MỤC LỤC
Trang
Lời giới thiệu
Báo cáo về Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
1.
Bối cảnh chính trị, văn hóa, lịch sử và kinh
tế - xã hội
1.1.
Các sự kiện lịch sử quan trọng
1.2.
Hệ thống kinh tế
1.3.
Hệ thống chính trị
1.4.
Các cơ quan khác
Kết luận
2.
3.1.
Tổ chức
3.2.
Mô hình
3.3.
Chức năng và Nhiệm vụ
3.4.
Quan hệ
3.5.
Cơ chế
3.6.
Các vấn đề về nghề nghiệp và tính minh bạch
Kết luận
4.
Hệ thống tòa án
4.8.
Bảo đảm nhiệm kỳ
4.9.
Giải thích luật
4.10. Hoạt động xét xử
4.11. Bồi thẩm viên/Hội thẩm nhân dân
4.12. Phân định ranh giới khu vực
4.13. Tính độc lập xét xử
4.14. Kháng cáo và giải quyết kháng cáo
4.15. Xác định vị trí
4.16. Quản lý tư pháp
4.17. Kiểm tra và giám sát
4.18. Các nhân viên khác của tòa án
Kết luận
5.
Thi hành án hình sự và dân sự
5.1.
Các loại thi hành án
5.2.
Tổ chức
Tổ chức
6.2.
Các quy định của Nhà nước
6.3.
Luật sư
6.4.
Đào tạo luật sư
6.5.
Kỷ luật luật sư
6.6.
Giải quyết tranh chấp
Kết luận
7.
Cải cách trong lĩnh vực tư pháp
7.1.
Sáng kiến
8.
Kết luận
8.1.
Các điểm mạnh và điểm yếu
8.2.
Những thách thức và vấn đề gây tranh cãi
8.3.
Những cải cách hiện tại
8.4.
Những vấn đề cần tiếp tục cải cách
Tài liệu tham khảo
Báo cáo về Indonesia
Danh mục các từ viết tắt
1.
Bối cảnh chính trị, văn hóa, lịch sử và kinh
tế - xã hội
1.1.
Chức năng và Nhiệm vụ
2.4.
Mối liên hệ với các cơ quan khác
2.5.
Cơ chế hoạt động
2.6.
Điều tra viên hình sự
Kết luận
3.
Cơ quan Công tố
3.1.
Tổ chức
3.2.
Mô hình
3.3.
4.4.
Chức năng và Nhiệm vụ
4.5.
Mối liên hệ với các cơ quan khác
4.6.
Đào tạo và Bồi dưỡng pháp luật
4.7.
Vấn đề nghề nghiệp
4.8.
Đảm bảo nhiệm kỳ
4.9.
Diễn giải Tư pháp
Trang | 4
4.10. Quá trình xét xử của Tòa án
4.11. Bồi thẩm viên
4.12. Phân định khu vực
5.6.
Quy trình thi hành án
5.7.
Cơ chế
Kết luận
6.
Luật sư và các Dịch vụ pháp lý khác
6.1.
Tổ chức
6.2.
Quản lý của Nhà nước
6.3.
Các luật sư
6.4.
Đào tạo và Bồi dưỡng Luật sư
7.5.
Thực hiện
7.6.
Đánh giá
7.7.
Khắc phục
7.8.
Giám sát
Kết luận
8.
Kết luận
8.1.
Điểm mạnh và điểm yếu
8.2.
Thách thức và tranh luận
Kết luận
2.
Điều tra hình sự
2.1.
Tổ chức
2.2.
Mô hình
2.3.
Chức năng, nhiệm vụ
2.4.
Quan hệ
2.5.
Cơ chế
2.6.
Điều tra viên hình sự
Trang | 6
Kết luận
4.
Hệ thống tòa án
4.1.
Vai trò, vị trí
4.2.
Tổ chức
4.3.
Mô hình
4.4.
Chức năng, nhiệm vụ
4.5.
