XUNG ĐỘT PHÁP LUÂT VỀ XÁC ĐỊNH,
ĐỊNH DANH TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ
VIỆT NAM
Tóm tắt: Xung đột pháp luật về xác định, định danh là một nội dung trọng tâm trong Tư
pháp quốc tế. Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập, xung đột pháp luật về xác định, định
danh càng hay xảy ra. Thế nhưng, theo tác giả, ngoài lĩnh vực động sản và bất động sản,
Tư pháp quốc tế Việt Nam còn thiếu giải pháp chung cho xung đột pháp luật về xác định,
định danh. Để hoàn thiện mảng pháp luật này, tác giả cho rằng nên xác định, định danh
quan hệ tranh chấp có yếu tố nước ngoài theo pháp luật của Việt Nam. Trong khi chờ đợi
việc luật hoá giải pháp này, Toà án nhân dân tối cao có thể ra thông tư hoặc công văn
hướng dẫn áp dụng luật hoặc sử dụng một vụ việc cụ thể để làm án lệ.
Xung đột pháp luật về xác định, định danh là hiện tượng mà theo đó một vấn đề pháp lý có
yếu tố nước ngoài được sắp xếp theo pháp luật của Toà án (pháp luật của quốc gia có toà
án xét xử vụ việc đóng ở đó) vào phần phạm vi của một quy phạm xung đột trong khi đó
pháp luật nước ngoài liên quan sắp xếp vấn đề này vào phần phạm vi của một quy phạm
xung đột khác [1]. Là một hiện tượng chung của Tư pháp quốc tế, cho nên xung đột pháp
luật về xác định, định danh cũng tồn tại trong Tư pháp quốc tế Việt Nam. Tuy nhiên chúng
ta chưa có giải pháp đầy đủ cho vấn đề xung đột pháp luật về xác định, định danh. Hiện
nay, pháp luật Việt Nam đã có giải pháp nhưng chỉ giới hạn ở lĩnh vực phân biệt động sản
và bất động sản, trong khi đó đây chỉ là một phần nhỏ của hiện tượng xung đột pháp luật
về xác định, định danh [2]. Thiếu sót này là đáng tiếc và việc bổ khuyết là cần thiết. Nếu
không, đây có thể là môi trường phát triển hiện tượng áp dụng không thống nhất các quy
phạm xung đột [3].
I. Vấn đề xung đột pháp luật về xác định, định danh ở Việt Nam
1. Trong lĩnh vực động sản và bất động sản
"Các phạm trù "động sản" và "bất động sản" không phải đã được hiểu một cách thống
nhất trong các hệ thống pháp luật hiện nay trên thế giới. Do đó thường phát sinh xung đột
pháp luật về định danh tài sản" [4]. Ở đây, xung đột pháp luật về xác định, định danh xuất
hiện khi một quan hệ tài sản được xếp theo pháp luật của toà án vào quy phạm điều chỉnh
hợp với tinh thần của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Khoản 3 Điều 104 điều chỉnh
quan hệ ly hôn về bất động sản là một ngoại lệ của Khoản 1 Điều 104).
Trong trường hợp quan hệ động sản của việc ly hôn thuộc phần phạm vi của quy phạm
xung đột thiết lập tại Khoản 1 Điều 104 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, xung đột
pháp luật về xác định, định danh có thể xuất hiện. Ví dụ: công dân Pháp A và công dân
Việt Nam B kết hôn với nhau, thường trú tại Việt Nam và có một số tài sản C ở Pháp. Sau
một thời gian chung sống ở Việt Nam, A và B xin ly hôn. Theo pháp luật Việt Nam, tài sản
C là bất động sản; trong khi đó, theo pháp luật Pháp, đây là động sản. Nếu xác định, định
danh tài sản theo pháp luật Pháp, tài sản C là động sản và lúc đó pháp luật Việt Nam sẽ
được chọn để điều chỉnh, giải quyết vì Khoản 1 Điều 104 được áp dụng. Nếu xác định
định danh tài sản theo pháp luật Việt Nam, tài sản C là bất động sản và lúc đó pháp luật
Pháp sẽ được ấn định để điều chỉnh, giải quyết vì Khoản 3 Điều 104 được áp dụng. Trước
hiện tượng xung đột pháp luật về xác định, định danh tài sản này, Khoản 3 Điều 833 BLDS
cho lời giải đáp: Chúng ta phải xác định, định danh tài sản theo pháp luật nơi có tài sản.
