TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Khóa học: 2007 - 2011
An Giang, năm 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ HỒNG MAI
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: GV. TRẦN VĂN HÙNG
Khóa học : 2007 - 2011
An Giang, năm 2011
Trong cuộc sống để hoàn thành tốt một công việc nào đó không chỉ đòi
hỏi sự nỗ lực phấn đấu của chính bản thân mà còn nhờ vào sự giúp đỡ từ
HTX: hợp tác xã
NCKH: nghiên cứu khoa học
UBND: Ủy ban nhân dân
TTCN: tiểu thủ công nghiệp
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………1
PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………………6
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP……6
1.1. KHÁI QUÁT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG
NGHIỆP………………………………………………………………………6
1.1.1. Khái quát về ngành tiểu thủ công nghiệp…………………….6
1.1.2. Đặc điểm của ngành tiểu thủ công nghiệp……………………7
1.1.3. Những quan điểm về ngành tiểu thủ công nghiệp…………...9
1.1.3.1. Quan điểm của V.I. Lênin…………………………………9
1.1.3.2. Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam……………….10
1.1.3.3. Quan điểm của tỉnh Ủy, huyện Ủy……………...………..12
1.2. VAI TRÒ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ÀNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
TRONG NGÀNH KINH TẾ Ở NƯỚC TA……………………………….13
1.2.1. Vai trò của ngành tiểu thủ công nghiệp……………………..13
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển tiểu thủ
công nghiệp……………………………………………………………….....16
1.2.2.1. Nhóm nhân tố tự nhiên…………………………………...17
1.2.2.2 Nhóm nhân tố kinh tế……………………………………..17
1.2.2.3. Nhóm nhân tố xã hội……………………………………..18
1.2.2..4. Nhóm nhân tố khoa học và công nghệ……………….....19
1.2.2.5. Nhóm nhân tố về quan hệ kinh tế đối ngoại…………….19
2.2.2.2. Làng nghề đan đát xã Long Giang……………………...37
2.2.2.3. Làng nghề dây keo xã Mỹ Hội Đông…………………...39
2.2.2.4. Làng nghề nón lá ở Hội An…………………………….41
2.3. ĐÁNG GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC
LÀNG NGHỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI………42
2.3.1.Thành tựu……………………………………………………...42
2.3.2. Hạn chế………………………………………………………..43
2.3.2.1. Hạn chế về vốn……………………………………….…43
2.3.2.2. Hạn chế về công nghệ, kỹ thuật………………………..44
2.3.2.3. Hạn chế về trình độ quản lí và tay nghề người lao động.....44
2.3.2.4. Thiếu thông tin và các phương tiện xử lí thông tin…...45
2.3.2.5. Thiếu mặt bằng sản xuất gây ô nhiễm môi trường, kinh
doanh ổn định lâu dài……………………………………………………...46
2.3.3. Những vấn đề đặt ra…………………………………………46
2.3.3.1. Vấn đề thị trường và tiêu thụ sản phẩm……………….46
2.3.3.2. Trình độ quản lí và tay nghề người lao động…………..46
2.3.3.3. Tích tụ vốn và cải tiến kĩ thuật……………………….....47
2.3.3.4. Ổn định nguồn nguyên liệu…………………………..…47
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI………………...…..…48
3.1.PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH NGHỀ TIỂU
THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN CHỢ MỚI………………………………48
3.1.1 Phương hướng chung…………………………………….……48
3.1.2 Phương hướng đối với các làng nghề tiểu thủ công nghiệp…49
3.2 Một số giải pháp phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp………....52
3.2.1 Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển sản xuất TTCN……….52
3.2.2 Giải pháp tạo vốn cho ngành nghề TTCN…………………...52
3.2.3 Chuyển giao công nghệ thích hợp và đổi mới công nghệ cho
lực lớn lên đời sống xã hội khi mà các nhà máy cũng như các cơ sở kinh doanh
dịch vụ ở thành thị chỉ có thể tiếp nhận giới hạn số người vào làm việc. Từ nhiều
năm nay, Đảng và Nhà nước ta đã có các chủ trương, biện pháp để đảm bảo “ly
nông không ly hương” như: khôi phục, phát triển các làng nghề, đưa nhà máy về
nông thôn. Những biện pháp này đã tạo được công ăn việc làm cho một số người
lao động ở nông thôn. Có điều là kết quả này chưa cao, số người được nhận vào
các nhà máy tại quê hương chưa nhiều. Mặt khác, nhiều chủ đầu tư vẫn ngại
tuyển lao động tại chỗ vì trình độ văn hóa thấp, tay nghề không cao. Lao động
làm việc tại các làng nghề cũng chưa nhiều vì gặp khó khăn trong sản xuất, nhất
là trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Bên cạnh đó, những sản phẩm thủ công
hiện nay không đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Các làng nghề muốn phát
triển thì phải bán được hàng, hàng muốn bán được phải là sản phẩm của những
người thợ tay nghề cao. Vì thế muốn giải quyết được yêu cầu “ly nông không ly
hương” thì cùng với xây dựng thêm các nhà máy tại các vùng nông thôn, phát
triển các làng nghề, việc dạy nghề cho người nông dân là hết sức khẩn thiết.