Quan hệ
4.6.
Đào tạo và bồi dưỡng tư pháp
Các loại thi hành án
5.2.
Tổ chức
5.3.
Mô hình
5.4.
Chức năng, nhiệm vụ
5.5.
Quan hệ
5.6.
Quá trình
5.7.
Cơ chế
Kết luận
6.
7.1.
Sáng kiến cải cách
7.2.
Trách nhiệm
7.3.
Xây dựng mô hình
7.4.
Xem xét
7.5.
Thực hiện
7.6.
Đánh giá
7.7.
Giải quyết các vấn đề đặt ra
7.8.
1.
Bối cảnh chính trị, văn hóa, lịch sử và kinh
tế - xã hội
1.1.
Các sự kiện lịch sử chính
1.2.
Hệ thống kinh tế
1.3.
Hệ thống chính trị
1.4.
Các bên tham gia khác
Kết luận
2.
Điều tra hình sự
2.1.
Tổ chức
Mô hình
3.3.
Nhiệm vụ và chức năng
3.4.
Quan hệ
3.5.
Các cơ chế
3.6.
Các vấn đề về nghề nghiệp và tính minh bạch
Kết luận
Trang | 9
4.
Hệ thống tòa án
4.1.
Vai trò và vị trí
4.12. Bồi thẩm đoàn
4.13. Phân định khu vực
4.14. Tính độc lập tư pháp
4.15. Kháng cáo
4.16. Xây dựng vị trí của Tòa án
4.17. Quản trị tư pháp
4.18. Giám sát và trách nhiệm
4.19. Các nhân viên Tòa án khác
4.20. Chi phí kiện tụng
Kết luận
5.
Thi hành án Dân sự và Hình sự
5.1.
Loại thi hành án
5.2.
Tổ chức
5.3.
Mô hình
5.4.
Nhiệm vụ và chức năng
6.4.
Giáo dục và đào tạo luật sư
6.5.
Kỷ luật luật sư
6.6.
Giải quyết tranh chấp
Kết luận
7.
Cải cách lĩnh vực tư pháp
7.1.
Đề xuất
7.2.
Trách nhiệm
7.3.
Thiết kế
Những thách thức và vấn đề gây tranh cãi
8.3.
Các cải cách hiện tại
8.4.
Những vấn đề đặt ra cho cải cách trong tương
lai
Tài liệu tham khảo
Tài liệu trực tuyến về pháp luật Hàn Quốc
Báo cáo về Liên bang Nga
1.
Bối cảnh chính trị, văn hóa, lịch sử và kinh
Trang | 11
tế - xã hội
1.1
Các sự kiện lịch sử quan trọng
1.2
Hệ thống kinh tế
Cơ chế
2.6
Điều tra viên hình sự
Kết luận
3.
Viện kiểm sát
3.1
Tổ chức
3.2
Mô hình
3.3
Chức năng và nhiệm vụ
3.4
Quan hệ
3.5
4.6
Đào tạo và bồi dưỡng Thẩm phán
Trang | 12
4.7
Các vấn đề về nghề nghiệp
4.8
Điều kiện bảo đảm nhiệm kỳ làm việc
4.9
Giải thích pháp luật thông qua hoạt động xét
xử
4.10
Xét xử
4.11
Bồi thẩm viên và Hội thẩm viên
4.12
5.1
Các loại hình thi hành án
5.2
Tổ chức
5.3
Mô hình
5.4
Chức năng và nhiệm vụ
5.5
Quan hệ
5.6
Thủ tục
5.7
Cơ chế
Kết luận
Kết luận
7.
