Phát triển ngành dịch vụ - kinh nghiệm trung quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam - Pdf 32

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
1.Sự cần thiết của đề tài
Trong thế kỷ XXI, xu thế chung của mọi nền kinh tế trên thế giới là hớng tới
toàn cầu hoá và quốc tế hoá các thị trờng dịch vụ, đa tăng trởng dịch vụ lên hàng đầu
và trở thành tăng trởng của ngành công nghiệp sạch cho vấn đề phát triển kinh tế và
đảm bảo các vấn đề môi trờng và xã hội. Sức mạnh của ngành dịch vụ trong nền kinh
tế ngày càng tăng. Vào năm 2001, bình quân ngành dịch vụ chiếm 72% GDP của các
nớc phát triển, 52% GDP của các nớc đang phát triển và 57% GDP của các nớc CEE.
Dịch vụ chiếm 2/3 tổng dòng FDI vào trong những năm 2001 - 2002, đạt bình quân
500 tỷ USD/năm.
Nhận thức đợc những vai trò và tiềm năng phát triển kinh tế to lớn của lĩnh vực
dịch vụ đem lại, ngày 24 tháng 12 năm 2004 Thủ tớng Chính phủ ban hành chỉ thị số
49/2004/CT-TTg về phát triển dịch vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5
năm 2006 - 2010 nhằm nâng cao vị trí và vai trò của khu vực dịch vụ. Ngành dịch vụ
đợc xem là một trong những ngành mũi nhọn để phát triển kinh tế đất nớc trong đó
tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng nh du lịch, bảo hiểm, vận tải
hàng không, vận tải biển, kho bãi, chuyển tải, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, bu
chính viễn thông, xây dựng, xuất khẩu lao động... khuyến khích phát triển dịch vụ
mới có sức cạnh tranh cao.
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài "Phát triển ngành
dịch vụ - kinh nghiệm Trung Quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam"
2. Tình hình nghiên cứu
Có rất nhiều nghiên cứu và tài liệu từ trớc đến nay đề cập đến vai trò và sự phát
triển của ngành dịch vụ của Việt Nam và các quốc gia khác trên thế giới. Nhng các tài
liệu và nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu dịch vụ dới góc độ phục vụ quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cũng nh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành dịch vụ, có
công trình nghiên cứu ngành dịch vụ trong quá trình điều chỉnh chính sách kinh tế hay
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
điều chỉnh cơ cấu kinh tế Vì vậy, hiện cha có công trình nào đa ra một hệ thống hoàn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Khoá luận tốt nghiệp có 4
chơng:
Chơng1: Tổng quan về ngành dịch vụ và sự phát triển của ngành dịch vụ
Chơng 2: Phát triển dịch vụ ở Trung Quốc bài học kinh nghiệm đối với Việt
Nam.
Chơng 3: Thực trạng ngành dịch vụ ở Việt Nam
Chơng 4: Một số giải pháp phát triển ngành dịch vụ ở Việt Nam
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng 1
Tổng quan về ngành dịch vụ và
sự phát triển của ngành dịch vụ
1.1.Khái niệm, đặc điểm của dịch vụ
Theo Các Mác, dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá nên dịch vụ
với t cách là sản phẩm cũng là một loại hàng hoá và có thể hiểu dịch vụ là giá trị và
giá trị sử dụng.
Vào những thập niên 1930 của thế kỷ XX, Allan Fisher và Collin Clark là những
ngời đầu tiên đề xuất chia nền kinh tế thành 3 lĩnh vực: lĩnh vực một bao gồm nông
nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, lĩnh vực hai bao gồm công nghiệp, và lĩnh vực ba là
những hoạt động kinh tế đặc biệt không đợc liệt kê vào lĩnh vực một và lĩnh vực hai.
Nh vậy ngay cả đến tên gọi của lĩnh vực dịch vụ cũng còn cha xuất hiện và ngời ta
chỉ hiểu nó nh là một phần dôi ra của nền kinh tế khi mà lĩnh vực sản xuất chế tạo đ-
ợc hiểu nh nền tảng của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Năm 1977, khi vai trò của ngành dịch vụ ngày càng tăng và nhu cầu dịch vụ trở
nên nhiều hơn, T.P. Hill đã cố gắng đa ra định nghĩa về dịch vụ nh sau Dịch vụ là sự
thay đổi về điều kiện hay trạng thái của ngời hay hàng hoá thuộc về sở hữu của một
chủ thể kinh tế nào đó do sự tác động của chủ thể kinh tế khác với sự đồng ý trớc của
ngời hay chủ thể kinh tế ban đầu. Song định nghĩa này còn nhiều thiếu sót và cha
đáp ứng đợc tính chất trừu tợng và sự vận động không ngừng của lĩnh vực dịch vụ.