Các sản phẩm thủ công nghiệp hiện nay đang được khách nước ngoài
ưa chuộng không chỉ vì độ tinh xảo, thẩm mỹ, mà trên mỗi sản phẩm còn thể hiện
được nét văn hóa riêng của mỗi vùng, mỗi dân tộc. Thế nhưng, nhiều làng nghề
truyền thống đang dần mai một. Trong khi đó, nước ta nói chung và huyện Chợ
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 2
Mới nói riêng có tiềm năng lớn về ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp có
thể thu hút nhiều lao động nhưng lại chưa được quan tâm đầu tư để phát huy hiệu
quả. Tiểu thủ công nghiệp ở Chợ Mới hầu như không có bước tiến, co cụm lại
trong các làng xã, ẩn chìm trong các hộ gia đình và hòa lẫn với các hoạt động
nông nghiệp. Sự phát triển các làng nghề ở Chợ Mới thời gian qua còn nhiều hạn
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 3
-Luận án tiến sỹ: “Phát triển TTCN trong nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở đô thị Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Hữu Lực, năm 1996;
-Luận án tiến sỹ “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình
CNH, HĐH ở vùng ven thủ đô Hà Nội” của Mai Thế Hởn, năm 2000;
-Luận án tiến sỹ : "Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt
Nam trong quá trình CNH, HĐH”, Trần Minh Yến, năm 2003;
-Một số bài viết khác như: “Làng nghề thủ công truyền thống Bắc
Ninh” của tác giả Đỗ Thị Hảo; “Phát triển làng nghề truyền thống với sự nghiệp
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn” của PGS.TS Nguyễn Huy Oánh; “Làng
nghề trong quá trình phát triển nông thôn theo hướng CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn” của TS. Vũ thị Thoa
Các công trình khoa học nghiên cứu lý luận, thực tiễn vừa qua, đã đi
vào đánh giá tình hình việc bảo tồn, phát triển làng nghề; các giải pháp phát triển
tiểu thủ công nghiệp ở tầm vĩ mô; hoặc nghiên cứu biện pháp tổ chức, quản lý sản
xuất tiểu thủ công nghiệp, hoặc mang tính chất tổng kết một giai đoạn phát triển
và định hướng hoạt động TTCN ở một địa phương nào đó…Tuy nhiên chưa có đề
tài nào đi sâu nghiên cứu dưới gốc độ kinh tế chính trị, đề cập tới phương hướng
chiến lược, các giải pháp đẩy mạnh sản xuất “tiểu, thủ công nghiệp” ở huyện Chợ
Mới. Vì vậy luận văn này, đóng góp một phần cơ sở lý luận- thực tiễn vào sự phát
triển các ngành nghề, TTCN ở Chợ Mới trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ:
3.1. Mục đích:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ vị trí, vai trò, tiềm năng và
thực trạng của ngành nghề, TTCN ở Chợ Mới hiện nay; đề xuất phương
định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nói chung và
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nói riêng của huyện.
Hai là, làm tư liệu tham khảo cho các thầy, cô giáo khoa Lý luận chính
trị, góp phần cho công tác giảng dạy được sinh động hơn.
Ba là, làm tư liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau.
7. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu,phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm ba chương.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 5
Chương 1
SỤ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN TIỂU – THỦ CÔNG NGHIỆP
1.1. Khái quát và đặc điểm của ngành tiểu thủ công nghiệp
1.2. Vai trò và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của
ngành tiểu thủ công nghiệp trong ngành kinh tế ở nước ta.
