KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – TRUYỀN THÔNG CỦA
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2012,
TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 5102 /QĐ-KHCN ngày 03 tháng 10 năm 2008
của Giám đốc ĐHQGHN)
MỤC LỤC
I. CƠ SỞ XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CNTT-TT CỦA
ĐHQGHN ..................................................................................................................................3
1.1. Danh mục các văn bản luật, chính sách của Đảng, Nhà nước và ĐHQGHN về
CNTT…………………………………………………………………………………..3
1.2. Xu hướng phát triển và ứng dụng CNTT ở Việt Nam và thế giới……………….4
1.3. Vai trò to lớn của CNTT-TT với sự phát triển của ĐHQGHN………………….5
1.4. Đánh giá chung về tình hình thực hiện Kế hoạch tổng thể về phát triển và ứng
dụng CNTT ở ĐHQGHN giai đoạn 2002-2007……………………………………...6
II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG CNTT-TT ĐẾN
NĂM 2012, TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2020…………..…………………….9
III. NỘI DUNG VÀ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CNTT-TT ĐẾN NĂM 2012 .......................11
3.1. Đào tạo CNTT-TT ........................................................................................... 11
3.2. Nghiên cứu CNTT-TT ..................................................................................... 12
3.3. Ứng dụng CNTT-TT ....................................................................................... 13
3.4. Cơ sở hạ tầng và dịch vụ CNTT-TT................................................................. 14
IV. CÁC GIẢI PHÁP .............................................................................................................15
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ....................................................................................................16
PHỤ LỤC ................................................................................................................................18
A. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH TỔNG THỂ 2002-2007 VỀ CNTT ............ 18
1. Kết quả đạt được ..........................................................................................................18
2. Những hạn chế và nguyên nhân ...................................................................................22
Chính trị”;
Công văn số 15 – CV/ĐU ngày 27 tháng 1 năm 2003 của Đảng Uỷ Đại học
Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) về “Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng
Công nghệ Thông tin ở ĐHQGHN giai đoạn 2002-2005”;
Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin ở ĐHQGHN
giai đoạn 2002-2005;
Kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT của ĐHQGHN đến năm 2007;
Nghị định số 07/2001/ NĐ - CP ngày 1 tháng 2 năm 2001 của Thủ tướng
Chính phủ về Đại học Quốc gia;
Quyết định số 16/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2001 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Đại học Quốc gia;
Nghị quyết Ban chấp hành Đảng bộ khóa III, ĐHQGHN tháng 10 năm 2005;
Kế hoạch chiến lược của ĐHQGHN giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn đến năm
2020;
3
1.2. Xu hướng phát triển và ứng dụng CNTT ở Việt Nam và thế giới.
CNTT-TT trên thế giới đã có những tiến bộ vượt bậc trong 10 năm qua, năm
2008 được xem là thời điểm tiền đề cho việc bắt đầu thập niên mới với những đặc
trưng sau:
Tập trung cho kết nối con người với nhau (connecting people).
Lấy người dùng làm trung tâm (user-centric).
Nhiều nền phát triển phần mềm và người dùng có thể tự phát triển được ứng
dụng cho mình.
Máy vi tính, công nghệ điện tử, công nghệ nano cho phép chế tạo các thiết bị
ngày càng nhanh, càng nhỏ gọn, tiêu thụ ít điện năng và được tích hợp nhiều
dịch vụ trên đó, như “cả hệ thống trên một con chip” (SoC), cũng như tích
hợp nhiều dịch vụ trên một thiết bị gia dụng.
thế giới và Việt Nam, còn có những thách thức lớn đối với CNTT-TT của nước ta
như: chưa có nền công nghiệp CNTT-TT thực sự; chất lượng đào tạo của đa số các
cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu, thiếu nhân lực bậc cao về CNTT-TT;
4
nghiên cứu còn tản mạn, chưa có những nghiên cứu của Việt Nam mang tính đột phá
về công nghệ; các doanh nghiệp mới chỉ tập trung gia công phần mềm, chưa chú
trọng công việc nghiên cứu và phát triển; việc liên kết hàn lâm – công nghiệp về
CNTT-TT còn chưa rõ nét; sự lúng túng và thất bại của một số dự án quốc gia về
CNTT-TT (như kế hoạch phát triển công nghiệp phần mềm theo Nghị quyết 07/2000
và Chỉ thị 58/TW; Đề án 112, …); việc vi phạm bản quyền phần mềm ở nước ta vẫn
còn ở mức cao; v.v.
Như vậy, CNTT-TT sẽ bùng nổ tiếp và ngày càng tiến tới phục vụ hữu ích hơn,
đa dạng hơn những nhu cầu của con người và là động lực thúc đẩy tiến bộ xã hội và
nâng cao chất lượng cuộc sống. CNTT-TT có ý nghĩa đặc biệt trong giáo dục. Các
nước phát triển và các nước có nền sản xuất hoặc dịch vụ hiện đại đã có đại học số
hóa, làm thay đổi và mở ra những hình thức đào tạo, hình thức học mới rất hiệu quả.
Sự tác động này sẽ còn tiếp tục làm sâu sắc thêm ý nghĩa của CNTT-TT trong những
năm sắp tới.