Cho đến nay cha có một định nghĩa về dịch vụ đợc chấp nhận trên phạm vi toàn

phẩm cụ thể, không nhìn thấy đợc và do đó không thể xác định chất lợng dịch vụ trực
tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật đợc lợng hóa.
Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra
đồng thời. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất hàng hóa tách khỏi lu thông và tiêu
dùng. Do đó hàng hóa có thể đợc lu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo
nhu cầu của thị trờng. Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với
tiêu dùng dịch vụ. Thí dụ với dịch vụ t vấn đầu t, khi chuyên gia về đầu t t vấn khách
1
Liberalizing international Transactions in Services, tr.1
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng cũng là lúc khách hàng tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ t vấn do ngời
chuyên gia này cung ứng.
Thứ ba, không thể lu trữ đợc dịch vụ. Sự khác biệt này là do sản xuất và tiêu
dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lu giữ
trong kho sau đó mới tiêu dùng.
Thứ t, dịch vụ có tính đa chủng: tính đa chủng của dịch vụ có nghĩa là mỗi sản
phẩm dịch vụ đều khác với những sản phẩm dịch vụ đợc tạo ra trớc đó. Điều này xảy
ra khi quy trình sản xuất cho mỗi khách hàng đều khác nhau vì mỗi khách hàng phản
ứng hay hoạt động theo một cách riêng, mỗi tơng tác giữa khách hàng và ngời cung
cấp dịch vụ trong một chừng mực nào đó là độc nhất. Đây là kết quả của tính giao
tiếp cao với khách hàng của sản phẩm dịch vụ.
Hộp 1. Ví dụ về sự tơng phản của ngành hoạt động dịch vụ
và hoạt động sản xuất
Các hoạt động sản xuất
Tiền sảnh Hậu đờng
Khách hàng
Hàng hoá gởi đến khách hàng Bán hàng và tiếp
thị
Sản xuất

xuất
Dịch vụ tài chính: Ngân hàng, bảo hiểm, cho thuê tài chính
Vận chuyển và phân phối: Biển, đờng sắt, xe tải, hàng không,
buôn sỉ, kho vận, phân phối
Công nghiệp và kỹ thuật: Hợp đồng đặc quyền và bán buôn, dịch
vụ thiết kế máy, thiết kế kiến trúc, đấu thầu xây dựng, những dịch
vụ quản lý khác, kế toán
Những dịch vụ trung gian khác: vi tính, xử lý dữ liệu, truyền
thông, quảng cáo, địa ốc, du lịch, an ninh, bu phẩm
Dịch vụ cho khách
hàng
Buôn lẻ
Chăm sóc y tế
Du lịch, giải trí
Giáo dục
Những dịch vụ xã hội khác (bao gồm cả dịch vụ công)
Những dịch vụ cá nhân khác (nhà hàng, tiệm giặt,)
*Cán cân thanh toán của Việt Nam hiện có 6 loại dịch vụ là: vận tải đờng biển
và đờng hàng không, bảo hiểm, bu chính viễn thông, ngân hàng, du lịch, và dịch vụ
khác.
*Theo tiêu chí phân loại của Riddle ghi nhận những ngành dịch vụ với vai trò là
yếu tố đầu vào quan trọng cho xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ hớng tới mục tiêu tăng
trởng kinh tế nhanh thì ngành dịch vụ bao gồm:
-Những ngành dịch vụ truyền thống (dịch vụ hạ tầng cơ sở) nh giao thông vận
tải, tài chính, bảo hiểm đóng vai trò làm những nhân tố đầu vào hỗ trợ chính thức
cho kinh doanh.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
-Những ngành dịch vụ gắn liền với công nghệ hiện đại có tác động mạnh đến sự tăng
trởng kinh tế hiện nay là : dịch vụ viễn thông, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ

lợng cao.