Cải cách khu vực tư pháp
7.1
Khởi xướng
7.2
Trách nhiệm
7.3
Đề cương
7.4
Tham gia ý kiến
7.5
Thực hiện
7.6
Đánh giá
7.7
Trang | 15
Báo cáo về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Những người thực hiện:
Phó Giáo sư Vivienne Bath, Đại học Tổng hợp Sydney
Phó Giáo sư Sarah Biddulph, Đại học Tổng hợp Melbourne
1. Bối cảnh chính trị, văn hóa, lịch sử và kinh tế - xã hội
1.1. Các sự kiện lịch sử quan trọng
Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) được thành
lập năm 1949 sau một giai đoạn dài chiến tranh trên lãnh thổ của
mình. Đầu tiên là giữa Trung Quốc và Nhật. Tiếp theo đó là giữa các
lực lượng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền Cộng hòa Trung
Hoa. Nước CHND Trung Hoa được thành lập bởi Đảng Cộng sản Trung Quốc
(ĐCSTQ hay Đảng CSTQ) dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông và nhiều
nhóm tướng lĩnh, cán bộ lãnh đạo khác nhau - những người đã tham gia
từ thời kỳ hình thành và lớn mạnh của ĐCSTQ, nắm quyền lãnh đạo và
hoạch định chính sách của Trung Quốc cho đến khi Đặng Tiểu Bình qua
đời vào năm 1997. Cho đến năm 1911, Trung Quốc vẫn còn là một đế chế
được các triều đại kế tiếp nhau trị vì với sự trợ giúp của bộ máy
quan liêu khắp cả nước gồm những người được bổ nhiệm sau khi đỗ đạt
tại các kỳ thi do triều đình tổ chức. Triều đại cuối cùng trị vì
Trung Quốc là nhà Thanh, có nguồn gốc từ Mãn Châu và về mặt dân tộc
không phải là người Hán Trung Hoa (nhóm dân tộc lớn nhất ở Trung
Quốc). Nhà Thanh lên ngôi từ năm 1644 kế tiếp triều đại nhà Minh.
hoàn cảnh Trung Quốc. Từ năm 1949, Đảng CSTQ - mặc dù có đôi lần bị
chia rẽ do bất đồng quan điểm nội bộ và đấu tranh phe phái - đã luôn
duy trì được địa vị thống trị của mình trong các lĩnh vực chính trị,
kinh tế và hành chính. Sự lãnh đạo của Đảng CSTQ đã được đánh dấu
bằng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng có liên quan đến sự phát triển
của hệ thống pháp luật và tư pháp. Cuộc vận động chống phái hữu
trong những năm 1957 -1958 do ông Mao phát động như một cách để loại
trừ tình trạng bất đồng quan điểm nội bộ, dẫn đến kết cục có khoảng
300.000 trí thức và những người có tư tưởng đổi mới (kể cả nhiều
thẩm phán và luật sư) bị trừng phạt hoặc đi đày ở vùng nông thôn.
Gần như cùng thời gian đó, chính quyền Trung Quốc bất hòa với phía
Liên Xô - nước đã cung cấp nguồn viện trợ lớn dưới hình thức trang
thiết bị, chuyên gia tư vấn và kỹ thuật - dẫn đến việc Liên Xô chấm
dứt viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia vào năm 1960. Thời gian cuối
những năm 1950 cũng chứng kiến sự khởi đầu của cái gọi là “Đại nhảy
vọt” - chính sách đẩy mạnh tập thể hóa, bố trí lại các ngành công
nghiệp và khuyến khích sự tự cung tự cấp - mà hậu quả là đã gây ra
nạn đói trên khắp nước Trung Quốc vào đầu những năm 1960. Năm 1966,
bắt đầu cuộc “Cách mạng Văn hóa”, kéo dài cho đến 1976. Trong thời
gian đó, dưới danh nghĩa chỉnh đốn tư tưởng chính trị, nhiều nhà trí
thức, doanh nhân và những người khác đã bị thanh trừng, tịch thu tài
sản hay đày về vùng nông thôn. Sự tàn phá của Cách mạng Văn hóa
khiến cho nhiều trường phổ thông và đại học phải đóng cửa, hoạt động
sản xuất và công nghiệp bị đình trệ, dẫn đến thiệt hại lớn về kinh
Trang | 17
tế, hệ thống pháp luật bị phá hủy và làm gia tăng sự cô lập của
Trung Quốc trên trường quốc tế.