1.3. Sự tồn tại và phát triển tiểu thủ công nghiệp trong thời kì quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chương 2.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
HUYỆN CHỢ MỚI - TỈNH AN GIANG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2006 –
2010.
2.1. Khái quát những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển các nghề tiểu
thủ công nghiệp ở Chợ Mới.
2.2. Thực trạng phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp ở Chợ Mới.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển các ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp.
công, người thợ thủ công để tiến hành sản xuất. Người thợ thủ công là người
lao động độc lập (người thợ thủ công cá thể) với tổ chức cao của họ là
phường, hội. Thủ công nghiệp thích hợp với các giai đoạn khác nhau của sự
phát triển lực lượng sản xuất của xã hội, của sự phân công lao động xã hội.
Vậy, tiểu - thủ công nghiệp là một bộ phận của hệ thống công nghiệp.
Trong đó, quá trình lao động chủ yếu dựa vào lao động chân tay và sử dụng
các công cụ sản xuất nửa cơ khí hoặc cơ khí nhỏ. Tiểu - thủ công nghiệp là
tiền thân của nền công nghiệp ngày nay, các đơn vị này có thể sản xuất các sản
phẩm hoàn chỉnh hoặc được chuyên môn hóa chế tạo một bộ phận, chi tiết nào
đó của sản phẩm hoặc thực hiện một công đoạn của quá trình công nghiệp chế
tạo sản phẩm.
Nhìn chung, tiểu - thủ công nghiệp là một ngành trung gian, quá độ
chuyển hóa từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Lịch sử
kinh tế các nước cho thấy quốc gia, dân tộc nào, lực lượng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đa dạng, phong phú; vai trò kinh tế của Nhà nước tích cực
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 7
linh hoạt; người lao động có ý thức cao về chuyên môn nghiệp vụ sẽ là điều
kiện thuận lợi để bức phá lên thành nền kinh tế công nghiệp một cách nhanh
chóng.
Ở nước ta, với ưu thế của một nước phát triển muộn về công nghiệp,
trong xu thế toàn cầu hóa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của Nhà
nước cùng với tinh thần yêu nước, năng động, sáng tạo của con người Việt
Nam, thì tiểu thủ công nghiệp là một ngành không thể thiếu trong nền kinh tế
hiện nay và mang ý nghĩa to lớn.
1.1.2. Đặc điểm của ngành tiểu - thủ công nghiệp:
Hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất tiểu- thủ công nghiệp đa dạng,
học - kỹ thuật vào sản xuất, hình thành những cơ sở có quy mô sản xuất lớn và
có tính tập trung cao. Sản xuất phát triển tạo điều kiện khơi nguồn lao động,
nguyên liệu từ các vùng lân cận được tập trung, từ đó sản xuất được tăng
trưởng nhanh hơn về quy mô và cơ cấu ngành nghề:
+ Về cơ cấu ngành nghề đã có sự thay đổi thích ứng với cơ chế thị
trường, một số ngành nghề phát triển mạnh như: cơ khí, may, nhựa, hóa chất,
chế biến lương thực thực phẩm…
+ Về quy mô, đại bộ phận các cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ và vừa
phù hợp với kiểu kinh doanh gia đình và hợp tác xã.
+ Về trình độ kỹ thuật- công nghệ đã có sự đan xen thích hợp yếu tố
truyền thống và hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế lao động của
mỗi địa phương, đồng thời kết hợp tay nghề cao với công cụ cơ giới hóa, hiện
đại hóa và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất như thiết bị chế biến
lương thực, thực phẩm…Các ngành nghề sản xuất TTCN chịu ảnh hưởng của
sự phát triển khoa học và công nghệ, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
đã đánh dấu sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài người. Bên cạnh
đó, nó cấu trúc lại ngành nghề sản xuất TTCN theo hướng phù hợp với thị
trường, hiện đại hơn.
