CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
CẤN QUANG TUẤN (*)
Văn phong Bộ Nội vụ
Tài chính công là một phạm trù gắn với các hoạt động thu và chi bằng tiền
của nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong
quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc
thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội (không vì mục
tiêu thu lợi nhuận).
Nội dung của tài chính công bao gồm: ngân sách nhà nước (NSNN) từ
trung ương đến địa phương; dự trữ nhà nước; tín dụng nhà nước; ngân hàng nhà
nước; tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước; tài chính của các đơn vị sự
nghiệp nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước (đối với nước ta). Trong đó, NSNN
được xem là bộ phận quan trọng nhất, chi phối đến các thành tố khác. Trong
phạm vi bài viết này, xin đề cập đến 3 thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau và
liên quan trực tiếp tới việc cải cách tài chính công hiện nay. Đó là: NSNN, các
quỹ tài chính nhà nước và tài chính các đơn vị hành chính sự nghiệp
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Như vậy, xét về khía cạnh kinh
tế, hoạt động thu - chi của NSNN thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại
một bộ phận giá trị tổng sản phẩm xã hội. Quy mô phân phối lại phụ thuộc vào
mức độ động viên của NSNN.
Về chức năng, NSNN có 3 chức năng cơ bản. Đó là: công cụ thực hiện
việc phân bổ nguồn lực trong xã hội; thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập
và chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân. Với các chức năng đó,
NSNN tác động trực tiếp và gián tiếp tới hầu hết các chủ thể, các đơn vị và các tổ
chức trong xã hội. Điều này cũng giải thích tại sao NSNN lại là thành tố quan
trọng nhất của tài chính công.
Các quỹ tài chính nhà nước, về nguyên tắc, NSNN phải được quản lý
một cách toàn diện, nhưng không có nghĩa là tất cả các khoản chi phải được quản
NSNN được các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sử dụng trực tiếp, do đó,
hiệu quả tài chính của các khu vực này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chi
NSNN. Ngược lại, quy mô và hiệu quả của NSNN cũng sẽ quyết định, chi phối
tiềm lực và hiệu quả tài chính các đơn vị hành chính, sự nghiệp.
Quản lý tài chính công được thực hiện theo 4 nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài
chính công. Hiệu quả thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.
Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hai nội dung quan trọng phải được xem xét
đồng thời khi hình thành một quyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách.
Nguyên tắc thống nhất: thống nhất quản lý bằng pháp luật là nguyên tắc
không thể bỏ qua trong quản lý tài chính công. Thực hiện nguyên tắc này sẽ đảm
bảo tính bình đẳng, công bằng, hiệu quả, hạn chế những tiêu cực, nhất là những
rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản chi tiêu.
Nguyên tắc tập trung dân chủ: tập trung dân chủ đảm bảo cho các nguồn
lực của xã hội được sử dụng tập trung và phân phối hợp lý. Các khoản đóng góp
của dân thực sự phải do dân quyết định chi tiêu nhằm đáp ứng mục tiêu chung
của cộng đồng.
Nguyên tắc công khai, minh bạch: thực hiện công khai minh bạch trong
quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định
về thu, chi tài chính, hạn chế những thất thoát và bảo đảm tính hiệu quả.
Về mối quan hệ giữa cải cách hành chính và cải cách tài chính công,
cải cách hành chính là một quá trình tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang tính
cơ bản và có hệ thống đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Tuỳ
theo điều kiện cụ thể của mỗi nước và trong từng thời kỳ, nội dung của cải cách
hành chính có phạm vi và mức độ khác nhau Ở nước ta, công cuộc cải cách hành
chính bắt đầu được triển khai từ khoảng giữa những năm 90 thế kỷ XX với sự ra
đời của Nghị quyết 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ. Thực tế cho thấy chỉ
có thể thực hiện cải cách hành chính thành công khi tiến hành đồng thời với việc
xuất phát từ thực trạng tài chính công hiện nay và yêu cầu về cải cách hành chính
nhà nước trong những năm tới.