1.3. Vai trò to lớn của CNTT-TT với sự phát triển của ĐHQGHN
Tiềm năng và vai trò của CNTT-TT đã được Đảng và Nhà nước khẳng định
trong “Chiến lược phát triển CNTT-TT Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020” được ban hành theo QĐ số 246/2005/QĐ – TTg ngày 6 tháng 10 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ: “CNTT-TT là công cụ quan trọng hàng đầu để thực
hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Quán triệt chủ trương của Nhà nước, ĐHQGHN với sứ mệnh “Xây dựng và phát
triển mô hình một trung tâm đào tạo đại học, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao
Công nghiệp CNTT-TT hiện đang là một ngành kinh tế mũi nhọn, được nhà
nước ưu tiên, quan tâm hỗ trợ và khuyến khích phát triển. Nghiên cứu CNTT-TT
theo hướng hiện đại nhằm tạo ra những giá trị sáng tạo KHCN về CNTT-TT, tạo sản
phẩm phục vụ nhu cầu của ĐHQGHN và của xã hội, góp phần khẳng định vai trò của
ĐHQGHN trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Ứng dụng và cơ sở hạ tầng CNTT-TT
Ứng dụng rộng rãi CNTT-TT trong đào tạo, nghiên cứu, quản lý là yếu tố có ý
nghĩa chiến lược, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển ĐHQGHN thành đại học
nghiên cứu đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Ứng dụng CNTT-TT để đổi mới
phương pháp dạy và học, nâng cao hiệu quả đào tạo, nghiên cứu và quản lý trong tất
cả các đơn vị của ĐHQGHN.
Cơ sở hạ tầng CNTT-TT là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng của
ĐHQGHN, được ưu tiên đầu tư, phát triển, đảm bảo hiện đại, đồng bộ, quản lý và
khai thác hiệu quả. Phát triển cơ sở hạ tầng CNTT-TT nhằm tạo cơ sở cho phát triển
và ứng dụng CNTT-TT phục vụ đào tạo trình độ đẳng cấp quốc tế, nghiên cứu ứng
dụng và quản lý.
Kế hoạch phát triển hạ tầng CNTT-TT phải đảm bảo đáp ứng yêu cầu sử dụng
của cán bộ và sinh viên ĐHQGHN trong nghiên cứu và học tập, cũng như đáp ứng
nhu cầu quản lý của ĐHQGHN và của các đơn vị thành viên tạ̣i các cơ sở ở Hà Nội
và Hòa Lạc.
Xây dựng hạ tầng CNTT-TT phải đi đôi với triển khai các ứng dụng để khai thác có
hiệu quả, đồng thời có tầm nhìn xa, phân tích thiết kế hệ thống có tính mở, cho phép dễ dàng
mở rộng về quy mô và nâng cấp về công nghệ.
1.4. Đánh giá chung về tình hình thực hiện Kế hoạch tổng thể về phát triển và ứng
dụng CNTT ở ĐHQGHN giai đoạn 2002-2007.
ĐHQGHN đã xây dựng “Kế hoạch tổng thể phát triển và ứng dụng công nghệ
thông tin ở Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn 2002-2005”; “Kế hoạch ứng dụng và
phát triển CNTT của ĐHQGHN đến năm 2007”. Trong 5 năm qua, về cơ bản
ĐHQGHN đã thực hiện các mục tiêu quan trọng đề ra trong những kế hoạch này, xây
Tổng
Trường
187
177
167
149
196
197
184
1257
ĐHCN
Trường
ĐHKH
180
202
198
102
89
119
117
1007
Tự nhiên
Tổng
367
379
365
251
285
316
301
42
47
53
54
67
78
* Ghi chú: Số liệu trên chưa tính các cán bộ về hưu, các cán bộ chuyển đi, các cán bộ cắt
hợp đồng trong giai đoạn 2001-2007.
Bảng 3: Số giải thưởng sinh viên về Olympic Tin học các năm 2003-2007
2003
2004
2005
2006
2007
Giải nhất
1
3
1
3
Giải nhì
2
3
2
2
3
Giải ba
1
4
5
7
triển Công nghệ phần mềm thuộc Trường ĐHCN đã đạt giải nhất tại cuộc thi “Nhân
tài đất Việt” và đã phát huy tốt hiệu quả trong những năm vừa qua.
1.4.3. Ứng dụng CNTT
Nhận thức về ứng dụng CNTT trong toàn ĐHQGHN đã từng bước được nâng
cao. Nhiều khóa học, huấn luyện về sử dụng mạng, hệ thống quản lý văn bản và hồ
sơ công việc đã được tổ chức. Hiện tại 100% cán bộ quản lý đã sử dụng mạng
VNUnet trong công tác quản lý văn thư, cán bộ và sinh viên của một số đơn vị đã
được thí điểm cung cấp các dịch vụ internet phục vụ đào tạo chất lượng cao, đào tạo
liên kết quốc tế.
Tại các trường, khoa trực thuộc đã tổ chức các trung tâm truy cập internet phục
vụ sinh viên, nhiều phòng kết nối đào tạo từ xa với trang thiết bị hiện đại. Trung tâm
Thông tin thư viện đã bước đầu triển khai thư viện điện tử phục vụ bạn đọc. Ứng
dụng CNTT trong đào tạo và quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học đã được đẩy
mạnh, thực hiện thí điểm từng bước đại học số hóa, các đơn vị đào tạo đã triển khai
đào tạo thí điểm các mô hình đào tạo điện tử, đầu tư cho các phần mềm phục vụ đào
tạo, quản lý và nghiên cứu khoa học đã được tăng cường đáng kể từ nhiều nguồn
khác nhau, ĐHQGHN đã hoàn tất một số phần mềm quan trọng phục vụ đào tạo theo
tín chỉ và chất lượng cao và sẽ đưa vào hoạt động trong thời gian tới.
Hệ thống Quản lý đào tạo và quản lý người học ở ĐHQGHN theo học chế tín chỉ
đã được xây dựng và đang được hoàn thiện.
