TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
PHẠM THỊ HỒNG THƠM
DH9CT
THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LONG XUYÊN,
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Sư phạm Giáo dục Chính trị
Cán bộ hướng dẫn: Th.s Phạm Thị Thu Hồng
AN GIANG, 2012
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận
được sự hỗ trợ, giúp đỡ tận tình của các cơ quan và các cá nhân. Tôi xin chân
thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu, quý thầy cô, cán bộ và công nhân viên trường Đại học
An Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp đại học.
Các thầy, cô trong khoa Lý luận Chính trị, tập thể lớp DH9CT, gia
đình, bạn bè đã trang bị kiến thức và hỗ trợ nhiệt tình cho tôi trong quá trình
làm khóa luận.
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của
quý thầy cô, cán bộ, nhân viên cùng các em học sinh trường THPT Long
Xuyên.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Phạm Thị Thu Hồng
trường THPT ............................................................................................... 5
1.1. Những vấn đề chung về dạy và học môn Giáo dục công dân ở trường
Trung học phổ thông ..................................................................................... 5
1.1.1. Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông và yêu cầu đối với giáo viên dạy học giáo dục công dân ................... 5
1.1.1.1. Đặc thù tri thức môn Giáo dục công dân ở trường Trung học
phổ thông ....................................................................................................... 5
1.1.1.2. Yêu cầu đối với giáo viên dạy học giáo dục công dân ........ 9
1.1.2. Vị trí, nhiệm vụ, chức năng của môn giáo dục công dân trong
trường Trung học phổ thông ....................................................................... 10
1.1.2.1. Vị trí của môn giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông .......................................................................................................... 10
1.1.2.2. Nhiệm vụ của môn giáo dục công dân ở trường THPT ..... 11
1.1.2.3. Chức năng của môn giáo dục công dân ở trường THPT ... 13
1.2. Cấu trúc nội dung chương trình và phương pháp dạy học môn Giáo
dục công dân ở trường Trung học phổ thông .............................................. 14
1.2.1. Cấu trúc nội dung chương trình môn giáo dục công dân ở trường
Trung học phổ thông ................................................................................... 14
1.2.2. Phương pháp dạy học môn giáo dục công dân ở trường Trung học
phổ thông …. ............................................................................................... 15
1.2.2.1. Phương pháp dạy học truyền thống ....................................... 15
1.2.2.2. Phương pháp dạy học tích cực ............................................... 17
1.2.2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giáo dục công dân
ở trường THPT ............................................................................................ 21
Chương 2: Thực trạng dạy và học môn giáo dục công dân ở trường THPT
Long Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay ........ ....23
2.1. Khái quát về trường THPT Long Xuyên ........................................ 23
2.1.1. Quá trình hình thành của trường THPT Long Xuyên............... 23
giảng dạy môn Giáo dục công dân .............................................................. 42
PHẦN KẾT LUẬN .................................................................................... 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
PHẦNMỞĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và quá hội nhập kinh tế quốc tế, ngành giáo dục của nước ta đang ngày
càng khẳng định được vai trò chủ đạo của mình trong việc đào tạo nguồn nhân
lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước. Nếu như nguồn nhân lực
quyết định sự phát triển của quốc gia, thì giáo dục và đào tạo là phương tiện
chủ yếu quyết định chất lượng con người, là con đường cơ bản để phát triển
nguồn nhân lực. Mọi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội sẽ không thành
công nếu không thực hiện tốt chiến lược giáo dục và đào tạo. Trong đó
chương trình giáo dục Trung học phổ thông là một bộ phận của ngành giáo
dục. Đây là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông, nối tiếp cấp trung học
cơ sở và có trách nhiệm hoàn thành việc đào tạo tiếp thế hệ học sinh đã qua
các cấp học trước đó của nhà trường phổ thông. Đây là cấp học vừa trực tiếp
tạo nguồn cho bậc cao đẳng, đại học nói riêng, vừa góp phần quan trọng vào
việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
nói chung. Mặt khác cấp học này còn là nền tảng cho sự phát triển các hệ
thống phẩm chất, năng lực cần thiết của người công dân trong tương lai, đáp
ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong giai đoạn mới.
