Các câu hỏi nhận định môn Trách nhiệm
dân sự ngoài hợp đồng - 1
1. Trách nhiệm dân sự hỗn hợp là TN mà trong đó lỗi hoàn toàn thuộc về người bị
thiệt hại.
SAI: Trách nhiệm DS hỗn hợp là trách nhiệm BTTH phát sinh trong trường hợp
mà người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại đều có hành vi trái PL, có lỗi, hành
vi trái PL của mỗi người đều là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra – Điều 617
BLDS. (Nguồn: trang 419 – Đề cương các môn học – ĐH Luật TP.HCM).
2. Khi thiệt hại do nhiều người gây ra thì những người đó phải chịu trách nhiệm
liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại.
SAI: Nếu nhiều người cùng gây ra thiệt hại cho 1 chủ thể nhưng trong số các hành
vi vi phạm PL đó chỉ có một hoặc một số hành vi có mối quan hệ nhân quả với
hậu quả thiệt hại (là nguyên nhân quyết định, trực tiếp gây ra thiệt hại) còn các
hành vi còn lại tuy vi phạm PL nhưng lại không có mối quan hệ nhân quả đối với
thiệt hại (chỉ là điều kiện, là nguyên nhân thúc đẩy thiệt hại xảy ra nhanh chóng &
thuận lợi hơn chứ không phải là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại) thì trách
nhiệm của các chủ thể này là hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi chủ thể chỉ phải
thực hiện phần trách nhiệm của mình và sau khi thực hiện xong, trách nhiệm đó
chấm dứt. Khoa học pháp lý gọi đây là trách nhiệm DS riêng rẽ.
3. Pháp nhân chỉ phải bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại do người của
pháp nhân gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao.
SAI: Trong trường hợp pháp nhân là trường học, bệnh viện hay một tổ chức khác
đang trực tiếp quản lý người dưới 15 tuổi, người mất NLHVDS thì nếu những
- Người gây thiệt hại phải có lỗi
(NQ03/2006/NQ-HĐTP)
Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể mà PL qui định, ví dụ như Khoản 3
Điều 623 (BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra), Điều 624 (BTTH do làm ô
nhiễm môi trường), thì việc BTTH được đặt ra ngay cả khi không có yếu tố lỗi.
Đây là trường hợp chủ thể bị buộc phải chịu trách nhiệm pháp lý khách quan. Ở
đây việc đặt ra trách nhiệm BTTH mà không xem xét đến yếu tố lỗi là nhằm bảo
vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
khác. Ở một góc độ khác, góc độ của khoa học pháp lý, thì vấn đề nhận thức luôn
đóng vai trò rất quan trọng trong việc xác định lỗi của một chủ thể. Ví dụ: người
mắc bệnh tâm thần được coi là không hề có lỗi ngay cả khi họ gây thiệt hại do họ
không có nhận thức (mất NLHV-DS). Tuy nhiên, trong trường hợp này PL vẫn qui
định họ phải bồi thường đ/v thiệt hại đã xảy ra, chỉ có điều việc bồi thường phải do
người giám hộ thực hiện thay mà thôi (k3-Đ606).
Câu III. Bài tập tình huống:
Bài 1:
Ông A bị bắt quả tang đang vận chuyển hàng trái phép qua biên giới nên bị bộ đội
biên phòng Đồn 1 huyện X đã ra lệnh bắt & tạm giam tạm giữ ông A. Qua điều tra
xác minh xác định được giá trị hàng hoá chưa đến mức phải truy cứu TNHS. vì
vậy lệnh tạm giam giữ hủy bỏ và xử lý hành chính về hành vi của ông A. hỏi:
1. Ông A có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại hay không?
Theo qui định tại Điều 1 – NQ388/2003 và tại tiểu mục 1.1 – Mục 1- Phần I
Thông tư liên tịch 04/2006 thì chỉ khi nào người bị tạm giữ, tạm giam “có quyềt
c) Bồi thường thiệt hại trong trường hợp TS của người bị oan bị thu giữ, tạm giữ,
kê biên, tịch thu mà bị xâm hại (nếu chứng minh được thiệt hại đó) theo K2-Điều
8 NQ388
d) Bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất (nếu chứng minh được) theo
Điều 9 NQ388
Ngoài các khoản được quyền yêu cầu bồi thường như đã nêu trên thì ông còn được
hoàn lại các khoản tiền bị tịch thu, thi hành án, các khoản tiền đã đặt để bảo đảm
tại cơ quan có thẩm quyền… theo qui định tại khoản 3 – Điều 8 NQ388.