Tổ chức nghiên cứu, xây dựng và triển khai hệ thống e-Learning trên hạ tầng
công nghệ mạng của ĐHQGHN. Triển khai các dịch vụ thông tin phục vụ dạy và học
(đưa bài giảng, bài tập, thời khóa biểu, trao đổi, hỏi đáp giữa giáo viên, sinh viên…)
trên VNUnet/Internet.
1.4.4. Cơ sở hạ tầng CNTT
Mạng VNUnet bao phủ một phạm vi địa lý với đường kính gần 10 km, với trên
3000 máy tính, gần 100 máy chủ dịch vụ, thiết bị mạng đủ đáp ứng nhu cầu vận hành
cơ bản hiện nay. Ngoài đường thuê bao kết nối Internet qua Viettel, mạng VNUnet
còn có hai tuyến kết nối với bên ngoài: đường kết nối với mạng VinaREN bằng cáp
quang (với tốc độ hiện nay là 45Mbps, sắp nâng lên 155Mbps) và đường kết nối với
ĐẾN NĂM 2012, TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2020
Phát triển và ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, nghiên
cứu khoa học, quản lý và đẩy mạnh hội nhập quốc tế ở ĐHQGHN.
Đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT
Phát triển mạnh về quy mô và chất lượng nguồn nhân lực công nghệ thông tin tại
ĐHQGHN, góp phần tăng cường nhân lực CNTT-TT của đất nước, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chú ý đào tạo nhân lực CNTT-TT và
nâng cao trình độ CNTT-TT của cán bộ viên chức của chính ĐHQGHN.
Đến năm 2020, đạt trình độ quốc tế về đào tạo nhân lực công nghệ thông tin đối
với tất cả các ngành, chuyên ngành CNTT-TT, đạt trình độ tương đương với trường
trong nhóm 100 trường mạnh nhất về CNTT-TT ở Châu Á, nhóm 500 trường trên thế
giới.
Các chương trình đào tạo được cập nhật hằng năm, bám sát nhu cầu xã hội và với
những khái niệm và thành tựu tiên tiến được giới hàn lâm các nước thừa nhận đưa
vào giảng dạy.
Thực hiện việc liên kết đa ngành, đa lĩnh vực trong đào tạo nguồn nhân lực
CNTT-TT. Mở những ngành / nhóm ngành / liên ngành mới (thí điểm) với CNTTTT làm trung tâm, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thực tiễn xã hội Việt Nam và thị trường
CNTT-TT trên thế giới.
Nghiên cứu khoa học CNTT-TT
Các nghiên cứu cần tập trung vào phát huy thế mạnh của ĐHQGHN, đáp ứng
9
yêu cầu khoa học và ứng dụng của CNTT-TT trong 10 năm tới cũng như các yêu cầu
từ thực tiễn kinh tế xã hội của Việt Nam, tập trung nhiều vào tương tác người – máy
tính (giao diện người dùng tự nhiên), xử lý ngôn ngữ tự nhiên, công nghệ tri thức,
công nghệ Internet thế hệ mới, dịch vụ đa phương tiện, dịch vụ thông tin phục vụ đổi
mới phương pháp dạy và học cũng như các dịch vụ thông tin liên quan đến chăm sóc
sức khỏe, y tế cộng đồng, tính toán khoa học phục vụ quản lý tài nguyên, dự báo và
học số hóa được nêu trong phần Phụ lục.
Cơ sở hạ tầng CNTT-TT
Cơ sở hạ tầng CNTT-TT phải được xây dựng đồng bộ, hiện đại hóa để đáp ứng
được việc thực hiện các mục tiêu đã nêu trong các mục 5.2.1, 5.2.2, 5.2.3; định
hướng phát triển các hệ thống mã nguồn mở, theo các tiêu chuẩn hệ thống mở, cho
phép dễ dàng mở rộng về quy mô, nâng cấp về công nghệ.
Công tác xây dựng hạ tầng CNTT-TT cần đi trước một bước để thúc đẩy sự phát
triển các dịch vụ và ứng dụng CNTT theo định hướng phát triển hạ tầng CNTT-TT
phải đi đôi với việc triển khai các ứng dụng để khai thác có hiệu quả.
10
Tìm thêm những hình thức kết nối và nâng cấp kịp thời các đường truyền sẵn
VinaREN, VINASAT-1 (kết nối Internet qua vệ tinh), AI3/SOI, ...
Đến năm 2012, hệ thống cơ sở hạ tầng CNTT-TT phải được hoàn thiện ở mức cơ
bản, sử dụng công nghệ hiện đại, đồng bộ, đáp ứng tốt yêu cầu đào tạo theo tín chỉ ở
ĐHQGHN, cung cấp được dịch vụ thông suốt cho 30.000 người sử dụng; Triển khai
trọng điểm giải pháp sử dụng các hệ thống mã nguồn mở cho hệ thống máy tính của
người dùng cuối, các dịch vụ cơ bản của mạng như LDAP, Portal, CMS, Mail,
eLearning, tính toán xử lý thông tin từ xa cũng như các giải pháp đảm bảo an ninh và
giám sát mạng và hướng dẫn triển khai đồng bộ trong toàn ĐHQGHN; Các đơn vị
đều có đầy đủ hệ thống máy tính, kết nối intranet với tốc độ đường truyền cao, đáp
ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ và sinh viên ĐHQGHN trong nghiên cứu, giảng dạy
và học tập.
Đến năm 2020, ĐHQGHN là trung tâm nghiên cứu và đào tạo với hệ thống cơ sở
hạ tầng CNTT-TT hiện đại, đồng bộ, ngang tầm với các trường đại học lớn trong khu
vực Châu Á, đáp ứng cơ bản nhu cầu kết nối con người, đảm bảo môi trường CNTTTT hiện đại; cung cấp được dịch vụ thông suốt cho 50.000 người sử dụng.