-Tỷ trọng ngành dịch vụ nâng cao phải đợc xây dựng trên cơ sở một nền kinh tế sản
xuất vật chất phát triển mạnh
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của nền kinh tế, năng lực sáng tạo cái mới của
khoa học kỹ thuật là có hạn và sự đóng góp của kỹ thuật trong quá trình sản xuất xã hội
ở vào thời kỳ đó chỉ giữ vai trò thứ yếu. Sự đóng góp của các yếu tố tài nguyên thiên
nhiên, vốn, sức lao động, ... là nguồn gốc tăng trởng kinh tế. Những yếu tố này trở thành
những yếu tố đầu vào quan trọng cho ngành công nghiệp và nông nghiệp là những ngành
lấy sản phẩm trực tiếp từ tự nhiên và chế biến sản phẩm tự nhiên. Do vậy, trong những
giai đoạn đầu ngành chủ đạo hay trụ cột của sự phát triển kinh tế là nông nghiệp và công
nghiệp. Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, việc tăng cờng đầu t vào nghiên cứu
phát triển khoa học, tổ chức quản lý, vận hành,... ngày càng đợc chú trọng và nâng cao
cha từng thấy trong quá trình sản xuất, công cụ lao động và đối tợng lao động đã thay
đổi nội dung truyền thống của nó, hàm lợng khoa học kỹ thuật, công nghệ và thông tin
tăng lên rất nhiều, tính di chuyển của sức sản xuất mạnh. Thích ứng với xức sản xuất có
hàm lợng thông tin cao và có tính di chuyển mạnh, phơng thức tổ chức và cơ cấu của nền
kinh tế cũng nảy sinh những thay đổi tơng ứng, đầu vào của các yếu tố sản xuất và sự
phân bổ các ngành nghề này càng nghiêng về các ngành công nghệ mới và ngành dịch
vụ, khiến cho tỷ trọng của các ngành nghề đó trong cơ cấu kinh tế tăng lên vô cùng
mạnh mẽ.
Nh vậy, sự mở rộng ngành dịch vụ phải đợc xây dựng trên cơ sở nâng cao năng
suất lao động của lĩnh vực sản xuất vật chất. Năng suất lao động tơng đối cao của công
nghiệp và nông nghiệp, dùng một số lợng lao động hạn chế nào đó để làm ra nhiều sản
phẩm đã tạo cho sự phát triển của ngành dịch vụ có một cơ sở vững chắc, thu hút mạnh
mẽ sức lao động từ lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp di chuyển đến, tăng nhanh tốc
độ phát triển của nó cũng nh tăng tỷ trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân. Nh vậy,
những biến động về cơ cấu kinh tế hình thành do các ngành trực tiếp sản xuất vật chất
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giải phóng vốn và sức lao động, còn ngành dịch vụ thì không ngừng thu hút ngời và vốn

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhằm đáp ứng sự phát triển nhảy vọt của sức sản xuất cũng nh sức tiêu dùng của
xã hội, hệ thống dịch vụ không còn thụ động nh trớc đây mà phát triển một cách chủ
động và tích cực. Tính linh hoạt và năng động của cơ chế thị trờng đã làm thay đổi
các hoạt động dịch vụ truyền thống, đồng thời làm nảy sinh nhiều loại hình dịch vụ
mới. Cơ chế thị trờng cũng đặt tất cả các hoạt động dịch vụ vào môi trờng cạnh tranh
sôi động, khiến các ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng cả bề rộng lẫn
chiều sâu, trên cơ sở cải tiến kỹ thuật và phong cách phục vụ văn minh.
Nếu nh trớc đây, sự phân biệt rạch ròi giữa ba ngành là tơng đối rõ ràng thì ngày
nay ranh giới giữa chúng ngày càng mờ nhạt. Đó là vì nền sản xuất hiện đại với hiệu
quả kinh tế cao, đã chú ý nhiều đến việc sáng tạo ra cái mới, chất lợng và mạo hiểm,
những hoạt động dịch vụ thích ứng với điều đó nh nghiên cứu khoa học, đào tạo, điều
tra, nghiên cứu, tăng lên, một số hoạt động hình thành nên những ngành nghề mới
độc lập, một số nằm trong nội bộ ngành hay xí nghiệp, những mạng lới dịch vụ thông
tin nhiều tầng nấc đó không đơn thuần là đối tợng dịch vụ, phơng thức và nội dung
dịch vụ nữa thờng rất khó phân biệt chúng thuộc ngành nào. Lại thêm cách kinh
doanh kiểu nhà máy của nông nghiệp và dịch vụ cùng phơng châm đa dạng hoá kinh
doanh của các công ty khiến ranh giới giữa các ngành ngày càng lu mờ. Ví dụ, trong
phân loại tiêu chuẩn ngành nghề ở Mỹ, các ngành cấp nớc, điện, khí đốt ban đầu
thuộc công nghiệp, sau chuyển thành dịch vụ,
Tầm quan trọng của khu vực dịch vụ tại bất cứ quốc gia nào đều một phần tuỳ
thuộc vào giai đoạn phát triển kinh tế đơng thời. Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau,
trình tự về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế không nhất thiết phải lần lợt trải qua
từng giai đoạn nêu trên. Thực tế cho thấy nhiều nớc đã bỏ qua hoặc đi xuyên qua một
hay hai giai đoạn và họ đã thành công. Đó là các nớc Singapore, Hàn Quốc, Thái Lan.