Trong ví dụ, tài sản C ở Pháp; vậy, phải xác định, định danh theo pháp luật Pháp. Điều đó
có nghĩa là quy phạm xung đột của Khoản 1 Điều 104, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 được áp dụng vì tài sản C là động sản và lúc đó pháp luật Việt Nam sẽ được chọn để
điều chỉnh, giải quyết tranh chấp.
2. Trong những lĩnh vực khác
Tư pháp quốc tế nước ta đã có giải pháp cho xung đột pháp luật về xác định, định danh
trong lĩnh vực động sản và bất động sản, nhưng còn thiếu giải pháp cụ thể trong những lĩnh
vực khác.
Chúng tôi xin nêu hai ví dụ của xung đột pháp luật về xác định, định danh có thể xảy ra mà
hiện nay pháp luật nước ta chưa có giải pháp cụ thể: Xung đột pháp luật về xác định, định
danh trong lĩnh vực thời hiệu khởi kiện và trong lĩnh vực kết hôn.
a. Trong lĩnh vực thời hiệu khởi kiện
Theo Khoản 2 Điều 834 của BLDS Việt Nam, "quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp
đồng dân sự được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có
thoả thuận khác".
quốc tế Đức, "việc giám hộ" được điều chỉnh bởi pháp luật của nước mà chủ thể được
giám hộ có quốc tịch. Theo E. Rabel, chúng ta cần hiểu thuật ngữ "việc giám hộ" không chỉ
theo pháp luật Đức mà theo cả pháp luật các nước khác. Cụ thể là, cần phải hiểu tất cả các
chế định pháp lý có mục đính bảo vệ người không có năng lực hành vi dân sự trong pháp
luật Đức và pháp luật nước ngoài. Theo tác giả XU Donggen, giải pháp này dường như
được sử dụng trong thực tiễn xét xử tại các toà án Trung Quốc [17].
2. Kiến nghị hoàn thiện
a. Pháp luật nào được áp dụng để xác định, định danh quan hệ có tranh chấp?
Trong thực tế, giải pháp xác định, định danh theo khái niệm độc lập ít có tính khả thi. áp
dụng giải pháp này là một gánh nặng quá sức đối với Toà án vì thiếu thông tin chính xác về
pháp luật nước ngoài. Mặt khác, tiêu chí của việc thiết lập các khái niệm độc lập không rõ
ràng. Phải nghiên cứu bao nhiêu nước để tìm ra một khái niệm độc lập? Quan điểm của các
nước thường khác nhau và thay đổi theo thời gian, vậy khái niệm độc lập cũng phải thay
đổi theo. Vì thiếu thông tin về pháp luật các nước, mỗi thẩm phán có thể tạo cho mình một
khái niệm riêng và điều đó có thể dẫn tới sự không thống nhất trong việc áp dụng luật. Vì
vậy, chúng ta không nên theo giải pháp này, và cũng xin nêu thêm là giải pháp này không
được sử dụng ở Đức, mặc dù nó được sinh ra từ mảnh đất này.
Trái với giải pháp xác định, định danh theo khái niệm độc lập, giải pháp xác định, định
danh quan hệ có tranh chấp theo pháp luật nước ngoài liên quan có nhiều tính khả thi. ở
đây, Toà án chỉ cần nghiên cứu pháp luật của một nước. Song, giải pháp này có một nhược
điểm quan trọng là chứa đựng tính luẩn quẩn. Xác định, định danh quan hệ tranh chấp có
yếu tố nước ngoài là tiền đề cho việc giải quyết xung đột pháp luật [18]; cụ thể, ở đây là
tiền đề cho việc áp dụng quy phạm xung đột. Trong giai đoạn xác định, định danh, chúng
ta chưa biết pháp luật nước nào được chọn để điều chỉnh, giải quyết quan hệ có tranh chấp
vì chúng ta đang đi tìm pháp luật nước nào sẽ được ấn định để điều chỉnh, giải quyết quan
hệ có tranh chấp này: Pháp luật của Toà án hay pháp luật nước ngoài liên quan? Việc chọn
pháp luật nước ngoài liên quan được áp dụng để xác định, định danh quan hệ có tranh chấp
đồng nghĩa với việc thừa nhận pháp luật nước này đã được ấn định để điều chỉnh, giải
Tóm lại, khi áp dụng các quy phạm xung đột của Tư pháp quốc tế Việt Nam, ngoài lĩnh
vực động sản và bất động sản, chúng ta nên xác định, định danh quan hệ tranh chấp có yếu
tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Đây là giải pháp có nhiều tính khả thi và có cơ sở
lý luận pháp lý.