Vế cơ quan có trách nhiệm bồi thường cho ông A được qui định tại Điều 10 –
NQ388 theo nguyên tắc “cơ quan có trách nhiệm BTTH là cơ quan đã gây ra oan
sau cùng” (tiểu mục 2.2-mục 2- Phần III – TTLT 04/2006). Trong trường hợp này
nếu việc tạm giữ, tạm giam có phê chuẩn của VKS thì VKS đã phê chuẩn có trách
nhiệm BT; nếu không có phê chuẩn của VKS thì cơ quan đã ra lệnh tạm giữ, tạm
giam có trách nhiệm bồi thường (K2-Điều 10 NQ388 và Mục 2- Phần III TTLT
04/2006).
Riêng đối với TS bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu mà bị thiệt hại thì cơ quan
đã ra QĐ thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu có trách nhiệm BT (khoản 8 – Điều 10
NQ388 và tiểu mục 2.5-mục 2- phần III TTLT 04/20006).
Bài 2:
Cty A giao nhiệm vụ cho anh B vận chuyển hai chuyến hàng với tổng khối lượng
là 16 tấn gạo. B tự ý chở toàn bộ số gạo trên thành 1 chuyến nên đã làm sập cầu (
tải trọng cầu là 10 tấn đã được cắm biển báo). Anh chị hãy chọn một trong những
phương án sau đây để xác định ai là người phải chịu TN Bồi thường cho người bị
thiệt hai do cầu bị sập và giải thích tại sao lại chọn phương án đó :
(không nghiêm chỉnh chấp hành hiệu lệnh của bảng báo cấm) là hành vi vi phạm
PL.
iii- có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm PL và hậu quả thực tế xảy ra :
hậu quả sập cầu là hậu quả tất yếu gây ra bởi hành vi xem thường PL của anh B
hay nói khác, chính hành vi trái PL của anh B là nguyên nhân trực tiếp đưa đến
hậu quả thiệt hại.
iv- người gây thiệt hại có lỗi : Ở đây anh B đã phạm lỗi. Lỗi ở đây có thể là lỗi cố
ý nhưng cũng có thể là lỗi vô ý vi phạm các qui định ATGT đường bộ gây hậu quả
nghiêm trọng.
Như vậy về mặt nguyên tắc, anh B phải chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt
hại do mình gây ra đối với nhà nước cũng như đối vời những người bị thiệt hại do
hậu quả sập cầu. Tuy nhiên theo qui định tại khoản 2 – Điều 605 về nguyên tắc
BTTH thì nếu một người, do lỗi vô ý mà gây thiệt hại, và thiệt hại đó là quá lớn so
với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình, thì có thể được giảm mức bồi
thường.
Đề số 2:
I- Lý thuyết :
1. Anh chị hãu trả lời Đúng/Sai và giải thích ngắn gọn (không quá 6 dòng) các
nhận định sau:
a) Người có hành vi trái PL gây thiệt hại cho người khác thì trong mọi trường hợp
đều phải chịu trách nhiệm BT cho người bị thiệt hại
b) Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm ngoại trừ
II- Bài tập
Ông A thuê kỹ sư B khảo sát địa chất rồi thuê kiến trúc sư C vẽ thiết kế ngôi nhà 4
tầng. Sau đó thuê nhà thầu D xây dựng theo đúng thiết kế. Ngôi nhà xây xong,
mới vừa bàn giao chưa dọn vào ở đã bị đổ sụp. Ngoài việc làm hỏng toàn bộ các
hạng mục của ngôi nhà, nhà sập còn làm hỏng nặng 1 ngôi nhà kế bên của anh E.
Anh E đòi ông A và nhà thầu liên đới bồi thường nhưng cả 2 đều không đồng ý.
Ông A nói: nhà sập do lỗi của ông D xây kém chất lượng. Ông D cho rằng: mình
đã bàn giao nhà cho ông A rồi nên ông A phải tự chịu trách nhiệm.
Cơ quan giám định chuyên môn xác định, đi đến kết luận rằng: tuy bản vẽ đúng
yêu cầu kỹ thuật và phù hợp với kết luận của bên khảo sát nhưng kết luận của bên
khảo sát không chính xác về kết cấu địa chất nên bản vẽ chân móng yếu và việc thi
công có nhiều sai phạm. Nhà sập là do móng không đủ để chịu lực và chất lượng
thi công kém.
