thôn trên, mô hình do UBND xã quản lý là phổ biến nhất.
Trong những năm qua, công tác triển khai đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập
trung nông thôn được thực hiện từ nhiều nguồn vốn khác nhau như: Chương trình Mục
tiêu Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình 134, 135; vốn
vay (WB, ADB); vốn di dân tái định cư; vốn tài trợ (Vương quốc Bỉ, Hà Lan, Jibic, Tổ
chức CARE quốc tế tại Việt Nam)…
Từ các nguồn vốn trên tỉnh đã đầu tư xây dựng được nhiều công trình có quy mô khá lớn
như: Công trình cấp nước Phước Sơn của huyện Tuy Phước (cấp nước cho 32.000
người), Dự án cấp nước 9 thị trấn (cấp nước cho 110.435 người); Công trình cấp nước 2
xã Bình Tường và Vĩnh An của huyện Tây Sơn (cấp nước cho 13.000 người)… bước
đầu đã mang lại hiệu quả rất khả quan. Trong những năm đến, cũng từ các nguồn vốn
trên, tỉnh tiếp tục đầu tư các công trình, dự án có quy mô lớn như: Công trình cấp nước
huyện Phù Cát (vốn tài trợ của Vương quốc Bỉ, cấp nước cho người dân ở 7 xã thuộc 2
huyện Phù Cát và Tuy Phước); Công trình cấp nước xã Nhơn Hoà của huyện An Nhơn
(cấp nước cho khoảng 28.000 người); Công trình cấp nước Đông Nam huyện Hoài Nhơn
(cấp nước cho người dân 4 xã), Công trình cấp nước cho các xã ven biển huyện Phù Mỹ