Thứ nhất, đối với thực trạng tài chính công hiện nay, bên cạnh một số kết
quả bước đầu đạt được, tài chính công vẫn đang còn những hạn chế cần sớm khắc
phục, đó là:
Đối với lĩnh vực NSNN: do chưa xây dựng khuôn khổ tài chính trung hạn
nên hạn chế tính chiến lược của ngân sách và không phù hợp với việc quản lý các
dự án tài chính lớn cần thực hiện trong nhiều năm. Bố trí ngân sách còn bị động,
co kéo với các mục tiêu ngắn hạn. Cơ cấu chi ngân sách còn bất hợp lý, vẫn còn
những khoản chi mang tính bao cấp. Phạm vi chi ngân sách chưa được xác định
rõ nên khó giảm được gánh nặng chi ngân sách trong khi quy mô ngân sách còn
nhỏ. Mặt khác, việc chi bao cấp, bao biện đã tạo tư tưởng ỷ lại, làm giảm động
lực phát triển và cản trở việc thu hút đầu tư xã hội vào việc cung cấp dịch vụ
công. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngân sách còn kém hiệu quả, sử dụng
lãng phí. Công tác kiểm soát chi vẫn nặng nề về số lượng, chưa chú ý đúng mức
đến chất lượng, hiệu quả khoản chi...
Đối với tài chính các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: Định mức, chế
độ chi tiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ. Cơ chế quản lý biên chế, quản lý
kinh phí ngân sách còn bất cập, chưa tạo động lực khuyến khích sử dụng kinh phí
tiết kiệm, hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến.
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính nhà nước và những thể
chế mới về NSNN cũng đặt ra yêu cầu về cải cách tài chính công một cách cấp
thiết, cụ thể:
Luật NSNN (năm 2002) vừa tạo ra cơ sở pháp lý cho cải cách căn bản về
tài chính công, vừa dẫn đến những yêu cầu về cải cách tài chính công như: cơ
cấu lại chi ngân sách, đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách....
Mục tiêu tổng thể về cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 đã
đặt ra yêu cầu cải cách tài chính công. Đó là: Tạo điều kiện cho chính quyền địa
Thứ nhất, phân cấp rõ ràng về quản lý ngân sách, bảo đảm cho các cấp
chính quyền địa phương có sự chủ động lớn hơn về nguồn thu và thẩm quyền
quyết định chi ngân sách, trên cơ sở đó chủ động bố trí và thực hiện kế hoạch
hoạt động quản lý nhà nước và công tác chuyên môn tại địa phương mình.
Cần tiệm cận việc phân cấp cho từng cấp chính quyền có nguồn thu độc lập
tương đối. Khi có được nguồn thu độc lập, ổn định theo khu vực hành chính của
mình, mỗi cấp sẽ tích cực và chủ động hơn trong việc bồi dưỡng và khai thác
nguồn thu. Khoản thu độc lập, có tính ổn định cao sẽ giúp chính quyền địa
phương chủ động bố trí các khoản chi tiêu cố định của mình, không bị lệ thuộc
quá nhiều vào cấp trên.
Việc phân bổ tỷ lệ điều tiết theo từng sắc thuế giữa trung ương và địa
phương làm cho việc tính toán trở nên khá phức tạp và không khuyến khích địa
phương thu các sắc thuế do trung ương được hưởng hoặc có tỷ lệ phân bổ cho địa
phương thấp. Vì vậy, có thể sử dụng một tỷ lệ điều tiết chung giữa trung ương và
địa phương tính trên tổng số thu từ tất cả các loại thuế. Tỷ lệ này có thể được điều
chỉnh theo từng vùng để tạo ra sự phân bổ ngân sách hợp lý giữa các vùng phù
hợp với định hướng phát triển của vùng đó. Tỷ lệ điều tiết ngân sách được quyết
định 3 năm một lần để tạo sự chủ động cho địa phương trong bố trí các khoản
chi.