Ngày nay, nhiều nớc đã đặt ngành dịch vụ vào vị trí hàng đầu, là mũi nhọn trong chiến l-
ợc phát triển kinh tế - xã hội của mình.
1.4. Vai trò và tầm quan trọng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế hiện đại
Phát triển và nâng cao chất lợng các ngành dịch vụ trớc hết nhằm đáp ứng nhu
cầu của xã hội, trực tiếp góp phần nâng cao chất lợng cuộc sống dân c. Khi mức thu

(72%) và Mỹ (76%). Hơn nữa, kể cả trong sản xuất hàng hóa, các đầu vào dịch vụ
cũng chiếm phần lớn trong trị giá gia tăng (tới 70%).
-Tổng tỷ trọng và giá trị thơng mại dịch vụ quốc tế ngày càng tăng
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đến năm 1996, thơng mại dịch vụ thế giới đã vợt qua con số 1,3 nghìn tỷ USD
với tốc độ tăng trởng trung bình hàng năm bằng hoặc cao hơn tốc độ tăng của thơng
mại hàng hóa. Tổng giá trị thơng mại dịch vụ những năm đầu thế kỷ 21 đã tăng gấp 4
lần so với tổng giá trị thơng mại dịch vụ năm 1980. Giá trị thơng mại dịch vụ năm
2002 đạt 2.900 tỷ USD, chiếm 20% tổng giá trị thơng mại thế giới. Tính chung cả
giai đoạn 1980 2002, hàng năm thơng mại dịch vụ trên thế giới tăng trung bình
9%, cao hơn tốc độ 6% của thơng mại hàng hoá. Về đầu t, FDI vào khu vực dịch vụ
chiếm khoảng 24% trong tổng FDI năm 1970, đến năm 1990 chiếm 50%, đến năm
2002 tỷ lệ này tăng lên hơn 60% giá trị đầu t trực tiếp nớc ngoài và đạt bình quân 500
tỷ USD/năm trong giai đoạn từ năm 2000 2004. Trong khi đó FDI toàn cầu giảm
liên tục từ năm 2000 đạt 1400 tỷ, giảm 41% năm 2001, 20,5% năm 2002 và 25%
năm 2003 và chỉ phục hồi vào năm 2004 với mức 755 tỷ. Mỹ, Liên minh Châu Âu,
Nhật Bản là những nớc có sức mạnh cạnh tranh lớn trong các lĩnh vực nh tài chính,
viễn thông, vận tải và các nớc này đang tăng cờng vị trí của mình trong thơng mại
dịch vụ nhiều hơn là thơng mại hàng hoá.
Thị phần trong thơng mại dịch vụ thế giới của các nớc đang phát triển và đang
chuyển đổi ngày càng tăng, trong đó tăng nhanh nhất là xuất khẩu những dịch vụ
khác, nh dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ nghề nghiệp, viễn thông, xây dựng,
dịch vụ tài chính, dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế
*Về những lĩnh vực dịch vụ cụ thể:
Dịch vụ cơ sở hạ tầng: Những dịch vụ hạ tầng cơ sở (nh dịch vụ công ích, xây
dựng, vận tải, viễn thông, dịch vụ tài chính,...) có tác dụng hỗ trợ cho tất cả các loại
hình kinh doanh. Trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ thì dịch vụ hạ tầng là dịch vụ đầu
vào quan trọng nhất cho toàn bộ lĩnh vực dịch vụ và tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Phát triển đợc các dịch vụ hạ tầng sẽ nâng cao đợc năng lực cạnh tranh cho các ngành

trớc tiên, rồi đến Sydney, Hong Kong, Seoul, Shanghai, Singapore, Thái Lan,
Malaysia Bombay, Moscow, Berlin, Paris, London vợt qua Đại Tây Dơng đến
Mỹ, Canada không lúc nào ngừng hoạt động.