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền
từng bước công nhận quyền sở hữu tư nhân. Lời nói đầu của Hiến pháp
năm 1982 (bản Hiến pháp thứ tư kể từ khi nước CHND Trung Hoa được
thành lập) tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ còn “ở giai đoạn đầu của chủ
nghĩa xã hội trong thời gian dài sắp tới”. Vì lẽ đó, mọi chính sách
chính thống phải thể hiện nhất quán rằng Trung Quốc cần phải được
xem như là một “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (XHCN)” (hơn
Trang | 18
là nền kinh tế thị trường cộng sản chủ nghĩa) và pháp luật cũng như
các chính sách phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ và tăng
cường nền kinh tế thị trường XHCN. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu, ví
dụ, đối phó với các hoạt động chống bán phá giá đối với hàng hóa
Trung Quốc ở nước ngoài, chính quyền Trung Quốc tích cực vận động
hành lang để được đối xử như một nền kinh tế thị trường đầy đủ. Lấy
ví dụ, như là món quà của chính quyền Úc trao cho Trung Quốc khi bắt
đầu các cuộc đàm phán về thỏa thuận thương mại tự do với Trung Quốc
năm 2004, Úc đã thừa nhận Trung Quốc là nền kinh tế thị trường cho
mục đích áp dụng pháp luật của Úc.
Mặc dù nội hàm của khái niệm nền kinh tế thị trường XHCN chưa
hoàn toàn rõ và trên nhiều phương diện, nền kinh tế Trung Quốc đã
hoạt động như một nền kinh tế thị trường nhưng Trung Quốc vẫn tiếp
tục duy trì một khu vực kinh tế thuộc sở hữu nhà nước có quy mô lớn.
Thêm nữa, các cơ quan chính quyền và tổ chức ĐCSTQ ở tất cả các cấp
vẫn đóng một vai trò tích cực trong hoạt động kinh tế chứ không chỉ
giới hạn ở vai trò truyền thống của chính quyền về lập kế hoạch,
điều chỉnh và quản lý các khu vực kinh doanh. Các cấp chính quyền
Trung Quốc và cá nhân các đảng viên, công chức tham gia trực tiếp
vào hoạt động kinh doanh, không chỉ thông qua các doanh nghiệp thuộc
sở hữu nhà nước, nơi mà chính quyền ở mọi cấp đóng vai trò chủ đầu
ảnh hưởng tới thương mại quốc tế, đầu tư nước ngoài cũng như hoạt
động của các nhà đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc (Xem Spence, 1990;
Chen Jianfu, 2008; Cotterell, 1988; DFAT website, 2010).
1.3. Hệ thống chính trị
Quyền lãnh đạo và thẩm quyền
Theo Hiến pháp, nước CHND Trung Hoa là “Nhà nước XHCN dưới nền
chuyên chính dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo trên cơ
sở liên minh công nông” (Điều 1). Đại hội đại biểu nhân dân toàn
quốc (Quốc hội) là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Điều 57).
Quốc hội bao gồm các đại biểu là những người, theo quy định của Hiến
pháp, được bầu từ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các
khu tự trị của Trung Quốc (Điều 59). Chủ tịch nước CHND Trung Hoa
(hiện là ông Hồ Cẩm Đào) do Quốc hội bầu ra nhưng theo Hiến pháp
không được trao nhiều quyền hạn độc lập. Cơ quan hành pháp tối cao
theo Hiến pháp là Quốc vụ viện (Chính phủ) do Thủ tướng đứng đầu
(hiện là ông Ôn Gia Bảo) (Điều 85). Tương tự, từng tỉnh, khu vực và
thành phố ở Trung Quốc có Hội đồng nhân dân (HĐND). Tuy nhiên, Trung
Quốc không phải là một liên bang mà là một quốc gia đơn nhất. Trung
Quốc thực hiện chế độ “dân chủ tập trung” theo Hiến pháp, theo đó
quyền lực được tập trung ở trung ương và các cơ quan chính quyền địa
phương được cơ quan cấp cao hơn giao quyền (mặc dù trong thực tiễn
điều này cũng có nghĩa là chính quyền địa phương cũng có quyền tự
chủ đáng kể) (Chen Jianfu, 2008, tr. 125).