Thứ hai, tăng cường quản lý chu trình ngân sách. Quản lý tốt hơn chu
trình ngân sách giúp cho các cơ quan, đơn vị khớp nối giữa kế hoạch hoạt động
với kế hoạch tài chính, từ đó có đầy đủ và kịp thời các nguồn lực tài chính để chủ
động thực thi các nhiệm vụ. Cần đổi mới các hoạt động từ lập dự toán ngân sách
cho đến chấp hành và quyết toán ngân sách có tính khoa học và phù hợp hơn với
thực tế. Cụ thể là cần tiếp tục đổi mới các căn cứ và quy trình lập dự toán ngân
sách, hoàn thiện thủ tục và cơ chế chấp hành ngân sách, cũng như đổi mới
phương thức quyết toán ngân sách. Đặc biệt, cần chuyển các định mức phân bổ
ngân sách cho các lĩnh vực dựa trên đầu vào sang căn cứ vào kết quả đầu ra.
cơ sở đó tăng cường thu nhập cho người lao động. Đó chính là những động lực
thúc đẩy các cơ quan trong bộ máy nhà nước đổi mới về tổ chức, phương thức
hoạt động và nâng cao năng lực của đội ngũ CB,CC, làm cho bộ máy nhà nước
hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn.
Cải cách tài chính công là một trong 4 nội dung cơ bản của Chương trình
tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. Cải cách tài chính
công không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nước, cho các bộ, ngành, địa phương,
đơn vị trực tiếp sử dụng các nguồn lực tài chính công mà còn mang lại lợi ích cho
mọi tầng lớp nhân dân, những người có quyền giám sát việc sử dụng các nguồn
lực tài chính công, đồng thời là người thụ hưởng dịch vụ công được cung cấp bởi
những nguồn lực tài chính công. Tuy nhiên, cải cách tài chính công là vấn đề
nhạy cảm, luôn tiềm ẩn những khó khăn, thách thức, vì vậy, cần phải được quan
tâm chỉ đạo và có biện pháp thực hiện một cách thường xuyên, có chương trình,
kế hoạch cho từng giai đoạn, với những biện pháp cụ thể. Có thể nói, đó là những
công việc đầy khó khăn nhưng phải vượt qua để góp phần quan trọng vào quá
trình cải cách hành chính nhà nước, để tài chính công xứng đáng với vai trò, vị trí
của nó trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới.
Nhìn lại chặng đường 10 năm CCHC, có thể thấy những thay đổi rõ nét trong lĩnh vực quản lý tài chính
công. Chúng ta đã bước đầu đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách theo hướng tăng quyền chủ
động cho địa phương, bộ ngành, các đơn vị sử dụng ngân sách. Đã đổi mới công tác kiểm toán và thực
hiện công khai, minh bạch về tài chính công...
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này
Nhiều chuyển biến tích cực
Nói về những thay đổi rõ nét trong công cuộc cải cách quản lý tài chính công trong chặng đường CCHC của Việt Nam suốt 10
năm qua, Trưởng khoa sau đại học, Học viện Hành chính PGS-TS Lê Chi Mai cho rằng, có 3 vấn đề lớn chúng ta đạt được.
Thứ nhất, việc tăng cường phân cấp quản lý ngân sách nhà nước cho cơ sở đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong phương thức
hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc phân cấp nhiều hơn cho chính quyền địa phương về nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân
sách bước đầu đã được thực hiện theo nguyên tắc dịch vụ công được phân cấp cho cấp nào có khả năng đáp ứng nhanh nhất,
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 đã đặt ra bốn nội dung lớn về cải cách thể
chế, cải cách bộ máy, đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công (CCTCC).
Trong bốn nội dung cơ bản này, CCTCC - trong đó cơ bản là cải cách cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập (SNCL) - được xác định là khâu đột phá quan trọng, có ý nghĩa quyết định.
Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này
Khẳng định hướng đi đúng
Theo đánh giá của Bộ Tài chính tại Hội nghị trực tuyến tổng kết việc thực hiện các quy định về chế độ tự chủ, tự chịu trách
nhiệm (TC-TCTN) đối với đơn vị SNCL, trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản có giá trị pháp lý cao về
CCTCC. Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành năm 2006, các nội dung tự chủ về tài chính bao gồm: tự
chủ về các khoản thu, mức thu; về huy động vốn; về sử dụng nguồn tài chính; về xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ; về sử dụng
kết quả hoạt động tài chính. Sau sáu năm triển khai vào thực tế, về cơ bản, các đơn vị SNCL đã được phân cấp trong việc sử
dụng biên chế, lao động, sắp xếp lại bộ máy tổ chức công việc và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bên
cạnh đó, cơ chế này đã giúp phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ có chất lượng, bảo đảm tính công khai,
minh bạch, gắn chất lượng, hiệu quả công việc với thu nhập của người lao động. Hiện cả nước có 96,7% đơn vị SNCL đã được
giao tự chủ tài chính (TCTC), số thu của các đơn vị SNCL luôn theo hướng năm sau cao hơn năm trước: năm 2008 đạt hơn
37.500 tỷ đồng, năm 2009 đạt 39.800 tỷ đồng, năm 2010 đạt 40 nghìn tỷ đồng.
Đồng thời với việc khai thác nguồn thu, việc xây dựng các giải pháp để tiết kiệm chi phí cũng đã góp phần giảm chi từ nguồn
NSNN, tạo nguồn tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức. Nhìn chung, kết quả thực hiện cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị
SNCL cho thấy đây là một chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp yêu cầu của công cuộc đổi mới và hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường theo định hướng XHCN mà các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội đã đề ra.
Vẫn còn nhiều bất cập
Mặc dù đã đạt được kết quả bước đầu, song trên thực tế việc thực hiện cơ chế TC-TCTN tại các đơn vị SNCL vẫn còn nhiều
bất cập, yếu kém. Theo ý kiến đóng góp của đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như của lãnh đạo các tỉnh, thành phố
như TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Thanh Hóa, Quảng Ninh tại hội nghị, việc triển khai ở nhiều lĩnh vực còn chậm đổi mới, chưa
chủ động huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực (kể cả từ Nhà nước và từ nguồn xã hội hóa) để phát triển dịch vụ.
Chất lượng tăng trưởng, năng suất và sức cạnh tranh thấp, chất lượng dịch vụ công chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội, sử dụng
tầng lớp nhân dân và bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội và người nghèo được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ cơ
bản thiết yếu với chất lượng cao hơn.
Với những quyết tâm này và với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý
tài chính công chính là khâu đột phá để thực hiện chiến lược tài chính quốc gia, góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo đảm
an sinh - xã hội của đất nước trong thời gian tới. Chỉ khi quyết liệt trong công tác triển khai, thực hiện các giải pháp đồng bộ và
mạnh mẽ thì việc thực hiện CCTCC mới đạt được mục đích đã đề ra.
/>Cải cách quản lý tài chính công - 5 năm nhìn lại
(30/11/2011 )
(eFinance Online) - Một hệ thống quản lý lành mạnh, nguồn lực và ngân sách định hướng theo kết quả
được coi là cốt lõi của các chương trình cải cách khác, qua đó đạt được sự nhất quán tổng thể. Giai đoạn
vừa qua (2007-2011), cải cách quản lý tài chính công được coi là một trong bốn nội dung quan trọng của
công cuộc cải cách hành chính công của Việt Nam.
Những thành tựu tích cực
Với mục tiêu nâng cao đóng góp của khu vực công đối với sự tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, cùng
sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế như WB, JICA (Nhật Bản), USTDA (Hoa Kỳ), Adetef (Pháp), Quỹ
MDTF..., công cuộc cải cách đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, cả trên phương diện hoàn thiện
khuôn khổ thể chế, nâng cao năng lực và hệ thống hạ tầng thông tin quản lý.
Mặc dù, giai đoạn 2007-2011 là giai đoạn khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam khi liên tục phải đối
mặt với rất nhiều thách thức bất lợi từ môi trường quốc tế cũng như trong nước, song với những nỗ lực
không ngừng, Bộ Tài chính đã vẫn kiên trì thực hiện các kế hoạch cải cách trong lĩnh vực quản lý của
mình theo kế hoạch đã đề ra.