Trong tất cả các môn học ở trường Trung học phổ thông thì môn Giáo
Là sinh viên đang theo học chuyên ngành Giáo dục chính trị và sẽ trở
thành giáo viên Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông trong tương
lai. Vì vậy, hơn ai hết tôi thấy mình cần phải hiểu được thực trạng dạy và học
môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông, thấy được những
thuận lợi cũng như khó khăn để từ đó có những định hướng đúng đắn cho
công việc giảng dạy của mình sau này. Đó là lý do tôi tâm đắc và chọn đề tài
“Thực trạng dạy và học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông Long Xuyên, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang hiện nay”
làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu để tìm hiểu về thực trạng của việc dạy và học
môn Giáo dục công dân. Trên cơ sở đó đề ra một vài giải pháp nhằm góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học môn Giáo dục công dân
ở trường THPT Long Xuyên, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang hiện
nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu việc dạy và học môn Giáo dục công dân của giáo
viên và học sinh trường THPT Long Xuyên, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An
Giang hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng dạy và học môn Giáo
dục công dân ở trường THPT Long Xuyên trong năm học 2011 – 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như:
phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn, phương pháp thống kê.
Trang 2
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LONG
XUYÊN, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
HIỆN NAY
2.1. Khái quát về trường THPT Long Xuyên
2.1.1. Quá trình hình thành của trường THPT Long Xuyên
Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
2.1.2. Những thành tích nổi bật của trường THPT Long Xuyên trong thời
gian qua
2.2. Thực trạng dạy và học môn Giáo dục công dân ở trường THPT Long
Xuyên, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang hiện nay
2.2.1. Những thành tựu và hạn chế của việc dạy và học môn Giáo dục công
dân ở trường THPT Long Xuyên hiện nay
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong việc dạy và học môn Giáo
dục công dân ở trường THPT Long Xuyên hiện nay
2.3. Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học
môn Giáo dục công dân
2.3.1. Thay đổi nhận thức về môn Giáo dục công dân
2.3.2. Đưa kết quả học tập môn Giáo dục công dân trở thành một phần
trong tiêu chí xếp loại hạnh kiểm của học sinh
2.3.3. Xây dựng môi trường giáo dục cho học sinh
2.3.4. Đối với đội ngũ giáo viên
2.3.5. Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy và học môn
nước, pháp luật học. Bên cạnh đó, mỗi phần, mỗi bài học lại có những nội
dung liên quan đến các lĩnh vực, các môn học khác nhau liên quan đến các
lĩnh vực, các môn học khác nhau như: dân số, môi trường, ngoại giao, quốc
phòng, giới tính và sức khỏe sinh sản, vật lí, sinh học , hóa học…
Đặc thù nói trên đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân bên cạnh
trình độ nắm vững hệ thống tri thức triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa
xã hội khoa học, pháp luật học, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách của
Nhà nước, phải có tri thức về nội dung liên quan ở những lĩnh vực, những bộ
môn khoa học khác nhau. Người giáo viên Giáo dục công dân phải không
ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu nhiều lĩnh vực, nắm vững và
biết vận dụng kiến thức của các lĩnh vực, các bộ môn khoa học khác nhau vào
bài học Giáo dục công dân .
Sự đa dạng của hệ thống tri thức cũng đòi hỏi người giáo viên Giáo dục
công dân phải sử dụng một cách đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đặc thù tri thức của từng phần, từng
bài học giáo dục công dân.
Trang 5
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
b) Hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông mang tính khái quát, trừu tượng
Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức môn Giáo dục công
dân trước hết thể hiện ở những nội dung, luận điểm được đề cập trong mỗi bài
học, mỗi đơn vị kiến thức. Những nội dung đó thường là những vấn đề lớn ở
tầm vĩ mô, chẳng hạn như: những vấn đề cấp thiết của nhân loại, pháp luật với
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học giáo dục công
dân, đặc biệt là những nội dung có tính khái quát, trừu tượng.
c) Hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ
thông mang tính thời sự
Tri thức của các môn học đều gắn liền với thực tiễn cuộc sống ở những
góc độ và lĩnh vực khác nhau. Đối với môn Giáo dục công dân, bên cạnh tính
thực tiễn thì tri thức của môn học luôn mang tính thời sự sâu sắc. Những tri
thức của môn học dù khái quát, trừu tượng hay cụ thể đều tập trung phản ánh
những vấn đề, những hiện tượng đang nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày. Từ
những vấn đề thách thức của toàn cầu như bùng nổ dân số, dịch bệnh, ô nhiễm
môi trường đến những vấn đề của một quốc gia như giải quyết việc làm, chính
sách giáo dục, bảo vệ môi trường. Ngay cả những nội dung khái quát, trừu
tượng như: quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu
thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy
luật cung cầu trong sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng đang hàng ngày,
hàng giờ biểu hiện, tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên giáo dục công dân phải luôn làm
cho tri thức của bài học bắt nhịp với cuộc sống đang đổi thay từng ngày. Để
làm được điều đó, mỗi người giáo viên giáo dục công dân phải có một tâm hồn
nhạy cảm, biết cảm nhận, lắng nghe những đổi thay của cuộc sống, biết nắm
bắt, sàng lọc, cập nhật, phân tích và xử lí thông tin để mang hơi thở của cuộc
sống, của thời đại vào từng tiết dạy, bài học giáo dục công dân. Tuy nhiên, nếu
lạm dụng đặc thù này, giáo viên sẽ biến giờ học giáo dục công dân trở thành
một giờ nói chuyện thời sự.
công dân chủ yếu hướng vào việc rèn luyện cho sinh những kĩ năng sống hết
sức cần thiết cho các em. Những kĩ năng như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức
quản lý, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định
hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội.
Gắn liền với nội dung mỗi bài học giáo dục công dân luôn có một loạt những
kĩ năng tương ứng, có thể đó là những kĩ năng tiếp cận, phân tích, xử lí thông
tin, cũng có thể là những kĩ năng tiếp cận, nhận diện, xử lý, giải quyết những
thách thức, những hiện tượng hoặc những vấn đề đang không ngừng nảy sinh
trong cuộc sống hàng ngày của chính bản thân học sinh. Có nhiều kĩ năng rất
cần thiết và sẽ đi theo các em trong suốt cuộc đời như cách cư xử, ứng xử với
chính bản thân các em, trong quan hệ với bạn bè, trong tình yêu, hôn nhân và
gia đình, trong quan hệ cộng đồng.
Trong quá trình dạy học giáo dục công dân người giáo viên phải nắm
vững mục tiêu kĩ năng của từng bài, lựa chọn giới thiệu, trang bị cho học sinh
những kĩ năng cần thiết nhất. Khuyến khích các em đưa những kĩ năng đó vào
thực hành và không ngừng tự hoàn thiện ngay trong cuộc sống hàng ngày của
chính các em. Trong quá trình dạy học, người giáo viên giáo dục công dân
phải không ngừng trải nghiệm, quan sát, học hỏi và hoàn thiện chính mình.
Một bài học giáo dục công dân thật sự bổ ích là bài học mà ở đó học sinh
không chỉ học được những tri thức, tình cảm cần thiết mà các em còn học
được ở đó cả sự trải nghiệm và những kĩ năng sống của chính người thầy.
Trang 8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
b) Yêu cầu về trình độ chuyên môn
Để có thể giảng dạy tốt môn Giáo dục công dân ở trường THPT, giáo
viên cần nắm vững lý thuyết nghề nghiệp, thấy rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của
môn giáo dục công dân ở trường THPT đối với sự phát triển của đất nước và
Trang 9
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
con người Việt Nam hiện tại và tương lai. Biết phát hiện và giải quyết những
vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu
mới trong giáo dục.
Nắm vững tri thức các khoa học mà môn Giáo dục công dân phải đảm
nhiệm trong chương trình giáo dục công dân ở phổ thông như triết học, kinh tế
chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, quan điểm đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức học, pháp luật học.
Nắm vững nội dung, cấu trúc chương trình, sách giáo khoa môn Giáo
dục công dân ở trường THPT. Nắm vững vị trí, mục tiêu, đặc điểm nội dung
của từng bài, từng đơn vị kiến thức trong sách giáo khoa giáo dục công dân.
Làm chủ kiến thức môn học, đảm bảo nội dung dạy học chính xác,có hệ thống,
vận dụng hợp lí các kiến thức liên môn theo yêu cầu cơ bản, thiết thực, hiện
đại, thực tiễn.
Thực hiện nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ
được quy định trong chương trình môn học. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học sinh và kết quả rèn luyện đạo đức bảo đảm chính xác, toàn diện, công
bằng, khách quan, công khai và phát triển năng lực tự đánh giá của học sinh.