Sự linh hoạt trong thay đổi sản phẩm và hướng sản xuất các cơ sở
sản xuất tiểu- thủ công nghiệp:
Đặc điểm chung của ngành TTCN là vốn đầu tư nhỏ, ứng dụng cơ giới
hóa theo từng công đoạn, thường xuyên bám sát nhu cầu, thị hiếu người tiêu
dùng. Buộc các doanh nghiệp, xí nghiệp phải thường xuyên thay đổi mẫu mã,
chất lượng, chủng loại hàng hóa. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường
các cơ sở sản xuất TTCN càng có điều kiện thay đổi hướng sản xuất linh hoạt
để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu mới phát sinh của thị trường. Vấn đề là vốn
và thị trường thuận lợi tạo điều kiện cho sản xuất TTCN thay đổi nhanh sản
phẩm và hướng sản xuất.
Sản xuất hàng hóa để xuất khẩu là xu hướng tất yếu của sản xuất
tiểu- thủ công nghiệp:
tiểu nông, tiểu thủ công nghiệp và chủ nghĩa tư bản, mà phải chấn hưng
thương nghiệp, công nghiệp nhỏ và chủ nghĩa tư bản…Nhà nước điều tiết
những thứ đó, nhưng chỉ trong chừng mực làm cho chúng được chấn
hưng…”[12;210]
Nhấn mạnh đến vai trò của tiểu – thủ công nghiệp Lê-nin còn tiếp tục
đề cập trong những nội dung cơ bản của “chính sách kinh tế mới”: Lênin đã
chủ trương trước mắt tập trung phát triển tiểu thủ công nghiệp, thông qua đó
tác động trực tiếp vào nền kinh tế của nông dân và góp phần nâng cao lực
lượng sản xuất của nền kinh tế. Vì tiểu, thủ công nghiệp không cần vốn lớn và
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 10
nhiều nguyên liệu có thể huy động tại chỗ nguồn lao động và đáp ứng nhu cầu
đa dạng của nhân dân.
Để phát triển tiểu thủ công nghiệp Lênin nêu ra bốn giải pháp cần giải
quyết:
+ Các địa phương đem hết khả năng để phát triển tiểu thủ công nghiệp.
+ Cho phép các địa phương ký các hợp đồng cho thuê xí nghiệp nằm
trên địa phương mình mà không cần xin ý kiến cấp trên.
+ Kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp trung ương được tập trung sản
xuất hàng hoá tiêu dùng.
+ Vừa phát huy tính năng động sáng tạo của địa phương, vừa có sự hỗ
trợ của nhà nước trong việc phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ.
Từ quan điểm trên ta thấy, Lê-nin xây dựng chủ nghĩa xã hội phải bắt
đầu từ việc xây dựng những tiền đề cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH. Cụ thể
là từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân chiếm đa số trong dân cư, phải
bắt đầu từ nông nghiệp,chú trọng phát triển tiểu- thủ công nghiệp; thực hiện
ngày càng nhiều sản phẩm với giá thành ngày càng hạ, thể loại ngày càng
phong phú, chất lượng ngày càng cao. Trước hết, tập trung phát triển những
ngành: dệt, da, may mặc, giấy, đồ gỗ, đồ dùng gia đình…”.[4; 305]
Đại hội còn khẳng định “ cần nhanh chóng nắm bắt lực lượng công
nghiệp nhẹ trong cả nước, tổ chức lại, phân công phối hợp theo hướng sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa, kết hợp quy mô lớn với quy mô vừa và nhỏ. Cải
tiến kỹ thuật và mở rộng năng lực sản xuất những cơ sở sẵn có, đồng thời xây
dựng thêm một số cơ sở mới”.[4; 305]
Như vậy trong thời gian nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến, ngành
tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng những nhu
cầu tiêu dùng thiết yếu của nhân dân. Chính vì thế được Đảng ta quan tâm
phát triển.