-Dịch vụ viễn thông. Đây là một dịch vụ công cộng cơ bản cho mọi nền kinh tế,
và là xa lộ để qua đó thực hiện phần lớn những trao đổi dịch vụ. Khả năng cạnh
tranh của các nền kinh tế quốc gia phụ thuộc nhiều vào khả năng có thể truy nhập vào
các mạng viễn thông một cách nhanh chóng, dễ dàng và không quá tốn kém. Tốc độ
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và hiệu quả trao đổi thông tin không chỉ ảnh hởng tới tất cả những giao dịch kinh
doanh, mà mạng lới viễn thông hiện đại cũng thúc đẩy cho ba nội dung chuyển dịch
quan trọng trong cơ cấu ngành:
a) Những dịch vụ cơ bản nh y tế và giáo dục có thể đợc cung cấp dới hình thức
y tế từ xa và giáo dục từ xa, nhờ đó có thể cung cấp các dịch vụ chuyên môn có
chất lợng cao tới những vùng dân c xa xôi hẻo lánh nhất nhằm thu hẹp khoảng cách
về mức sống giữa các nền kinh tế phát triển với các nền kinh tế đang phát triển, đồng
thời tạo điều kiện để dân c nông thôn, vùng sâu, vùng xa cũng đợc sử dụng các dịch
vụ.
b) Khả năng có những cơ cấu lao động phân tán (làm việc từ xa), cho phép
con ngời có thể làm việc cho những tổ chức lớn từ những cộng đồng nhỏ. Xu hớng
này rất quan trọng để duy trì và bảo vệ các cộng đồng ở vùng xa (và nhờ vậy giảm áp
lực về dân số ở những vùng đô thị lớn) thông qua tăng thêm khả năng lựa chọn việc
làm.
c) Sự hình thành những hoạt động hậu văn phòng gắn với việc làm kỹ năng
cao là một giải pháp góp phần hạn chế di dân.
Hiện nay, sự liên kết giữa viễn thông với dịch vụ vi tính đã cho phép các công
ty sử dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả để hợp tác với các đối tác chiến
lợc của mình tại một nớc khác và cung cấp dịch vụ giữa các quốc gia một cách nhanh
chóng. Do quá trình tự do hóa thơng mại dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định Chung
về Thơng mại và Dịch vụ (GATS) và các hiệp định tự do thơng mại khu vực, các công

khách hàng phải đủ lớn để đảm bảo cho mức độ chuyên môn đó. Khả năng tiếp cận
với những khách hàng tiềm năng rộng khắp trên thế giới thông qua thơng mại điện tử
với sự hỗ trợ của Internet đang giúp tạo nên lợng khách hàng quan trọng đó.
-Dịch vụ giáo dục và đào tạo cần phải sẵn có để đảm bảo đào tạo một lực lợng
lao động đủ chuyên môn. Cạnh tranh quốc tế đã chuyển từ cạnh tranh về giá cả sang
chất lợng và tính linh hoạt. Điều đó có nghĩa là nhân công trình độ thấp và giá rẻ
không còn là một lợi thế cạnh tranh nữa. Nhiều nền kinh tế phát triển đang bị hạn chế
lớn do không có một đội ngũ lao động tay nghề cao, do hệ thống giáo dục phần lớn
chỉ cung cấp những kiến thức cũ của chơng trình đào tạo trong nớc vốn rất hạn chế.
Kết quả là làm giảm hiệu quả kinh doanh bởi các nhà quản lý không tìm đợc ngời lao
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động có trình độ kỹ thuật và tay nghề đủ để đáp ứng. Ví dụ nhân viên trong lĩnh vực
dịch vụ không những phải có kỹ thuật (gồm cả khả năng về công nghệ thông tin) mà
còn phải có trình độ giao tiếp và năng lực giải quyết vấn đề. Điều này cho phép nhân
viên phục vụ khách hàng một cách hiệu quả để cung cấp dịch vụ có chất lợng. Ngân
hàng Thế giới đang thử nghiệm một cách đánh giá mới về của cải của một quốc gia
thông qua việc đo Vốn con ngời. Ngân hàng đã xác định ở những nớc thu nhập cao
nh Nhật Bản, vốn con ngời chiếm hơn 80% của tổng tài sản quốc gia.
-Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chuyên môn và dịch vụ nghề nghiệp hỗ trợ cho các
hoạt động kinh doanh khác. Các dịch vụ này chiếm một vị trí quan trọng trong hạ
tầng cơ sở dịch vụ của bất kỳ một nền kinh tế nào và là dịch vụ đầu vào cho tất cả các
ngành công nghiệp, sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Giá trị sản lợng DVHTPTKD và
dịch vụ nghề nghiệp chuyên môn ớc tính chiếm 3.000 tỷ USD trong năm 2001 hay
xấp xỉ 10% tổng GDP toàn cầu. Xuất khẩu DVHTPTKD và dịch vụ chuyên môn
trong năm 2001 ớc đạt 733,6 tỷ USD (IMF - BOP data), chiếm 24% tổng sản phẩm
toàn thế giới. Những nớc đang phát triển chiếm xấp xỉ 1/4 giá trị kim ngạch xuất
khẩu DVHTPTKD và dịch vụ chuyên môn. Từ năm 1990, tăng trởng trong xuất khẩu
DVHTPTKD từ những nớc đang phát triển đạt tốc độ tăng nhanh hơn 50% so với
mức tăng của những nền kinh tế thị trờng phát triển (khoảng 10.5% trung bình 1 năm

và kỹ thuật.
Từ sau khi cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc bớc vào giai đoạn CNH toàn
diện, cơ cấu ngành đã có sự thay đổi rõ rệt. Những thay đổi này vừa tuân theo các quy
luật chung của CNH lại vừa có những đặc điểm riêng của Trung Quốc.
Trong thời kỳ 1978-1992, khu vực II (các ngành chế tạo, chế biến,) với công
nghiệp làm chủ thể có tốc độ tăng trởng bình quân năm đạt 10,7% tăng gấp đôi so với
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tốc độ tăng trởng bình quân năm của khu vực I (nông nghiệp và khai mỏ). Theo giá
so sánh, tỷ lệ khu vực II trong GDP tăng từ 48,6% năm 1978 lên 60,9% năm 1992.
Trong thời gian này, tỷ lệ của công nghiệp trong GDP tăng từ 44,8% lên 56,2%.
Chính sự thay đổi này làm cho mức độ CNH đợc nâng cao rõ rệt. Trong khi tỷ trọng
của khu vực II trong GDP tăng nhanh thì tỷ trọng khu vực I trong GDP lại giảm rõ
rệt, mức giảm là từ 28,4% xuống còn 17,3% trong vòng 14 năm. Sự thay đổi mạnh
trong cơ cấu đợc xem là nguồn gốc chủ yếu làm cho kinh tế tăng trởng với nhịp độ
cao.
Thay đổi trong phân bố lao động giữa các ngành cũng phần nào nói lên sự thay
đổi cơ cấu kinh tế. Trong 14 năm (1978-1992), tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực
I trong tổng lao động xã hội giảm 12% (từ 70% giảm xuống 58,5%). Trong khi đó,
mức tơng ứng ở khu vực III (các ngành dịch vụ) tăng 8% (từ 12,1% lên 19,8%).
Những biến đổi cơ cấu trên đây đợc xem là những xu thế có biểu hiện thống nhất với
quy luật chung về CNH ở nhiều nớc trên thế giới.
Các lý thuyết về CNH chỉ ra vấn đề mang tính quy luật là :
-Trong quá trình CNH, sự thay đổi cơ cấu nhu cầu biểu hiện là nhu cầu tiêu
dùng về thực phẩm có xu hớng giảm tơng đơi, nhu cầu về hàng công nghiệp, vui chơi,
giải trí, tăng lên mở đờng cho những ngành dịch vụ hiện đại phát triển.
-Thu nhập càng tăng thì mức đầu t cũng tăng.
Chi phí tiêu dùng của c dân Trung Quốc từ thập kỷ 80 cho thấy, từ cuối kế
hoạch 5 năm lần thứ 6 (1981-1985), đặc biệt là từ sau vụ thu hoạch kỷ lục năm 1984,
đã bắt đầu xuất hiện hiện tợng tiêu dùng lơng thực giảm tơng đối trong khi nhu cầu

tạo. Chỉ khi khu vực II cung cấp nhiều sản phẩm thì khu vực III mới có cơ sở vật chất
để mở rộng.