1.1.2. Vị trí, nhiệm vụ và chức năng của môn Giáo dục công dân trong
Môn Giáo dục công dân ở trường THPT có vị trí hàng đầu trong việc
định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc cung cấp hệ
thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức nhân văn, đường lối, chính sách lớn
của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc
dân tộc Việt Nam, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại
1.1.2.2. Nhiệm vụ của môn Giáo dục công dân ở trường Trung học
phổ thông
a) Trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức cơ bản về giá trị đạo
đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật.
Môn Giáo dục công dân ở trường THPT là một hệ thống kiến thức liên
quan đến nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ
nghĩa xã hội khoa học, đường lối quan điểm của Đảng, một số chính sách quan
trọng của Nhà nước, pháp luật.
Nội dung chương trình lớp 10 giúp cho học sinh nhận biết được nội
dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng. Đồng
thời giúp cho học sinh nắm vững được một số phạm trù cơ bản của đạo đức
học có quan hệ trực tiếp đến mục tiêu đào tạo THPT.
Nội dung chương trình lớp 11 giúp cho học sinh hiểu được một số
phạm trù, quy luật kinh tế cơ bản và phương hướng phát triển kinh tế trong
thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Đồng thời hiểu được tính tất
yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, hiểu
được bản chất của Nhà nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chương trình lớp 12 giúp cho học sinh hiểu được bản chất giai
cấp, xã hội của pháp luật; mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế,
chính trị, đạo đức. Giúp học sinh nhận biết được vai trò, giá trị cơ bản của
pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi công dân, Nhà nước và xã
Trang 11
giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học, tiến bộ, biết đấu tranh để
bảo vệ và ủng hộ cái mới, cái tích cực và chống lại cái tiêu cực, lạc hậu, lỗi
thời.
d) Trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết
Những kĩ năng trong các bài học giáo dục công dân như: giao tiếp và
ứng xử, tổ chức quản lí, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh
lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với
những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trước những biến động không ngừng của
đời sống xã hội. Hoặc những kĩ năng cụ thể hơn như quan hệ bạn bè, đồng chí,
Trang 12
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
những cư xử trong tình yêu, hôn nhân, gia đình luôn cần thiết cho học sinh.
Thông qua mỗi bài học, tiết dạy, học sinh được trang bị những kĩ năng tương
ứng, giúp các em luôn uốn nắn những biểu hiện, cử chỉ, hành vi lệch lạc,
không ngừng tự hoàn thiện bản thân, biết đón nhận và giải quyết những thách
thức của cuộc sống một cách khoa học và hiệu quả.
e) Định hướng phát triển nhân cách học sinh
Đối với môn Giáo dục công dân, “mục tiêu dạy người” luôn được xác
định là “quan trọng nhất”. Vì thế môn Giáo dục công dân luôn ở vị trí hàng
đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh. Mỗi học sinh là chủ
thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội. Do đó thông qua mỗi bài
dạy, tiết học, người giáo viên giáo dục công dân phải tích cực giáo dục, bồi
dưỡng để giúp mỗi học sinh hình thành cho mình lẽ sống, lí tưởng và niềm tin
lành mạnh. Giáo dục để các em trở thành những công dân có ích cho bản thân,
nghĩa – lý tưởng cao đẹp mà con người luôn luôn mơ ước.
c) Chức năng phát triển
Bước đầu phát triển ở học sinh phương pháp tư duy biện chứng trong
nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá các hiện tượng xã hội theo
quan điểm khoa học và tiến bộ, biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của dân tộc
và nhân loại, biết ủng hộ cái mới đúng đắn và tích cực đấu tranh chống lại cái
cũ, lỗi thời, lạc hậu. Từng bước hình thành ở học sinh thói quen và kĩ năng vận
dụng những tri thức đã học vào cuộc sống, có định hướng đúng đắn về chính
trị, tư tưởng, đạo đức trong các hoạt động xã hội, trong cuộc sống hiện tại và
sau này.