Cho đến nay, Chương trình cải cách quản lý tài chính công đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Trên tám lĩnh vực chủ yếu của tài chính công trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2011 gồm: cải cách
quản lý chi NSNN; cải cách quản lý thuế; hiện đại hoá hải quan; cải cách quản lý nợ công; giám sát thị
nước ngoài nhằm hỗ trợ cho các nội dung cải cách quản lý tài chính công của Việt Nam. Các đầu ra từ
việc triển khai các chương trình, dự án này đã đóng góp vào tiến trình cải cách một số lĩnh vực quan
trọng của ngành Tài chính.
Có thể nói, giai đoạn 2007-2011 đã ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực trong tiến trình cải cách quản
lý tài chính công, đặc biệt là về khuôn khổ pháp lý, cơ sở hạ tầng về thông tin, tạo ra nền tảng cần thiết
cho các bước cải cách trong những năm tới đây.
Trọng tâm những năm tiếp theo
Theo lộ trình thực hiện của kế hoạch cải cách quản lý tài chính công năm 2012 và những năm tiếp
theo, các hoạt động cải cách sẽ tiếp tục được đẩy mạnh. Trước mắt, Bộ Tài chính tập trung hoàn thiện
và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tài chính giai đoạn 2011-2020, các kế hoạch tài
chính ngân sách 5 năm và các Chiến lược ngành (bên cạnh 3 chiến lược ngành Kho bạc, Thuế và Hải
quan đã được phê duyệt) để làm cơ sở tổ chức thực hiện trong toàn ngành Tài chính: Chiến lược Tài
chính giai đoạn 2011-2020; Kế hoạch Tài chính ngân sách 2011-2015; Kế hoạch Tài chính ngân sách
2016-2020; Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến
năm 2030; Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia giai đoạn 2011-2010; Chiến lược phát triển thị trường
Bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Chiến lược phát triển thị trường Chứng khoán Việt Nam giai
đoạn 2011-2020; Chiến lược phát triển thị trường vốn tầm nhìn đến 2020.
Các nỗ lực của Bộ Tài chính trong lĩnh vực cải cách tài chính công cùng sự hỗ trợ của các nhà tài trợ quốc tế
thông qua các chương trình hợp tác và các dự án ODA đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp tích cực cho tiến trình cải
cách quản lý tài chính công nói riêng và sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung...
Theo taichinhdientu.vn
•
Các tin khác
CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Posted on 22/04/2009 by Civillawinfor
định số 130/2005/NĐ – CP, ngày 17-10-2005 "Quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và
kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước" và Nghị định số 43/2006/NĐ – CP, ngày 25-4-2006 "Quy
định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập". Tóm lại, cơ chế tài chính đối với khu vực hành chính sự nghiệp được đổi mới về cơ bản theo
hướng tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính. Cơ chế tài chính trong việc cung cấp dịch vụ
công theo hướng khuyến khích các tổ chức kinh tế và nhân dân đầu tư để thực hiện và cung cấp một số dịch vụ
công, đẩy mạnh xã hội hóa một số lĩnh vực sự nghiệp, thu hút được nguồn nội lực đáng kể cho phát triển sự
nghiệp.
Cơ chế tài chính trong lĩnh vực quản lý tài sản công: Cơ chế này đã được hoàn thiện nhằm tăng cường huy
động các nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế – xã hội. Bước đầu đã hình thành hệ thống các văn bản pháp
quy trong lĩnh vực quản lý tài sản nhà nước, bao gồm các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, vừa tạo thuận lợi cho đơn
vị sử dụng, vừa có tác dụng nâng cao kỷ luật, kỷ cương tài chính, tăng cường trách nhiệm các cấp, các ngành, các
đơn vị trong quản lý và sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản nhà nước, từng bước xác lập chủ sở hữu đích thực
về tài sản nhà nước. Hình thành thống nhất tổ chức quản lý tài sản nhà nước từ trung ương đến địa phương.