Đảng CSTQ không có vai trò lớn trong Hiến pháp. Đảng chỉ được
đề cập trong Lời nói đầu khi nói đến “vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản”. Tuy nhiên, mọi người đều thống nhất rằng Đảng CSTQ là lực
lượng lãnh đạo Trung Quốc và các đại hội của Đảng Cộng sản, được tổ
chức 5 năm một lần, sẽ ra quyết định về những vấn đề chính sách quan
trọng và chính họ là mới là những nhà hoạch định chính sách và lãnh
đạo của Trung Quốc. Hệ thống chức vụ song song trong Đảng và chính
bầu cử dân chủ ở cấp thôn bản hay cấp “cơ sở” nhưng thử nghiệm này
chưa được áp dụng cho các cuộc bầu cử rộng hơn đối với các chức vụ
cao hơn.
Mục tiêu, mục đích và định hướng phát triển của khu vực tư pháp
Hệ thống tư pháp hiện hành của Trung Quốc được hình thành chủ
yếu từ khi bắt đầu quá trình cải cách từ năm 1978 cho đến 1979. Từ
thời điểm này cho thấy một sự phát triển hết sức nhanh chóng và toàn
diện, với việc hình thành một hệ thống pháp lý để điều chỉnh các
quan hệ xã hội quan trọng cũng như việc thực hiện và cải cách hệ
thống tư pháp, từ điều tra, truy tố đến xét xử. Cùng với hệ thống
tòa án, hệ thống pháp lý và xã hội khuyến khích việc áp dụng các hệ
thống giải quyết tranh chấp thay thế như trọng tài và hòa giải cũng
Trang | 21
như hệ thống khiếu nại ngoài tư pháp (hay còn gọi là “đơn thư và
kiểm tra”) để công dân Trung Quốc có thể khiếu nại các hoạt động của
các cơ quan hành chính. Cách thức hoạt động của hệ thống này sẽ được
giới thiệu chi tiết hơn tại các phần sau trong Báo cáo này.
Trong lịch sử, pháp luật Trung quốc dưới triều Thanh chủ yếu
mang đặc tính hình sự. Việc quy định tội phạm và hình phạt chủ yếu
dựa trên các khái niệm pháp lý và nguyên lý của Đạo Khổng. Cuối
triều Thanh, để cập nhật hệ thống pháp luật và đối phó với việc bất
tuân phục triều đình của các thế lực nước ngoài xâm chiếm Trung
Quốc, nhiều nỗ lực đã được triều đình nhà Thanh thực hiện nhằm mục
tiêu sửa đổi pháp luật hình sự cũng như xây dựng và thực hiện một hệ
thống luật thương mại vừa có thể chấp nhận ở Trung Quốc, vừa được
các thế lực nước ngoài đồng tình, đồng thời cho phép Trung Quốc hòa
nhập hoàn toàn vào thế giới (Bath, 1977). Những đạo luật mới này đã
tham khảo nhiều yếu tố thuộc cả hệ thống thông luật lẫn hệ thống
(Peerenboom, 2002, tr. 43 - 46). Trong thực tiễn, trước năm 1979, hệ
thống pháp luật của Trung Quốc do Đảng Cộng sản chi phối và kiểm
soát chặt chẽ, hoạt động xây dựng pháp luật diễn ra rất rời rạc,
hoạt động đào tạo luật sư hầu như bị đình chỉ, thẩm phán không được
đào tạo hiệu quả và không có quyền độc lập khi xét xử vụ án (xin xem
cụ thể hơn trong báo cáo này, xem Peerenboom, 2002 và Chen Jianfu,
2008.)