Trong thập kỷ 80, công nghiệp nhẹ luôn phát triển nhanh hơn công nghiệp nặng.
Từ năm 1992, nhịp độ tăng trởng công nghiệp nặng mới bắt đầu vợt lên trên công
nghiệp nhẹ. Trong thời kỳ 1995-2000, Trung Quốc bớc vào giai đoạn phát triển công
nghiệp nặng, hoá chất với trọng điểm là công nghiệp gia công chế tạo, công nghiệp
lắp ráp, vật liệu xây dựng đáp ứng các nhu cầu củng cố, phát triển hơn nữa cơ sở hạ
tầng, đặc biệt là xây dựng nhà ở bán cho dân. kích cầu trong nớc. đồng thời, các
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp sản xuất nguyên vật liệu cũng vẫn duy trì
nhịp độ phát triển cao.
Sự phát triển của các ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng giúp hoàn thiện các hoạt động
kinh tế xã hội, điều hoà thống nhất các mặt sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.
Theo đà phát triển của các khu vực I và II, khu vực thứ III trở nên ngày càng quan
trọng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong cơ cấu ngành của nền kinh tế. Theo dự kiến,
khu vực dịch vụ sẽ đóng góp 50% GDP của Trung Quốc trong một vài thập kỷ tới so
với mức 33% hiện nay.
Với nhịp độ phát triển công nghiệp và nông nghiệp hiện nay ở Trung Quốc, khu
vực III đợc hiểu rộng hơn, không chỉ bao gồm các ngành thơng mại, dịch vụ đang
đứng trớc những thách thức bị hạn chế phát triển do các trang bị cơ cấu hạ tầng còn
yếu kém, các ngành tài chính tiền tệ, ngân hàng kém phát triển và tiến trình đô thị
hoá diễn ra chậm chạp.
Hiện nay, Trung Quốc chủ trơng tăng đầu t ngân sách cho phát triển cơ sở hạ
tầng và những nỗ lực gia nhập thành công WTO giúp Trung Quốc từng bớc khắc
phục những hạn chế trên, tạo điều kiện phát triển hơn nữa khu vực III.
2.2.Chính sách và biện pháp phát triển ngành dịch vụ ở Trung Quốc
Ngoài những tiền đề cần thiết tạo điều kiện cho việc hiện đại hoá và phát triển
lĩnh vực dịch vụ nh đã nêu ở mục 2.1, Trung Quốc còn phải thực thi nhiều những biện
pháp và những chính sách trong nội bộ lĩnh vực dịch vụ nhằm từng bớc đa ngành dịch

hàng hoá của ngành giao thông vận tải, trong các nghiệp vụ thông tin, thành phần
kinh tế phi quốc hữu cũng có một tỷ trọng nhất định, nhng những nghiệp vụ thông tin
cơ bản đều do kinh tế quốc hữu làm chủ. Điều này khiến ngành dịch vụ thiếu sức
cạnh tranh, cơ chế thị trờng không thể phát huy đợc vai trò điều tiết có hiệu quả. Để
đẩy mạnh phát triển của ngành này, Trung Quốc đã tăng cờng chính sách mở cửa,
tích cực cải cách doanh nghiệp dịch vụ quốc hữu, thông qua việc điều chỉnh chính
sách ngành nghề, cho phép và khuyến khích các thành phần kinh tế phi quốc hữu
tham gia vào các ngành nghề này.
Thứ hai, chính sách đẩy mạnh tiến trình thị trờng hoá và đô thị hoá.
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong quá trình chuyển đổi thể chế, kinh tế thị trờng cha phát triển một cách
đầy đủ, đặc biệt là mức độ thị trờng hoá đối với ngành dịch vụ còn thấp làm nảy sinh
những trở ngại cho việc phát triển ngành dịch vụ, Trung Quốc chủ trơng thông qua
thúc đẩy cải cách thể chế để đẩy nhanh tiến trình thị trờng hoá kinh tế, từ đó thúc đẩy
việc phát triển cơ cấu ngành dịch vụ.