1.2. Cấu trúc nội dung chương trình và phương pháp dạy học môn Giáo
dục công dân ở trường Trung học phổ thông
1.2.1. Cấu trúc nội dung chương trình môn Giáo dục công dân ở
trường Trung học phổ thông
Môn Giáo dục công dân ở trường THPT được cấu trúc thành năm phần
chính như sau:
Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp
luận khoa học
Phần thứ hai: Công dân với đạo đức
Phần thứ ba: Công dân với kinh tế
Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội
Phần thứ năm: Công dân với pháp luật (Xem phụ lục 6)
Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa, chương trình còn
dành một số thời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khóa, dạy học các
vấn đề gắn với tình
Phần thứ nhất tập trung vào một số nội dung chủ yếu liên quan đến triết
học, hình địa phương.nhằm trang bị cho học sinh những cơ sở ban đầu về thế
giới quan, phương pháp luận trong cuộc sống và là căn cứ lí luận cho các phần
sau.
Phần thứ hai tập trung vào một số giá trị đạo đức của con người Việt
Năm phần nói trên trong cấu trúc chương trình giáo dục công dân ở
Trung học phổ thông có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời có quan hệ chặt
chẽ với chương trình môn giáo dục công dân ở Trung học cơ sở theo nguyên
tắc tích hợp, đồng tâm và phát triển.
1.2.2. Phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung
học phổ thông
1.2.2.1. Phương pháp dạy học truyền thống
a) Phương pháp thuyết trình
Thuyết trình là phương pháp dùng lời nói để truyền thụ tri thức cho học
sinh. Ưu điểm lớn của phương pháp này là nó có khả năng chuyển tải tri thức
một cách nhanh nhất đến cho học sinh. Đồng thời sử dụng phương pháp này
Trang 15
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
giáo viên sẽ chủ động về mặt thời gian, chủ động trình bày một cách có hệ
thống, theo một logic chặt chẽ, hướng vào tri thức cơ bản và thiết thực nhất
Tuy nhiên, trong khi sử dụng phương pháp thuyết trình, giáo viên phải
hết sức chú ý tới ngôn ngữ và lời nói của mình. Với giáo viên dạy giáo dục
công dân, ngôn ngữ, lời nói của giáo viên vừa phải gần gũi với học sinh, vừa
phải giàu sức sáng tạo nhưng phải đảm bảo tính chính xác, khoa học. Vừa biểu
cảm, giàu trí tưởng tượng nhưng cũng cần đảm bảo tính chuẩn mực sư phạm.
Đồng thời, để tránh sự đơn điệu, gây ức chế cho học sinh còn đòi hỏi ở
người giáo viên khả năng kết hợp phương pháp này với một số phương pháp
dạy học khác như đàm thoại, trực quan – là những phương pháp quen thuộc
trong hoạt động giảng dạy ở nhà trường phổ thông.
sống đời thường. Vì thế, để nâng cao hiệu quả dạy học, phát huy tính tích cực
hoạt động của học sinh, tạo điều kiện để học sinh hiểu bài, nhớ lâu và phát
triển năng lực quan sát, trong những điều kiện cho phép, giáo viên cần phải
khéo léo kết hợp sử dụng phương pháp trực quan.
Những hình thức trực quan không chỉ có tác dụng minh hoạ bài giảng
mà còn có tác dụng tới việc hình thành, phát triển, củng cố tri thức khoa học
cho học sinh. Sự khéo léo trong sử dụng phương tiện trực quan, phương tiện
kỹ thuật vào giảng dạy không những làm phát triển năng lực chú ý, năng lực
quan sát, óc tò mò khoa học của học sinh mà mặt khác còn góp phần giải
phóng học sinh khỏi công việc ghi chép lý thuyết đơn thuần.
Song để sử dụng tốt phương pháp này, giáo viên cần phải có sự hiểu
biết sâu sắc, đầu tư thời gian và trí tuệ để chắt lọc, chọn lựa, sáng tạo đồ dùng
trực quan. Đồ dùng trực quan phải bảo đảm tính chính xác, chân thực rõ ràng,
đảm bảo độ tin cậy, tính thẩm mỹ. Bên cạnh đó giáo viên cần phân tích tài liệu
trực quan và sau đó là tổng hợp chúng để rút ra những kết luận khoa học góp
phần khắc sâu kiến thức cho học sinh.
1.2.2.2. Phương pháp dạy học tích cực
a) Phương pháp động não
Động não là phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn
nảy sinh được nhiều ý tưởng hay giả định về một vấn đề nào đó.