Căn cứ vào BLDS, anh chị hãy cho biết:
1. Lập luận của các bên ai đúng ai sai? Tại sao?
Ở đây có các chủ thể sau :
- Ông A là chủ sở hữu ngôi nhà
- Ông B là kỹ sư khảo sát địa chất
- Ông C là kiến trúc sư thiết kế ngôi nhà
- Ông D là nhà thầu xây dựng ngôi nhà
- Ông E là hàng xóm, chủ nhà kế bên bị thiệt hại do nhà của ông A sập. Ở đây ông
E hoàn toàn không có lỗi về việc sập nhà của ông A nên ông E chỉ là nạn nhân –
Để xác định ai là người BTTH cho anh E ta phải căn cứ vào 4 điều kiện phát sinh
trách nhiệm BTTH ngoài HĐ theo qui định tại NQ03/2006/NQ-HĐTP:
a) Có thiệt hại thực tế xảy ra : thỏa mãn
b) Có hành vi vi phạm pháp luật : thỏa mãn. Ở đây hành vi vi phạm PL là các hành
vi của ông B do năng lực yếu kém dẫn đến kết quả khảo sát địa chất là không
chính xác, dẫn đến hãu quả làm chân móng yếu gây sập nhà. Hành vi vi phạm PL
thứ hai là hành vi của ông D : “việc thi công có nhiều sai phạm” và “chất lượng thi
công kém”.
c) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái PL và hậu quả thiệt hại : thỏa mãn.
Ở đây cả hậu quả thiệt hại là hậu quả tất yếu do cả hai hành vi trên mang lại. Nói
cách khác thì cả 2 hành vi vi phạm PL trên đều là nguyên nhân trực tiếp và quyết
định dẫn đến thiệt hại.
d) Người gây ra thiệt hại có lỗi : Rõ ràng các ông B và D đều có lỗi và lỗi ở đây có
thể là lỗi cố ý và cũng có thể là lỗi vô ý.
Như vậy rõ ràng ông B và ông D tuy không có sự bàn bạc thống nhất về ý chí
nhưng hậu quả xảy ra là không thể tách rời do đó cả hai ông B và D đều phải liên
đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại xảy ra về trách nhiệm BTTH.
Như vậy, theo qui định tại Điều 627 BLDS thì ông A phải bồi thường toàn bộ thiệt
hại cho ông E. Sau khi bồi thường xong, ông A có quyền khởi kiện buộc ông B và
ông D phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại lại cho mình. Nếu chứng
minh được thiệt hại thực tế xảy ra theo qui định tại các Điều 608 và Điều 611
BLDS, ông A có thể đòi ông B và ông D bồi thường thiệt hại, không những về các
3. TN-BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có lỗi của bên vi phạm.
SAI: Nguyên tắc trên chỉ áp dụng đ/v TNBTTH trong hợp đồng. Đối với
TNBTTH ngoài hợp đồng thì trách nhiệm BT đặt ra ngay cả khi chủ thể không có
lỗi. Có thể lấy ví dụ khoản 3 Điều 623, Điều 624. Đây là loại trách nhiệm pháp lý
khách quan.
4. Được lợi về TS không có căn cứ luật định là hệ quả của TN bồi thường thiệt hại
ngoài HĐ.
SAI: Mục đích của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng không phải là “để được lợi
về tài sản” mà là nhằm khôi phục lại tình trạng như ban đầu cho chủ thể bị xâm
phạm. TN bồi thường ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ 4 điều kiện…
(NQ03/2006/NQ-HĐTP)
5. Trách nhiệm DS là trách nhiệm bồi thường TH ngoài HĐ
SAI: Trách nhiệm DS bao gồm 3 hình thức: trách nhiệm thực hiện một công việc
cụ thể; trách nhiệm phạt vi phạm và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Riêng trách
nhiệm bồi thường thiệt hại lại được chia làm hai loại : trách nhiệm bồi thường
trong hợp đồng và trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng. Như vậy trách nhiệm
DS có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với trách nhiệm BTTH ngoài HĐ. Ví dụ:
TN-BTTH ngoài HĐ được qui định từ Đ604 đến Đ630 trong khi trách nhiệm DS
ngoài nhóm này còn có các qui định từ Đ302 đến Đ307.