Ngoài ra, để phát triển hiệu quả ngành dịch vụ, Trung Quốc còn dựa vào việc
thúc đẩy quá trình đô thị hoá. Bởi mức độ phát triển ngành dịch vụ thống nhất với
mức độ đô thị hoá. Việc đô thị hoá ở Trung Quốc muộn mằn chính là nguyên nhân
quan trọng ảnh hởng đến sự phát triển và chuyển đổi cho cấu chậm của ngành dịch
vụ. Trớc tình hình này, để thúc đẩy mở rộng nhiều ngành dịch vụ mới và phát triển
nhiều tầng bậc ngành dịch vụ, Trung Quốc đã ra sức thúc đẩy tiến trình thành thị hoá
trên cơ sở đẩy nhanh cải cách thể chế thành thị và nông thôn, tăng cờng vai trò của
chính sách vĩ mô đối với thành thị hoá. Hiện nay, tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh mỗi
năm có thêm khoảng 15 triệu ngời Trung Quốc nhập hộ khẩu ở thành phố.
Thứ ba, chính sách thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài vào ngành dịch vụ.
Từ khi cải cách mở cửa đến nay, đầu t trực tiếp của nớc ngoài ở Trung Quốc
nghiêng về ngành công nghiệp, tỉ lệ đầu t vào ngành dịch vụ tơng đối thấp, chủ yếu
tập trung ở số ít ngành truyền thống. Do vậy, để thúc đẩy ngành này tăng trởng,
Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào phát triển ngành dịch vụ.

nh dịch vụ xây dựng cơ bản, nghe nhìn cũng nh những ngành dịch vụ gây tổn hại đến
sức khoẻ của ngời dân mà nhà nớc cấm kinh doanh thì không đợc mở cửa.
Đối với những ngành dịch vụ nh vận tải, thơng mại và du lịch quốc tế có sức
cạnh tranh tơng đối mạnh thì từng bớc mở rộng cửa, đối với những lĩnh vực cần đầu t
xây dựng lớn mà Trung Quốc không có vốn thì nới lỏng mức hạn chế một cách thích
hợp đối với các thơng gia nớc ngoài, cho phép các thơng gia nớc ngoài dùng hình
thức BOT tham gia vào thị trờng ngành dịch vụ Trung Quốc.
Những ngành nh tiền tệ, thông tin, t vấn thông tin và bảo hiểm là những ngành
cần thiết trong phát triển kinh tế quốc dân, mức độ dịch vụ thơng mại hoá trong nớc
thấp, năng lực tự cấp trong nớc không đủ Tuy nhiên việc mở cửa đối với những
ngành này, ở mức độ nhất định sẽ xung đột với sự phát triển của các doanh nghiệp
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dịch vụ trong nớc, thậm chí còn ảnh hởng đến sự ổn định của hệ thống tiền tệ nhà n-
ớc, vì vậy Trung Quốc chủ trơng hạn chế mức độ và những bớc mở cửa.
Đối với một số ngành không liên quan nhiều đến phát triển kinh tế quốc dân đặc
biệt những ngành lầy khoa học kỹ thuật cao làm hạt nhân, Trung Quốc lại chủ trong
khuyến khích mở cửa, cho phép các nhân viên kỹ thuật chuyên nghiệp nớc ngoài vào
để thu hút kỹ thuật tiên tiến, thu hút vốn, thúc đẩy phát triển ngành này.
2.3.Những thành tựu và những tồn tại trong phát triển lĩnh vực dịch vụ ở Trung
Quốc
Từ khi cải cách, mở cửa đến nay, Trung Quốc liên tục duy trì tốc độ tăng trởng
kinh tế cao, thời kỳ 1981 - 1990 GDP bình quân hàng năm đạt 9,3% ; thời kỳ kế
hoạch 5 năm lần thứ tám đạt 12%, năm 2004 đạt tăng trởng 9,25% dẫn đầu thế giới
về tốc độ tăng trởng. Tính ổn định trong tăng trởng kinh tế của Trung Quốc từng bớc
đợc tăng cờng.
Sau nhiều năm cải cách mở cửa, thực lực kinh tế Trung Quốc đợc tăng cờng rõ
rệt, sức mạnh tổng thế của nền kinh tế Trung Quốc trên trờng quốc tế đợc nâng lên
nhanh chóng, quy mô kinh tế Trung Quốc đã vợt lên dẫn đầu các nớc đang phát triển,
khoảng cách với các nớc phát triển chủ yếu cũng thu hẹp dần dần. Nhng vì dân số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status