III. NỘI DUNG VÀ CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN CNTT-TT ĐẾN NĂM 2012
3.1. Đào tạo CNTT-TT
triển khai cơ sở hạ tầng của các đơn vị thành viên, làm nòng cốt thúc đẩy
CNTT-TT hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu đối với mỗi ngành, chuyên ngành
trong ĐHQGHN.
Mở đào tạo theo nhóm ngành CNTT và xây dựng một số chương trình đào tạo
liên ngành với CNTT-TT làm trung tâm.
3.2. Nghiên cứu CNTT-TT
Nghiên cứu CNTT-TT theo hướng phục vụ đào tạo chất lượng cao, đào tạo trình
độ quốc tế và khu vực, tiến tới phục vụ nhu cầu trong nước, từng bước xuất khẩu một
số sản phẩm ra nước ngoài.
Từ nay đến năm 2012, các hướng nghiên cứu về CNTT-TT ở ĐHQGHN cần tiếp
tục chuyên sâu về cơ sở toán học trong CNTT-TT, khoa học máy tính, mạng và
truyền thông máy tính, các hệ thống thông tin, công nghệ phần mềm, kỹ thuật máy
tính, tương tác người - máy.
Các chủ đề nghiên cứu phối hợp giữa các đơn vị ở trong và ngoài ĐHQGHN bao
gồm: Các bài toán mô phỏng, dự báo, điều khiển; xử lý tiếng Việt; tính toán qui mô
lớn; tính toán lưới, tính toán khắp nơi - di động; phần mềm nhúng, hệ thống nhúng và
thời gian thực; an toàn thông tin; xử lý ảnh; hệ thông tin địa lý (GIS); tin sinh học; hệ
thông tin quản lý; … Cần chú ý đến các nghiên cứu liên ngành có liên quan đến
CNTT-TT trong từng đơn vị và trong ĐHQGHN.
Trường ĐHCN gắn kết nghiên cứu với đào tạo, đảm bảo các cán bộ giảng dạy
tham gia nghiên cứu, xây dựng những nhóm nghiên cứu mạnh, tiếp tục xây dựng
những sản phẩm phần mềm có uy tín, được ứng dụng rộng rãi. Trường đi đầu trong
đào tạo nguồn nhân lực bậc cao (từ đại học đến tiến sĩ), đẳng cấp quốc tế về CNTTTT, thực hiện mô hình liên kết hàn lâm – công nghiệp và cung cấp nguồn lực trình độ
cao cho thị trường CNTT trong nước và quốc tế. Trường ĐHCN tiếp tục đẩy mạnh
triển khai đại học số hóa, triển khai tốt hệ thống e-learning cùng với Viện CNTT và
các đơn vị liên quan. Trường ĐHCN cũng có nhiệm vụ hợp tác chặt chẽ và toàn diện
với Viện CNTT để thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng CNTT, thể hiện tốt mô hình
hợp tác trường - viện trong ĐHQGHN.
khoa học kết hợp với triển khai ứng dụng trên cơ sở liên kết với các doanh nghiệp
CNTT-TT trong và ngoài nước.
Từ nay đến năm 2012 có 2 – 3 nhóm nghiên cứu mạnh, tiêu biểu về CNTT-TT.
3.3. Ứng dụng CNTT-TT
Tổ chức đánh giá các hệ thống đã triển khai, đúc rút kinh nghiệm, tổ chức điều
chỉnh, cập nhật, thay thế các quy trình nghiệp vụ, các hệ thống phần mềm, phù hợp
và đáp ứng yêu cầu quản lý của ĐHQGHN nói chung và các đơn vị nói riêng. Từng
bước nâng cao chất lượng các dịch vụ.
Xây dựng các giải pháp dịch vụ và chuẩn hóa việc trao đổi dữ liệu và thông tin
trong ĐHQGHN. Khuyến khích sử dụng các dịch vụ trên nền mã nguồn mở và sử
dụng nguồn mở trong đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng.
Tiếp tục xây dựng và tổ chức triển khai các hệ thống thông tin quản lý thống nhất
trong ĐHQGHN, kết nối liên thông giữa ĐHQGHN với các đơn vị cũng như giữa
ĐHQGHN và Chính phủ, các Bộ, Ban, Ngành trung ương và địa phương.
Nâng cấp và bảo trì thường xuyên hệ thống website của ĐHQGHN và các đơn vị
thành viên, như một “cổng điện tử” (portal) thể hiện cơ bản các hoạt động của
ĐHQGHN và các đơn vị thành viên.
Xây dựng và hoàn thiện các CSDL số hóa của ĐHQGHN và các đơn vị phục vụ
công tác quản lý và điều hành.
Xây dựng và hoàn thiện các cơ sở học liệu số hóa, các tài liệu điện tử, xuất bản
số nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ.
Xây dựng và thử nghiệm các cơ chế liên kết, trao đổi thông tin quản lý với các
đại học trong và ngoài nước.
Triển khai các dịch vụ thoại (VoIP), hội thảo trực tuyến (Video Conferencing)
trên hạ tầng mạng VNUnet, VinaREN, …
Cung cấp tài khoản truy cập VNUnet cho tất cả cán bộ, học sinh, sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh của ĐHQGHN. Xây dựng các kênh thông tin cựu
học viên, sinh viên, góp phần giới thiệu hình ảnh của ĐHQGHN đến đông đảo các
tầng lớp trong và ngoài nước.
Đổi mới công tác quản lý, xây dựng cơ chế quản lý dịch vụ, từng bước nâng cao
bộ môn trở lên) (2009).