Tuy nhiên, do cơ chế kinh tế gắn với mô hình CNXH kiểu cũ, mâu
thuẫn kinh tế ngày càng bộc lộ rõ nét, trước bối cảnh đó, Đảng ta chủ trương
đổi mới, trước hết là đổi mới kinh tế. Lại một lần nữa ngành TTCN được
Đảng ta quan niệm như là chiếc đòn xeo, là chiếc cầu nối để đưa nền kinh tế từ
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Thật vậy, trong ĐHĐBTQ lần thứ VI Đảng ta đề ra đường lối đổi mới
toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế. Báo cáo chính trị tại
Đại hội đã khẳng định nhiệm vụ của tiểu- thủ công nghiệp là phải “ đáp ứng
nhu cầu của nhân dân về hàng thông thường, đảm bảo yêu cầu chế biến nông,
lâm, thủy sản, tăng nhanh việc làm gia công xuất khẩu và các mặt hàng xuất
khẩu khác, đồng thời mở rộng mặt hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người
tiêu dùng. Khai thác triệt để mọi nguồn nguyên liệu; tận dụng các loại phế
liệu; tranh thủ các nguồn nguyên liệu gia công ở nước ngoài”. Đồng thời phải
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 12
trên địa bàn tỉnh An Giang thì trong nội dung chương trình 03/ Ctr-UBND về
việc bảo tồn và phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp tỉnh An Giang giai
đoạn 2008-2010 và tầm nhìn đến năm 2020 đã xác định quan điểm như sau:
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 13
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở thêu xuất khẩu phát triển, thu
hút lao động nhất là lao động ở các vùng nông thôn, đồng bào dân tộc.
+ Hỗ trợ phát triển ổn định các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông
thôn để giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động, góp
phần chuyển dịch cơ cầu kinh tế nông thôn như: đan đát, rèn nông cụ cầm tay,
mộc dân dụng, dây keo,sản phẩm lục bình…
+ Phát triển các mặt hàng sản xuất thủ công mỹ nghệ phục vụ chương
trình phát triển du lịch của tỉnh như: mộc chạm trổ, hàng dệt thổ cẩm, sản
phẩm từ tre lá… và khai thác, phát triển hàng đặc sản của tỉnh như: chế biến
đường thốt nốt, khô, mắm… tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, song song với
ngành công nghiệp sản xuất bao bì.
Quan điểm của huyện Ủy huyện Chợ Mới
Kế thừa quan điểm trên, huyện Ủy huyện Chợ Mới cũng xác định
những quan điểm, mục tiêu, phương hướng phát triển cho từng giai đoạn nhất
định thông qua các lần Đại hội. Với tinh thần cách mạng tiến công, Đảng bộ
và nhân dân huyện Chợ Mới quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế với phát
triển văn hóa, đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy thế mạnh
của huyện nhất là thế mạnh về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Toàn
huyện Chợ Mới có 11 làng nghề được UBND tỉnh công nhận làng nghề trong
số 18 làng nghề tiểu thủ công nghiệp được UBND tỉnh công nhận trên địa bàn
toàn tỉnh An Giang – đây thật sự là một thế mạnh để huyện tiếp tục phát triển.
sản xuất tiểu - thủ công nghiệp rất nhạy cảm với yêu cầu tiêu thụ của thị
trường. Nó luôn thay đổi để thích ứng với thị trường đồng thời thông qua nhu
cầu phân tích và dự báo nhu cầu, các ngành nghề tiểu- thủ công nghiệp có vai
trò hướng dẫn thị trường trở thành bạn đồng hành gắn bó mật thiết với người
tiêu dùng. Và vai trò tiểu- thủ công nghiệp với thị trường sẽ ngày càng càng
trở nên quan trọng trong khi trình độ kỹ thuật – công nghệ, trình độ sản xuất
và cơ cấu của nó được tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến.