Trong dạy học giáo dục công dân, phương pháp này được dùng để giới
thiệu chủ đề của bài học trên cơ sở so sánh và chọn lựa các kết quả trả lời của
học sinh hoặc dùng để thu thập và lựa chọn các phương án giải quyết vấn đề
liên quan đến nội dung bài học.
Ưu điểm của phương pháp này là dễ soạn thảo câu hỏi và dễ thực hiện.
Ngoài ra phương pháp động não còn giúp huy động được tối đa trí tuệ của tập
thể trong quá trình tìm kiếm thông tin để trả lời. Đồng thời phương pháp này
tạo ra không khí sôi nổi nhờ quá trình tham gia phản hồi một cách tích cực của
người học để cải tạo tình trạng giao tiếp và không khí học tập trầm lặng, buồn
rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận cho các nhóm. Trong quá
trình các nhóm thảo luận giáo viên cần đi vòng quanh các nhóm để quan sát
thái độ làm việc nhóm của các em và góp ý cũng như hướng dẫn các em khi
cần thiết.
c) Phương pháp nêu vấn đề
Phương pháp nêu vấn đề là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên
giúp học sinh xem xét, phân tích những tình huống có vấn đề và xác định
những cách thức giải quyết tình huống đó nhằm tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ
năng và hình thành tư tưởng, thái độ.
Phương pháp này giúp học sinh nắm được tri thức mới và phương pháp
lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy sáng tạo. Đồng thời phương pháp này
còn giúp học sinh rèn luyện năng lực thích ứng với cuộc sống hiện đại thông
qua kĩ năng biết đặt ra và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh.
Để vận dụng tốt phương pháp này trong dạy học, giáo viên cần phải lựa
chọn các kiểu dạy học nêu vấn đề ở mức độ khó dễ khác nhau phù hợp với
trình độ nhận thức và khả năng giải quyết của học sinh. Mặt khác, tình huống
có vấn đề được lựa chọn phải phù hợp với nội dung của bài học và kích thích
Trang 18
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
được óc tò mò, ham hiểu biết và sự sáng tạo của học sinh. Tình huống có vấn
đề được tạo ra phải chứa đựng mâu thuẫn để tạo ra sự hứng khởi trong tiếp
nhận và giải quyết tình huống.
d) Phương pháp xử lí tình huống (phương pháp nghiên cứu trường hợp điển
hình)
Trang 19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học
SVTH: Phạm Thị Hồng Thơm
điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh, khích lệ sự thay đổi thái độ,
hành vi của học sinh theo hướng tích cực một cách tự giác.
Phương pháp này đòi hỏi việc đóng vai phải phù hợp với nội dung bài
học, lứa tuổi, trình độ học sinh và điều kiện hoàn cảnh lớp học. Tình huống
không nên quá dài và phức tạp có thể vượt thời gian cho phép. Cần quy định
rõ thời gian chuẩn bị và thời gian đóng vai. Ngoài ra tình huống nên để mở với
nhiều cách giải quyết khác nhau không cho trước kịch bản, lời thoại. Các vai
diễn nên để học sinh xung phong hoặc tự phân công đảm nhiệm. Ngoài ra,
giáo viên nên khích lệ tất cả học sinh cùng tham gia.
g) Phương pháp trò chơi
Phương pháp trò chơi là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tổ
chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thể nghiệm những hành động, thái
độ, việc làm thông qua một trò chơi nào đó.
Phương pháp này giúp cho học sinh có cơ hội được thể nghiệm những
thái độ, hành vi đã được cung cấp qua môn học, nhờ đó hình thành được ở các
em niềm tin và những thái độ, hành vi tích cực. Tạo hứng thú học tập cho học
sinh, bài giảng trở nên nhẹ nhàng, sinh động. Đồng thời tăng cường khả năng
giao tiếp và tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh.
Để vận dụng tốt phương pháp này đòi hỏi nội dung trò chơi phải phù
hợp với mục tiêu và chủ đề của bài dạy, đặc điểm tâm sinh lý học sinh và quỹ
thời gian cũng như điều kiện cụ thể của lớp học. Ngoài ra, cần chú trọng đến
việc phổ biến quy tắc và luật chơi, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
cảu học sinh trong quá trình tham gia trò chơi. Trò chơi phải được luân phiên