- Xây dựng hệ thống Email hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu sử dụng của tất cả
cán bộ, sinh viên với dung lượng lưu trữ lớn, thân thiện, ngăn chặn hiệu
quả vấn nạn thư rác, virus, spyware (2009).
- Tổ chức bước đầu Portal, trung tâm dữ liệu, không gian cá nhân cho đào
tạo (học tập) và nghiên cứu, e-learning, tính toán khoa học kỹ thuật, bài
giảng trưc tuyến và hội thảo trực tuyến ở trong và ngoài nước (qua
VinaREN, TEIN2, APAN, AI3-SOI, BESETOHA, …). Hoàn thành trang
bị Video conferencing đến cơ quan ĐHQGHN và 5 trường đại học thành
viên (2009).
- Hoàn thiện cơ sở hạ tầng mạng tại một số đơn vị trọng điểm và tổ chức lại
mô hình quản trị toàn bộ hệ thống (2010)
- Triển khai bước đầu phủ sóng mạng không dây (2008-2009).
- Đến năm 2015, hoàn thành kết cấu hạ tầng kỹ thuật VNUnet của
ĐHQGHN có quy mô và chất lượng tương đương mạng thông tin của các
trường Đại học tiên tiến trong khu vực.
Xúc tiến khả năng kết nối Internet qua vệ tinh VINASAT-1 và thu/phát với
các đối tác hợp tác khoa học kỹ thuật trong khu vực (AI3-SOI).
Tổ chức lại hệ thống điều hành, quản trị toàn VNUnet. Thiết lập cơ chế làm
việc, cộng tác về đảm bảo hạ tầng và dịch vụ CNTT-TT giữa các đơn vị trong
ĐHQGHN với sự quan tâm và hỗ trợ thường xuyên của ĐHQG HN.
Cải tiến mô hình tổ chức và cơ chế điều hành, quản trị hệ thống thông tin của
14
ĐHQG HN, cơ chế tổ chức và vận hành của Trung tâm VNUnet.
Kiện toàn, đẩy mạnh vai trò và hoạt động của Trung tâm tích hợp dữ liệu
ĐHQGHN.
Chuyển dần từng bước sang sử dụng các phần mềm tự do và nguồn mở trong
doanh nghiệp có uy tín trong và ngoài nước.
7. Thực hiện đánh giá kiểm định chất lượng đào tạo theo chuẩn AUN, ABET và
những chuẩn mực kiểm định của ĐHQGHN và của Bộ GD-ĐT ban hành.
8. Tăng cường dạy tiếng Anh và dạy công nghệ thông tin – truyền thông bằng
tiếng Anh.
9. Ưu tiên triển khai các nhóm nghiên cứu mạnh về CNTT-TT theo các tiêu chí
của ĐHQGHN.
10. Củng cố và tăng cường đội ngũ chuyên nghiệp về CNTT-TT, cả cán bộ giảng
dạy, nghiên cứu và triển khai ứng dụng CNTT ở các đơn vị.
15
11. Đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho các cán bộ chuyên trách về CNTT-TT ở các
đơn vị (quản trị mạng, phụ trách tin học hóa, thiết bị CNTT ở đơn vị). Đào tạo
kỹ năng sử dụng các ứng dụng và công cụ CNTT-TT cho các cán bộ, giảng
viên các ngành khác. Khắc phục tình trạng thiếu hụt hiện nay về đội ngũ
chuyên trách về các hoạt động và dịch vụ CNTT-TT hiện nay ở các đơn vị.
12. Ưu tiên kinh phí hằng năm cho nâng cấp, duy trì hạ tầng CNTT-TT (hệ thống
mạng máy tính, trang thiết bị, các ứng dụng được triển khai, …) theo những
kế hoạch và lộ trình đồng bộ, hiệu quả.
13. Thành lập tổ công tác chuẩn bị các yêu cầu và tham gia tư vấn, thiết kế hạ
tầng cơ sở và dịch vụ CNTT-TT tại Hòa Lạc.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Căn cứ vào Kế hoạch phát triển CNTT của ĐHQGHN, thủ trưởng các đơn vị
có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển và ứng dụng CNTT-TT
tại đơn vị mình, triển khai các nội dung ứng dụng và phát triển CNTT-TT liên
quan tới các lĩnh vực được phân công phụ trách, xây dựng lộ trình và tiêu chí
triển khai chi tiết phù hợp với chỉ đạo chung của ĐHQGHN. Đưa nhiệm vụ
phát triển CNTT vào kế hoạch nhiệm vụ từng năm học và dự toán kinh phí
7. Văn phòng ĐHQGHN là đầu mối xây dựng hệ thống thông tin tích hợp, triển
khai các phần mềm hỗ trợ điều hành tác nghiệp và ứng dụng CNTT phục vụ
quản lý, điều hành.
8. Ban xây dựng cơ bản chủ trì và phối hợp với các ban liên quan chỉ đạo Trung
tâm phát triển và quản lý đô thị ĐHQGHN tại Hòa Lạc và các đơn vị liên
quan khẩn trương, sâu sát thực hiện nghiêm túc thiết kế hạ tầng kỹ thuật của
mạng thông tin tại Hòa Lạc.
9. Viện CNTT, phối hợp với Văn phòng ĐHQGHN và các Ban chức năng liên
quan và phối hợp với Trường ĐHCN đảm bảo tốt hạ tầng CNTT-TT, vận
hành và phát triển VNUnet và tổ chức triển khai rộng rãi các dịch vụ CNTTTT, trong đó có xây dựng và vận hành trung tâm tích hợp dữ liệu, xây dựng
Portal của ĐHQGHN, v.v..