Huy động và sử dụng nguồn vốn ODA: Nguồn vốn ODA đã được sử dụng để khôi phục, nâng cấp và xây dựng
mới hàng loạt các dự án quốc gia quy mô lớn trong các lĩnh vực giao thông, điện, thủy lợi, cấp thoát nước, y tế,
giáo dục và đào tạo. Đồng thời, vốn ODA cũng được chú trọng hơn vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
thôn, thủy sản, sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, lĩnh vực du lịch và dịch vụ, góp phần thúc đẩy sự gia tăng giá
trị sản lượng nông nghiệp và tạo ra nguồn thu ngoại tệ để trả nợ nước ngoài. Nhờ vậy, nguồn vốn ODA đã đóng
góp tích cực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH, HĐH, giải quyết các vấn đề xã hội và xóa đói giảm nghèo. Nguồn vốn ODA cho vay lại
đối với các doanh nghiệp đã đáp ứng nhu cầu cấp bách về vốn để thực hiện các mục tiêu đầu tư cho các doanh
nghiệp, thực hiện đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng cao đời sống cho người lao
động.
Thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài: Việc gia tăng vốn đầu tư thực hiện thể hiện môi trường đầu tư và
kinh doanh ở nước ta đã ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện để các dự án sau khi được cấp phép triển khai
có hiệu quả. Trong 2 năm gần đây, cơ cấu đầu tư nước ngoài có chuyển biến tích vượt bậc, đặc biệt là việc gia
tăng tỷ trọng đầu tư vào kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của một số ngành mũi nhọn và một số lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp.
Quản lý nợ nước ngoài: Đã thực hiện thành công quá trình cơ cấu lại các khoản nợ trước đây của Việt Nam đối
năm 1991 – 1995 khoảng 3,5 (để tăng được 1 đồng GDP cần đầu tư 3,5 đồng), những năm 1996 – 2000 hệ số
này là 5 và từ năm 2001 – 2007 là 4,58.
Như vậy, trong khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng vượt so với mục tiêu Đại hội X đề ra, tốc độ tăng trưởng kinh
tế có tăng, nhưng chưa tương xứng với mức đầu tư bỏ ra.
Sở dĩ có tồn tại trên là do các nguyên nhân: Thể chế tài chính trong kinh tế thị trường chậm hình thành, hệ
thống chính sách, pháp luật về tài chính thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán, thậm chí còn mâu thuẫn, nên đã cản trở
quá trình vận hành theo cơ chế thị trường, chưa tạo ra hành lang thuận lợi để phát huy hết các tiềm năng và
nguồn lực của nền kinh tế. Trong quá trình hoàn chỉnh hệ thống pháp luật theo hướng tiến tới một mặt bằng pháp
lý chung đã có những thay đổi bất lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chẳng hạn, việc thi hành Luật Thuế thu
nhập doanh nghiệp đã giảm ưu đãi về thuế, nhất là đối với các dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất tại
các trung tâm đô thị lớn và các dự án thuộc danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư. Việc giảm ưu đãi về thuế thu
nhập doanh nghiệp đối với các dự án đầu tư nước ngoài cũng như chính sách đối với ô-tô, xe máy đã làm cho
nhiều nhà đầu tư lo ngại về sự thiếu nhất quán của chính sách đầu tư nước ngoài của nước ta, đồng thời, cản trở
việc quyết định đầu tư của một số dự án, trong đó có những dự án quy mô lớn, sử dụng công nghệ cao.
Nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ gặp ách tắc do chủ trương chưa rõ ràng, các vướng mắc trong công
tác quy hoạch ngành chưa được tháo gỡ, cản trở các nhà đầu tư. Việc suy giảm đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ đã
làm hạn chế kết quả thu hút đầu tư nước ngoài. Nhận thức về vai trò của tài chính và thị trường vốn trong việc mở
đường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội còn hạn chế, nên tư duy trong hoạch định chính sách tài chính và
phát triển thị trường tài chính chậm đổi mới, thiếu tính đột phá trong hoạch định chính sách. Trong nhận thức còn
nặng về tư duy "tài chính phục vụ sản xuất", "tài chính bảo đảm vốn cho mọi hoạt động" dẫn đến người có thẩm
quyền quyết định đầu tư không gắn với thẩm quyền phân bổ vốn, kết quả là quyết định đầu tư vượt quá khả năng
nguồn vốn đầu tư, làm cho vốn đầu tư dàn trải, nợ xây dựng cơ bản lớn, đầu tư kém hiệu quả.
Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược phát triển các ngành kinh tế với chiến lược tài chính, chiến lược
thuế… dẫn đến sự chắp vá trong việc hình thành cơ chế, chính sách; đồng thời làm cho chính sách thường xuyên
thay đổi, gây mất ổn định trong môi trường đầu tư. Công tác phân tích dự báo chưa được coi trọng đúng mức khi
nghiên cứu hoạch định chính sách, dẫn đến thường xuyên phải bổ sung, sửa đổi, tạo ra sự không đồng bộ, không
nhất quán. Tư tưởng bao cấp, tâm lý muốn được Nhà nước bảo hộ còn nặng nề; thói quen và dấu ấn quản lý theo
kiểu cũ vẫn tồn tại và không dễ xóa bỏ đã gây cản trở không nhỏ cho quá trình đổi mới trong lĩnh vực tài chính.
Các doanh nghiệp còn có tư tưởng trông chờ vào nguồn tín dụng ưu đãi, không muốn huy động trên thị trường
vốn. Trong quản lý còn nặng về tư tưởng "xin – cho". Chẳng hạn, trong xây dựng cơ bản xuất hiện tình trạng "xin –
đổi căn bản cách thức thu – chi ngân sách nhà nước, bảo đảm ngân sách nhà nước thực sự là công cụ điều tiết vĩ
mô của Nhà nước.
- Đối với hoạt động các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, nội dung đổi mới là gia tăng tỷ trọng huy động
các nguồn lực tài chính nhàn rỗi của xã hội trên cơ sở bảo đảm tính hợp pháp của số lượng các quỹ và sử dụng
chúng một cách có hiệu quả.
- Đối với tài chính của các cơ quan công quyền và các đơn vị sự nghiệp công lập, nội dung đổi mới là tập trung
nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm gắn việc đổi mới với công cuộc cải cách hành chính và việc cung cấp
hàng hóa, dịch vụ công cộng công bằng và hiệu quả.
Trên cơ sở những mục tiêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với cải cách tài chính công trong thời gian tới là:
- Tiếp tục cải cách thuế cho phù hợp với tình hình đất nước; yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa; phù hợp với và các cam kết quốc tế. Bổ sung, hoàn thiện, đơn giản hóa các sắc thuế, từng bước áp
dụng hệ thống thuế thống nhất, không phân biệt doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào. Cơ cấu lại nguồn thu,
khắc phục tình trạng hạn hẹp trong phạm vi đánh thuế gây ra bỏ sót nguồn thu và đối tượng nộp thuế, đáp ứng
yêu cầu động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước. Hiện đại hóa công tác thu thuế và đổi mới quản lý
thu thuế.
- Cần tiếp tục hoàn thiện phân cấp ngân sách bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò
chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương và các ngành
trong việc quản lý tài chính và ngân sách đã được phân cấp.
- Khắc phục tính dàn trải trong chi ngân sách nhà nước và cơ cấu lại hợp lý các khoản chi ngân sách, bảo đảm
tính hiệu quả và công bằng trong chi tiêu ngân sách nhà nước. Cân đối ngân sách một cách tích cực. Nâng cao
hiệu quả đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước từ xác định chủ trương, lập và duyệt dự án đến thực hiện dự án.
- Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn vị hành chính và sự nghiệp theo Nghị định số
130/2005/NĐ – CP và Nghị định số 43/2006/NĐ – CP của Chính phủ đã ban hành.
- Nhà nước cần khẩn trương nghiên cứu để trình Quốc hội thông qua Luật Quản lý, sử dụng tài sản; nó là một
trong những biện pháp quan trọng để thực hiện Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới, sắp xếp lại hệ thống
doanh nghiệp nhà nước; đặc biệt là cơ chế quản lý vốn, tách bạch tài chính doanh nghiệp với tài chính nhà nước.
- Nâng cao năng lực và hiệu lực hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát kết quả quản lý và sử