Ông Đặng Tiểu Bình, người tiếp quản việc điều hành Trung Quốc
trong bối cảnh hỗn loạn sau cuộc Cách mạng văn hóa, đã nhìn thấy sự
cần thiết phải có pháp luật. “Phải có pháp luật để mọi người tuân
theo; pháp luật phải được tuân thủ; pháp luật phải được thi hành
nghiêm ngặt; người vi phạm pháp luật phải bị xử lý.” (trích dẫn
trong Chen Jianfu, 2008, tr. 52). Điều đó không có nghĩa là pháp
luật tách rời hoặc đứng trên chính sách của Đảng Cộng sản. Tuy
nhiên, điều đó có nghĩa là phải có pháp luật thành văn. Mối quan hệ
giữa chính sách và Đảng Cộng sản, vai trò của luật thành văn và tòa
án và các cơ quan khác chịu trách nhiệm thi hành pháp luật tiếp tục
tạo nên những khó khăn thực tế ở Trung Quốc. Theo Chen Jianfu, cải
cách kinh tế, mở cửa nền kinh tế nhà nước và cuối cùng là “nền kinh
tế thị trường xã hội chủ nghĩa” đòi hỏi sự thay đổi trong hệ thống
pháp luật và hệ thống tư pháp và đã mở ra cuộc tranh luận giữa các
học giả về bản chất của pháp luật và việc phát triển hệ thống pháp
luật cũng như tư pháp. Năm 1999, Hiến pháp sửa đổi (Điều 5) đã quy
định rằng: “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thực hiện quản lý theo pháp
luật và xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.” Yêu cầu
cải cách càng thêm mạnh mẽ khi Trung Quốc gia nhập WTO, đòi hỏi phải
sửa đổi cơ bản pháp luật thương mại và kinh tế của Trung Quốc, cam
kết minh bạch và tăng cường sự tham gia của Trung Quốc với cộng đồng
quốc tế và gia nhập các thỏa ước quốc tế quan trọng (Chen Jianfu,
2008, tr. 63 - 66; Bath, 2009).
các vấn đề liên quan đến quyền tự chủ quốc gia, thành lập và hoạt
động của cơ quan dân cử, chính phủ, tòa án và kiểm sát, luật hình
sự, việc tước các quyền chính trị hoặc tự do của công dân, việc tịch
thu tài sản không thuộc sở hữu nhà nước, các thiết chế dân sự cơ
bản, hệ thống kinh tế, thuế, hải quan, hệ thống tài chính và ngoại
thương, hệ thống tranh tụng và trọng tài. Ủy ban thường vụ Quốc hội
có trách nhiệm giải thích Hiến pháp, giải thích (và sửa đổi) luật
(Điều 67 Hiến pháp). Các văn bản giải thích luật cũng có hiệu lực
như luật (Điều 74 Luật Ban hành văn bản pháp luật). Việc trao quyền
giải thích luật cho Ủy ban thường vụ Quốc hội mà không phải cho tòa
án khiến cho tòa án gặp nhiều khó khăn khi gặp phải những văn bản
pháp luật do nhiều cấp chính quyền ban hành.
Quốc vụ viện là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất (Hiến
pháp, Điều 85), không chỉ có quyền trình các đề xuất lên Quốc hội và
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc vụ viện còn có quyền thông qua các
biện pháp hành chính, quy định, quy tắc hành chính, ban hành lệnh và
quyết định. Các quy định hành chính được ban hành để điều chỉnh
những vấn đề cần thiết nhằm thi hành pháp luật (chẳng hạn như Quy
định thi hành Luật Hợp đồng lao động) hay những vấn đề thuộc thẩm
quyền riêng của Quốc vụ viện theo Điều 89 của Hiến pháp, như quy
định sự lãnh đạo thống nhất, các vấn đề về kinh tế, giáo dục, khoa
Trang | 24