10. Trường ĐHCN, Trường ĐHKHTN, Viện CNTT đảm bảo đào tạo nhân lực
các trình độ CNTT-TT theo chức năng nhiệm vụ được giao, tiếp tục đẩy mạnh
nghiên cứu và thực hiện kết hợp nghiên cứu với đào tạo. Trường ĐHCN tiếp
tục triển khai mô hình “đại học số hóa”, thực thi thí điểm các mô hình đào tạo
điện tử, từ năm 2010 nhân rộng mô hình đại học số hóa sang các đơn vị của
ĐHQGHN, cùng Viện CNTT đảm bảo hạ tầng và dịch vụ CNTT-TT, tổ chức
đào tạo kỹ năng CNTT-TT cho các cán bộ trong ĐHQGHN.
11. Viện CNTT, Trường ĐHCN, Trường ĐHKHTN, Trung tâm Thông tin Thư
viện và Văn phòng ĐHQGHN phối hợp khai thác hiệu quả và chia sẻ sử dụng
thiết bị và tài nguyên thông tin đến mọi thành viên trong ĐHQGHN.
12. Các dự án của ĐHQGHN và các đơn vị thành viên đang được triển khai cần
điều chỉnh lại cho phù hợp với tinh thần và nội dung của Kế hoạch này.
13. Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc báo cáo Giám đốc ĐHQGHN về tình hình
triển khai thực hiện nhiệm vụ phát triển CNTT hằng năm tại đơn vị.
14. Văn phòng và các ban chức năng, thủ trưởng các đơn vị thuộc ĐHQGHN có
trách nhiệm triển khai thực hiện Kế hoạch này.
GIÁM ĐỐC
Trường ĐHKHTN đào tạo gần 1000 sinh viên tại chức toán – tin ứng dụng. Viện
CNTT đã triển khai các hoạt động đào tạo CNTT đa dạng, chủ yếu là ngắn hạn.
Tại các trường, khoa trực thuộc đã tổ chức các trung tâm truy cập internet phục
vụ sinh viên, nhiều phòng kết nối đào tạo từ xa với trang thiết bị hiện đại. Trung tâm
Thông tin thư viện đã được nâng cấp thành thư viện điện tử phục vụ bạn đọc. Tuy
nhiên, dịch vụ thông tin được cung cấp tốc độ chưa cao và mới chỉ phục vụ được nhu
cầu của một bộ phận, chưa đáp ứng cho toàn thể cán bộ và sinh viên của ĐHQGHN.
Ứng dụng CNTT trong đào tạo và quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học đã được
đẩy mạnh, thực hiện thí điểm từng bước đại học số hóa, các đơn vị đào tạo đã triển
khai đào tạo thí điểm các mô hình đào tạo điện tử, đầu tư cho các phần mềm phục vụ
đào tạo, quản lý và nghiên cứu khoa học đã được tăng cường đáng kể từ nhiều nguồn
khác nhau, ĐHQGHN đã hoàn tất một số phần mềm quan trọng phục vụ đào tạo theo
tín chỉ và chất lượng cao và sẽ đưa vào hoạt động trong thời gian tới.
Nhận thức về ứng dụng CNTT trong toàn ĐHQGHN đã từng bước được nâng
cao. Nhiều khóa học, huấn luyện về sử dụng mạng, hệ thống Quản lý văn bản và hồ
sơ công việc đã được tổ chức. Hiện tại 100% cán bộ quản lý đã sử dụng mạng
VNUnet trong công tác quản lý văn thư, cán bộ và sinh viên của một số đơn vị đã
được thí điểm cung cấp các dịch vụ internet phục vụ đào tạo chất lượng cao, đào tạo
liên kết quốc tế.
18
1.2. Nghiên cứu về CNTT:
Trong thời gian qua các trường ĐH KHTN, ĐH Công nghệ, và Viện CNTT đã
thực hiện 3 đề tài cấp nhà nước, 1 đề tài cấp thành phố, 4 đề tài Trọng điểm
ĐHQGHN, 5 đề tài đặc biệt ĐHQGHN và hàng chục đề tài ĐHQGHN và đề tài
NCCB về CNTT. ĐHQGHN đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học CNTT trong và
ngoài nước.
Nghiên cứu về CNTT đã góp phần tiếp thu các kiến thức hiện đại, phân tích thiết
cứu khoa học,… Tổ chức các sự kiện như giao lưu trực tuyến trên hệ thống, góp phần
giới thiệu đến đông đảo cán bộ, giáo viên, sinh viên ĐHQGHN cũng như đọc giả
trong và ngoài nước tin tức mới nhất về các mặt hoạt động của ĐHQGHN.
Hệ thống Quản lý đào tạo và quản lý người học ở ĐHQGHN theo học chế tín chỉ
đã được xây dựng và đang được hoàn thiện. Triển khai cài đặt tại các đơn vị đào tạo
ở ĐHQGHN trong năm 2007, và sẽ tiếp tục triển khai và hoàn thành trong năm 2008
19
ở tất cả các đơn vị khác (có yêu cầu) trong toàn ĐHQGHN.
ĐHQGHN đang triển khai xây dựng cơ sở học liệu số hóa, từng bước hiện đại
hóa hệ thống thư viện điện tử với hệ thống tài liệu, giáo trình, sách tham khảo…
phong phú về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ
ở ĐHQGHN trong thời điểm hiện tại cũng như thời gian tới.
Tổ chức nghiên cứu, xây dựng và triển khai hệ thống E-Learning trên hạ tầng
công nghệ mạng của ĐHQGHN.
Xây dựng, thử nghiệm các hệ thống thông tin quản lý cán bộ, khoa học công
nghệ, tài chính.
Cung cấp các dịch vụ E-mail/Internet đến đông đảo cán bộ, giáo viên và sinh
viên với chất lượng dịch vụ từng bước được cải thiện, ổn định.