6. Bất kỳ người nào gây thiệt hại cho người khác đều phải bồi thường
SAI: Một người gây thiệt hại cho người khác nhưng nếu thuộc các trường hợp
miễn trừ trách nhiệm thì không phải bồi thường thiệt hại mà mình gây ra. Các
trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường gồm:
thiệt hại (chỉ là điều kiện, là nguyên nhân thúc đẩy thiệt hại xảy ra nhanh chóng &
thuận lợi hơn chứ không phải là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại) thì trách
nhiệm của các chủ thể này là hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi chủ thể chỉ phải
thực hiện phần trách nhiệm của mình và sau khi thực hiện xong, trách nhiệm đó
chấm dứt. Khoa học pháp lý gọi đây là trách nhiệm DS riêng rẽ. Ví dụ:…
10. Người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành TT gây thiệt hại thì cơ quan tiến
hành TT ấy phải BTTH
SAI: Chỉ khi nào người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành TT gây thiệt hại khi
đang thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành TT thì cơ quan tiến hành TT
mới phải bồi thường (Đ620). Nếu người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành TT
gây thiệt hại khi họ đang nghỉ phép thì đó là trách nhiệm DS của cá nhân.
11. TN bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra là
trách nhiệm của người giám hộ đương nhiên
SAI: TN bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên chưa đủ
15 tuổi là trách nhiệm BTTH ngoài HĐ được qui định tại K2-Đ606 BLDS, không
phải là trách nhiệm của người giám hộ đương nhiên. Theo Đ61 thì Cha mẹ không
phải là người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên.
12. Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi thì họ chỉ được bồi thường 1 phần thiệt hại
SAI: Trong BLDS, lỗi được qui định tại Đ308, theo đó lỗi được chia làm 2 loại là
lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong một số trường hợp, khi khi bị thiệt hại cũng có lỗi
nhưng là lỗi vô ý thì vẫn được bồi thường toàn bộ thiệt hại. Đơn cử trường hợp
được qui định tại điểm a – khoản 3 – Điều 623 về BTTH do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra. Trong trường hợp này nếu thiệt hại xảy ra mà người bị thiệt hại cũng có
trừ yếu tố lỗi.
ĐÚNG: Theo qui định tại khoản 3 – Điều 623 về BTTH do nguồn NHCĐ gây ra
thì : “Chủ SH, người được chủ SH giao chiếm hữu, sử dụng nguồn NHCĐ phải
BTTH cả khi không có lỗi”. Nghĩa là ở đây không xem xét đến yếu tố lỗi. Việc có
lỗi hay không không ảnh hưởng đến trách nhiệm BTTH.
16. Khi một người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác thì hành vi đó là
trái PL
SAI: Theo qui định tại khoản 3 Điều 262 thì: “Gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết
không phải là hành vi xâm phạm quyền SH”. Nói rộng hơn thì thực hiện hành vi
gây thiệt hại cho người khác trong các trường hợp sau thì không bị coi là trái PL:
- Có sự kiện BKK. Ví dụ: Bão làm mái tôn của nhà anh A bay sang nhà anh B gây
thiệt hại cho anh B về tài sản. Hành vi của anh A không phải là hành vi trái PL.
- Người gây thiệt hại trong các trường hợp: PVCĐ (K1-Đ613); TTCT (K1-Đ614)
- Người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi
- Người gây thiệt hại nhưng do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Vd: Anh A,B,C thực hiện tháo dỡ nhà của anh D theo quyết định
cưỡng chế tháo dỡ của UBND cấp có thẩm quyền.
17. Gây TH mà có sự đồng ý của người bị hại là không trái PL
SAI: Nếu sự đồng ý đó là trái PL thì hành vi đó vẫn là trái PL. Ví dụ : TM, SK của
con người được PL bảo vệ. Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại đến TM,
SK của con người dưới bất kỳ hình thức nào. Ví dụ: một bệnh nhân bị bệnh nan y
muốn được bác sỹ can thiệp để kết thúc sự sống. Nếu bác sỹ vì sự đồng ý của bệnh
nhân mà thực hiện “cái chết êm ái” cho bệnh nhân đó thì đương nhiên là đã vi
phạm PL
gây ra.
SAI: Một người gây thiệt hại cho người khác nhưng nếu thuộc các trường hợp
miễn trừ trách nhiệm thì không phải bồi thường thiệt hại mà mình gây ra. Các
trường hợp miễn trừ trách nhiệm bồi thường gồm:
- Có sự kiện BKK. Ví dụ: Bão làm mái tôn của nhà anh A bay sang nhà anh B gây
thiệt hại cho anh B về tài sản.
- Người gây thiệt hại trong các trường hợp: PVCĐ (K1-Đ613); TTCT (K1-Đ614)
- Người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi.
- Người gây thiệt hại nhưng do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Vd: Anh A,B,C thực hiện tháo dỡ nhà của anh D theo quyết định
cưỡng chế tháo dỡ của UBND cấp có thẩm quyền.