b. Xác định, định danh quan hệ có tranh chấp theo pháp luật của Toà án
Nếu giải pháp xác định, định danh quan hệ có tranh chấp theo pháp luật của Toà án được
áp dụng, chúng ta có lời giải đáp cho hai ví dụ liên quan đến thời hiệu khởi kiện và việc kết
hôn nêu trên như sau. Trong ví dụ liên quan đế thời hiệu khởi kiện, đây là vấn đề thuộc
phạm vi của quy phạm điều chỉnh tố tụng dân sự của Toà án và lúc đó pháp luật tố tụng
Việt Nam sẽ được áp dụng để điều chỉnh, giải quyết. Toà án sẽ trả lại đơn kiện cho bên
Pháp vì theo luật tố tụng Việt Nam, thời hiệu khởi kiện đã hết. Trong ví dụ liên quan đến
việc kết hôn, hình thức dân sự hay hình thức tôn giáo của việc kết hôn thuộc phạm vi của
quy phạm điều chỉnh nghi thức kết hôn và lúc đó pháp luật Việt Nam được áp dụng để điều
chỉnh, giải quyết. ở đây, Toà án thừa nhận tính hợp pháp của việc kết hôn, vì pháp luật Việt
Nam chỉ yêu cầu nghi thức dân sự.
Một tiện lợi khi áp dụng giải pháp xác định, định danh quan hệ có tranh chấp theo pháp
luật của Toà án là phần lớn các loại quan hệ trong phần phạm vi của quy phạm xung đột
đều tồn tại trong luật quốc nội. Việc sử dụng giải pháp này sẽ làm đơn giản hoá công việc
của Toà án. Khi xác định, định danh một vấn đề cụ thể có yếu tố nước ngoài, chúng ta chỉ
cần xem những loại quan hệ tương đương trong luật quốc nội. Ví dụ vấn đề hình thức của
hợp đồng dân sự trong phần phạm vi của Khoản 1 Điều 834 của BLDS Việt Nam 1995
(K1 Đ770 BLDS 2005) cũng tồn tại trong luật quốc nội, cụ thể là Điều 133 và Điều 400
BLDS Việt Nam 1995 (Đ124 và Đ401 BLDS 2005). Tương tự, những vấn đề liên quan
đến việc ly hôn trong phần phạm vi của Khoản 1 Điều 104 của Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000 cũng tồn tại trong luật quốc nội Việt Nam, cụ thể là Chương X Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000.
Một khó khăn có thể xuất hiện là: trong tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên đưa ra
một vấn đề tồn tại ở pháp luật nước ngoài nhưng không tồn tại ở Việt Nam. Ví dụ, tranh
chúng ta và chúng ta hoàn toàn tự do trong phần phán quyết. Vậy, đối với tranh chấp liên
quan đến một chế định pháp lý tồn tại trong pháp luật nước ngoài và không tồn tại trong
pháp luật Việt Nam, giải pháp xác định, định danh quan hệ có tranh chấp theo pháp luật
Việt Nam có thể được áp dụng.
Tổng quát lại, chúng ta có thể kết luận là: hiện nay, ngoài lĩnh vực động sản và bất động
sản, Tư pháp quốc tế nước ta còn thiếu giải pháp chung cho xung đột pháp luật về xác
định, định danh. Để hoàn thiện Tư pháp quốc tế nước ta về vấn đề này, một giải pháp có
tính khả thi cao và có cơ sở lý luận pháp lý là xác định, định danh quan hệ có tranh chấp
theo pháp luật của Toà án (cụ thể ở đây là theo pháp luật Việt Nam) [19]. Đây là một giải
pháp được thừa nhận và bộ luật hoá ở Kê-béc (Canađa). ở Pháp, giải pháp này được thừa
nhận trong thực tiễn xét xử từ 50 năm nay mà không cần luật hóa. Theo chúng tôi, chúng ta
nên luật hoá và trong khi chờ đợi, Toà án tối cao có thể thừa nhận giải pháp này thông qua
thông tư hoặc công văn hướng dẫn áp dụng luật như đã làm trong những vấn đề
khác [20] hoặc sử dụng một vụ việc cụ thể để làm án lệ