Triển khai các dịch vụ thông tin phục vụ dạy và học (đưa bài giảng, bài tập, thời
khóa biểu, trao đổi, hỏi đáp giữa giáo viên, sinh viên,…) lên VNUnet/Internet.
Tổ chức các khóa tập huấn cho nhiều đối tượng người dùng tại ĐHQGHN về
CNTT và sử dụng các hệ thống phần mềm phuc vụ yêu các công việc.
1.4. Cơ sở hạ tầng
Mạng VNUnet bao phủ một phạm vi địa lý với đường kính gần 10 km. Theo ước
tính, tổng số máy tính của người dùng đầu cuối khoảng trên 3000 máy tính. Số máy
chủ dịch vụ khoảng 100. Thiết bị mạng đủ đáp ứng nhu cầu vận hành hiện nay. Tuy
nhiên, chưa có thiết bị dự phòng khi hỏng hóc. Hiện nay, đang coi thiết bị của Phòng
chung, số lượng máy tính tạm đáp ứng được yêu cầu cơ bản. Tuy nhiên, các phòng
máy dành cho sinh viên sử dụng VNUnet tra tìm tài liệu, tự học, v.v.. còn ít.
Các đơn vị trực thuộc có quy mô rất khác nhau. Năng lực hiện có của từng đơn vị
về hạ tầng cơ sở vật chất, tổ chức hệ thống, quản trị và nhân lực CNTT-TT cũng rất
chênh lệch. Quan trọng hơn nữa là sự quan tâm của lãnh đạo từng đơn vị đến ứng
dụng CNTT của đơn vị mình còn chưa ở mức cao và khác nhau. Ở một số đơn vị
việc triển khai ứng dụng CNTT còn yếu kém. Điều này gây ra những khó khăn phức
tạp nhất định cho việc xây dựng hạ tầng CNTT chung và tổ chức quản trị hệ thống
thông tin thống nhất của ĐHQGHN.
Về nhân lực quản trị hệ thống chỉ có một số ít đơn vị có cán bộ kỹ thuật chuyên
trách đáp ứng được yêu cầu ứng dụng CNTT. Đại đa số các đơn vị còn lại chưa có
hoặc chưa đủ cán bộ kỹ thuật chuyên trách về số lượng và trình độ đáp ứng nhu cầu
ứng dụng CNTT trong đó có đơn vị lớn như Trường ĐH KHTN.
Về tổ chức, theo phân cấp, TT quản trị mạng VNUnet thuộc Viện CNTT phụ
trách phần mạng xương sống, có ranh giới là điểm đặt switch đầu mối tại các đơn vị.
Mạng LAN của các đơn vị kể từ điểm này trở đi. Tuy nhiên, ĐHQGHN bao gồm 30
đơn vị trực thuộc, phân tán trên 7 khu vực cách xa nhau: Cầu Giấy, Thượng Đình,
Mễ Trì, 19 Lê thánh Tông, 16 Hàng Chuối, TT Ba Vì và Cơ sở mới tại Hòa Lạc.
Việc phối hợp giữa TT quản trị mạng và các đơn vị không dễ dàng, có hiện tượng
đùn đẩy trách nhiệm. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng
các dịch vụ CNTT ở phạm vi toàn thể ĐHQGHN trong thời gian qua chưa đáp ứng
được mong muốn.
Trung tâm tích hợp dữ liệu chưa có vai trò theo đúng nghĩa của nó là nơi lưu trữ
tập trung mọi dữ liệu về hoạt động của ĐHQGHN phục vụ lãnh đạo phân tích, ra
quyết định. Nhiều dữ liệu quan trọng vẫn nằm phân tán ở các đơn vị thành viên, đơn
vị trực thuộc.
VinaREN là mạng nghiên cứu và đào tạo Việt Nam kết nối các trường, viện,
bệnh viện cho công tác đào tạo và nghiên cứu của Việt Nam, nằm trong khuôn khổ
dự án TEIN2 kết nối các cơ sở đào tạo và nghiên cứu Á-Âu. ĐHQGHN là một trong
những đơn vị đầu tiên tham gia VinaREN. VNUnet đã kết nối với mạng VinaREN
những công cụ hỗ trợ mạnh trong giảng dạy và học tập CNTT, một số môn học còn
chậm cập nhật nội dung và kiến thức. Thiếu những gắn kết chặt chẽ với doanh
nghiệp nên chưa gửi được nhiều sinh viên đi thực tập, thực tế tại các công ty CNTT,
vì thế chưa nắm chắc nhu cầu xã hội. Có 7 nguyên nhân chính (theo Bộ GDĐT) dẫn
đến tình trạng các trường đào tạo ra sinh viên CNTT chưa đáp ứng ngay nhu cầu xã
hội mà phải đào tạo bổ sung, là:
Chưa hình thành hệ thống chứng chỉ quốc gia về đào tạo CNTT;
Chương trình đào tạo chưa theo kịp nhu cầu phát triển;
Đội ngũ giảng viên thiếu và yếu;
Môn Tin học trong các trường phổ thông chưa thực hiện đồng đều;
Cơ sở vật chất phục vụ CNTT còn thiếu và lạc hậu;
Sự hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và DN về CNTT còn hạn chế;
Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan hoạch định chính sách phát triển hệ thống
CNTT và các cơ quan quản lý, phát triển nhân lực.