Thứ hai, sản xuất tiểu - thủ công nghiệp phát triển ngày càng nhiều
hàng hóa tiêu dùng cho xã hội và đáp ứng nhu cầu đa dạng về công cụ sản
xuất nhỏ:
Với nhiều ngành nghề đa dạng và tận dụng các nguồn tài nguyên của
địa phương, các chính sách sản xuất tiểu- thủ công nghiệp đã làm ra nhiều mặt
hàng tiêu dùng như cơ khí, giày dép, đồ dùng bằng nhựa, bằng gỗ…phục vụ
cho tiêu dùng trong vùng. Khi sản xuất tiểu- thủ công nghiệp phát huy được
lợi thế của mình, đưa ngân sách lên cao thì nó có khả năng mở rộng diện tích
đáp ứng nhu cầu các vùng lân cận. Đồng thời, cùng với việc sản xuất hàng hóa
tiêu dùng, các cơ sở sản xuất còn làm ra các công cụ sản xuất bằng tay như
búa, cuốc, xẻng, cào… các phương tiện thô sơ như máy tuốt, máy cuốc liếp…
phục vụ cho sản xuất, thu hoạch và chế biến nông sản.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 15
Thứ ba, phát triển tiểu – thủ công nghiệp sẽ chuẩn bị đội ngũ lao động
có khả năng thích ứng với lĩnh vực công nghiệp:
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tác động rất lớn đến sự phát
triển của tiểu–thủ công nghiệp. Nó trở thành nhân tố thúc đẩy việc huy động
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 16
Có thể nói định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực của nền kinh
tế không thể tách rời định hướng các ngành nghề sản xuất TTCN. Chẳng hạn,
sự phát triển TTCN kéo các ngành cung ứng vật tư xây dựng, ngành cơ khí
chế tạo, điện, hóa chất, dịch vụ…phát triển. Ngược lại, sự phát triển của ngành
này lại thúc đẩy phát triển sản xuất TTCN cả chiều rộng lẫn chiều sâu, đi từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
Thứ sáu, đẩy mạnh tiến trình nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa
học và công nghệ:
Ngày nay, các quốc gia trên thế giới thường khuyến khích các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phát triển để thay đổi công nghệ và cơ cấu sản phẩm. Do
đó, tiểu- thủ công ngiệp là ngành phù hợp với việc ứng dụng công nghệ mới
vào sản xuất, từ đó nó sẽ kích thích đẩy nhanh việc nghiên cứu.
Thứ bảy, phát triển tiểu – thủ công nghiệp góp phần thu hút FDI:
Để thực hiện thành công chính sách thu hút vốn từ nước ngoài đòi hỏi
quốc gia nhận đầu tư phải có những ngành công nghiệp phụ trợ để nâng cao tỷ
lệ nội địa hóa trong sản phẩm do các công ty nước ngoài đầu tư nhằm hạ giá
thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh. Chính vì vậy, sản xuất tiểu – thủ công
nghiệp lại là bộ phận, chi tiết hay là sản phẩm đầu vào của các ngành công
nghiệp khác.
Thứ tám, tiểu – thủ công nghiệp phát triển tạo điều kiện duy trì ngành
tiểu thủ công nghiệp truyền thống và góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân
tộc:
Bản sắc văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia để lại dấu ấn qua các sản
phẩm thủ công của mình. Nếu trong quá trình công nghiệp hóa mà không có ý
thức bảo tồn nghề thủ công truyền thống và bản sắc văn hóa của mình thì
trường đầu ra - tiêu thụ sản phẩm) trình độ phát triển các ngành kinh tế có liên
quan và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật.
Nhân tố thị trường bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường
tiêu thụ sản phẩm:
- Thị trường các yếu tố đầu vào: sự phát triển ngành sản xuất tiểu - thủ
công nghiệp phụ thuộc trực tiếp và rất lớn vào thị trường các yếu tố đầu vào
như: thị trường vốn, vật tư thiết bị, sức lao động, khoa học công nghệ. Thị
trường đầu vào phát triển sẽ đảm bảo cung ứng kịp thời , đầy đủ, chất lượng
tốt, giá cả hợp lí các yếu tố cần thiết của quá trình sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay không phải mọi yếu tố đầu
vào của quá trình sản xuất tiểu - thủ công nghiệp đều được đảm bảo thông qua
hệ thống thị trường. Một mặt, do hệ thống đầu tư chưa được xây dựng và vận
hành đồng bộ, mặt khác việc đáp ứng các yếu tố đầu vào còn nhiều bất cập.
Vì vậy, khi phân tích nhân tố thị trường các yếu tố đầu vào không chỉ
dựa vào khả năng cung ứng các yếu tố sản xuất trên thị trường mà còn xem xét
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Mai
Trang 18
khả năng chính bản thân của từng ngành tiểu - thủ công nghiệp trong việc đáp
ứng nguồn lực trong quá trình sản xuất.
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Nếu thị trường các yếu tố đầu vào có
vai trò quan trọng trong việc đáp ứng các yếu tố cần thiết để thực hiện quá
trình sản xuất thì thị trường tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến sự
thành bại của quá trình đó. Nói tới thị trường tiêu thụ sản phẩm là nói tới trình
độ và mức độ nhu cầu của xã hội đối với sản phẩm, dịch vụ của các ngành sản
xuất kinh doanh. Chính nhu cầu, cơ cấu nhu cầu và xu thế vận động của chúng
đặt ra những mục tiêu cho việc xây dựng và chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