Tại ĐHQGHN, dù nhiều chỉ tiêu và nhu cầu đào tạo SĐH về CNTT, nhưng
chúng ta còn những bất cập về hạ tầng, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, trình độ
ngoại ngữ, gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu còn nhiều hạn chế. Điều cơ bản là
chưa có những nhóm nghiên cứu mạnh về CNTT-TT để tạo môi trường cho học viên
và NCS làm việc, cọ sát và thể hiện nghiên cứu của mình. Số công trình của NCS
đăng trên tạp chí thế giới và trong nước còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng
và đầu tư của ĐHQGHN. Hiện nay số NCS bảo vệ thành công luận án về CNTT-TT
còn rất hạn chế.
Các sản phẩm khoa học và công nghệ về CNTT-TT của ĐHQGHN trong thời
gian qua còn hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng chưa tương xứng với sự đầu tư
của Nhà nước. Những bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế có uy tín liên quan
đến CNTT-TT thường là những bài báo lý thuyết, chưa gắn nghiên cứu với việc sử
dụng những trang thiết bị mạnh về CNTT-TT đã được đầu tư.
Một số hệ thống thông tin (Hệ thống Quản lý văn bản và hồ sơ công việc) đã
được triển khai ở các đơn vị lớn, đại diện cho hầu hết các mô hình tổ chức của
ĐHQGHN vẫn còn một số hạn chế từ phía các đơn vị triển khai. Một số đơn vị triển
tối thiểu cần thiết, chưa có tầm nhìn xa. Nhiều dịch vụ không có dự phòng sự cố.
Tính sẵn sàng phục vụ chưa được đảm bảo. Nếu có sự cố dịch vụ sẽ phải tạm ngừng
trong một thời gian để khắc phục từ vài tiếng đến 1-2 ngày. Hơn nữa, trong tương lai
ĐHQGHN cần đi đầu trong việc tôn trọng bản quyền và sở hữu trí tuệ. Việc đầu tư
để triển khai sử dụng phần mềm có giấy phép hoặc phần mềm nguồn mở là cần thiết
và cấp bách.
Mức bảo mật và an toàn còn thấp. Mạng VNUnet đã được phân hoạch theo đúng
mô hình có thể kiểm soát đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, thiết bị bức tường lửa
(Firewall) PIX515E hiện đang hỏng chưa sửa chữa được. Chưa có giải pháp quét vi
rút đều kỳ và ngăn ngừa phát tán virus; chưa triển khai công cụ lọc thư rác, chưa có
công cụ tiện ích phát hiện xâm nhập trái phép.
Chưa có chiến lược và giải pháp về CSDL, kho dữ liệu, nhằm lưu trữ dữ liệu
khối lượng lớn và lâu dài; Chưa có các giải pháp quản trị dữ liệu văn bản (phi cấu
trúc). Hiện nay, các dịch vụ trên VNUnet dùng cách lưu trữ gắn liền với máy chủ. Số
lượng ổ cứng có hạn. Giải pháp lưu trữ duy nhất khi khối dữ liệu lớn là sao chép lên
đĩa CD, DVD. An toàn dữ liệu chưa đảm bảo. Quy trình sao lưu chưa rõ ràng.
Phương thức sao lưu là thực hiện thủ công, chưa tự động hóa.
Để lưu trữ dữ liệu khối lượng lớn và lâu dài cần trang bị hệ thống lưu trữ chuyên
dụng (ví dụ SAN) tách riêng hệ thống lưu trữ (kho dữ liệu – data warehouse) với cơ
sở dữ liệu tác nghiệp. Các văn bản điều hành tác nghiệp ở ĐHQGHN và các đơn vị là
khá nhiều và sẽ ngày càng tăng. Hiện nay, phần mềm quản lí hồ sơ công việc lưu các
văn bản trong CSDL của hệ thống. Trong tương lai, các giải pháp lưu trữ và quản trị
hiệu quả hơn cần phải được triển khai.
23
Cuối cùng, vấn đề nổi cộm nhất là nguồn nhân lực quản trị hệ thống mà lâu nay
vẫn gọi là quản trị mạng VNUnet. Thực ra, hệ thống mạng và quản trị mạng chỉ là
một phần của vấn đề phức tạp hơn nhiều là xây dựng và quản trị hệ thống thông tin,
và cơ sở vật chất trong ĐHQGHN. Các đơn vị chủ chốt về CNTT-TT (Trường
ĐHCN, Trường ĐHKHTN, Viện CNTT, Trung tâm thông tin thư viện) chưa thể hiện
rõ vai trò của mình về CNTT-TT trong việc hỗ trợ và thúc đẩy ứng dụng CNTT-TT ở
các đơn vị khác trong ĐHQGHN.
3. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch phát triển CNTT giai đoạn 2002 - 2007
Trong những năm qua, được sự đầu tư của Nhà nước, ĐHQGHN đã xây dựng và
về cơ bản đã thực hiện các mục tiêu quan trọng đề ra trong các “Kế hoạch tổng thể
phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin ở Đại học Quốc gia Hà Nội giai đoạn
2002-2005”; “Kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT của ĐHQGHN đến năm
2007”, xây dựng những điều kiện ban đầu vững chắc cho một kết cấu hạ tầng về
24
thông tin, góp phần nâng cao đáng kể hiệu quả công tác quản lý, đào tạo, và nghiên
cứu khoa học; đồng cung cấp nguồn nhân lực CNTT với quy mô ngày càng nhiều cả
về chất và lượng cho nền kinh tế Việt Nam. Trong công việc nghiên cứu và phát
triển, có một số công trình được công bố trên các tạp chí và hội nghị uy tín quốc tế về
CNTT-TT. Một số đơn vị và cá nhân được những giải thưởng cao cấp quốc gia về
sản phẩm CNTT-TT. Tuy nhiên còn có những bất cập và hạn chế ở từng mặt cần
được khắc phục để phát triển nhanh hơn nữa về CNTT-TT của ĐHQGHN.
25