LỜI NÓI ĐẦU
Như ta đã biết, nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu, đã vươn
lên trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, thu về hàng
năm hàng triệu đô la góp phần quan trọng trong việc phát triển đất nước. Có
được những thành tựu như vậy là do Đảng và Nhà nước đã quan tâm một
cách đúng đắn, phát huy các thế mạnh để phát triển nông nghiệp nói chung và
sản xuất lúa nói riêng.
Tuy nhiên, trong quá trình CNH-HĐH đất nước có một nghịch lý là
ruộng đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói
riêng ngày càng bị thu hẹp, trong khi đó đời sống luôn đòi hỏi ngày càng phải
gia tăng khối lượng sản phẩm bởi các sản phẩm từ nông nghiệp, đặc biệt là
sản phẩm lúa gạo đã trở thành nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày
của con người.Do đó vấn đề đặt ra đối với ngành nông nghiệp là phải có
những kế hoạch đẩy mạnh thâm canh tăng vụ và không ngừng nâng cao năng
suất cây trồng. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa và hội nhập với
nền kinh tế thế giới như hiện nay, các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ
nông dân sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng phải đối
mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp nước ngoài, điều đó đòi
hỏi chính phủ và các đơn vị sản xuất bên cạnh việc nâng cao năng suất và chất
lượng sản phẩm đồng thời phải nắm bắt thông tin thị trường một cách nhanh
chóng và chính xác.
Vì vậy thống kê chính xác và kịp thời năng suất sản lượng lúa là hết
sức cần thiết trong quá trình xây dựng và triển khai kế hoạch, phục vụ công
tác quản lý các cấp, không chỉ ở tầm vĩ mô mà còn cả ở tầm vi mô của nền
kinh tế nước nhà.
Để thực hiện tốt công tác thống kê năng suất và sản lượng lúa thì một
trong những nhiệm vụ quan trọng nhất mà ngành thống kê Việt Nam đã, đang 1
và phải tiến hành là không ngừng tìm tòi và hoàn thiện các phương pháp điều
quả thu thập được tính toán suy rộng ra cho toàn bộ tổng thể. Những đơn vị
chọn ra để tiến hành nghiên cứu được gọi là mẫu. Việc chọn mẫu phải tuân
theo những quy tắc nhất định để đảm bảo tính đại biểu. Vì thế kết quả điều tra
trên mẫu thường được suy rộng ra cho tổng thể chung. Trong một số trường
hợp,điều tra chọn mẫu còn được sử dụng để thay thế cho điều tra toàn bộ khi
không có đủ điều kiện để tiến hành điều tra toàn bộ.
2. ý nghĩa thực tiễn của điều tra chọn mẫu
Điều tra chọn mẫu do những đặc tính vốn có của nó nên nó có nhiều ưu
điểm so với tổng điều tra va các loại điều tra khác.
Giảm chi phí và nhân lực : Điều tra chọn mẫu tiết kiệm được thời gian
chi phí và nhân lực hơn so với điều tra toàn bộ. Việc thu thập số liệu từ một
bộ phận nhỏ đòi hỏi ít chi phí, thời gian và nhân lực hơn.
Do đó nó thường được dùng thay thế cho điều tra toàn bộ khi điều tra
chọn mẫu là phù hợp và hiệu quả hơn điều tra toàn bộ. Chẳng hạn với điều tra
năng suất lúa của một địa phương, nếu tiến hành điều tra toàn bộ là sẽ phải cử
cán bộ điều tra xuống từng huyện, từng xã, đến từng hộ để theo dõi nông dân 3
thu hoạch, cân đo, đong đếm sản lượng lúa thu hoạch mới có thể tính được
năng suất, như vậy sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức, và do điều tra trên
một tổng thể lớn nên có thể bị bỏ sót…Trong khi đó điều tra chọn mẫu chỉ
cần tiến hành gặt thử ở một số điểm trong thời gian ngắn là có thể tính toán và
suy rộng được năng suất sản lượng của địa phương đó. Điều tra chọn mẫu là
biện pháp cần thiết, tất yếu để thu thập thông tin trong nông nghiệp nói chung
và trong điều tra năng suất sản lượng lúa nói riêng.
Tốc độ nhanh hơn : Số liệu thu được từ mẫu sẽ được tổng hợp nhanh
hơn, đảm bảo tính kịp thời của số liệu. Chính vì vậy nên điều tra chọn mẫu
được dùng trong một số trường hợp cần tổng hợp tài liệu nhanh để đáp ứng
nhu cầu thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý và lập kế hoạch.
+ Điều tra chọn mẫu không tránh được hoàn toàn các sai số. Trong điều
tra thống kê thường xảy ra hai loại sai số : sai số chọn mẫu và sai số phi chọn
mẫu. Sai số chọn mẫu là loại sai số đặc trưng trong điều tra chọn mẫu, do chỉ
dùng số liệu của một bộ phận các đơn vị trong tổng thể để suy rộng cho tổng
thể. Sai số này phụ thuộc vào cỡ mẫu, độ đồng đều của tổng thể và phương
pháp chọn mẫu.
Loại sai số phi chọn mẫu xuất hiện cả trong điều tra chọn mẫu và điều
tra toàn bộ, sai số này cũng phụ thuộc vào cỡ mẫu, khi mẫu tăng lên thì sai số
chọn mẫu cũng tăng.
+Điều tra chọn mẫu cũng không cho biết quy mô của tổng thể, vì vậy
chúng ta không thể dùng điều tra chọn mẫu để thay thể hoàn toàn cho điều tra
toàn bộ.
+Kết quả điều tra chọn mẫu còn phụ thuộc vào cách lấy mẫu
Do một số hạn chế trên, nên kết quả của điều tra chọn mẫu thường
không chính xác một cách tuyệt đối. Vì vậy vấn đề đặt ra là tìm cách làm
giảm sai số đến mức có thể chấp nhận được để tài liệu suy rộng có thể phản
ánh đúng đặc điểm và bản chất hiện tượng nghiên cứu
II. Những vấn đề cơ bản của điều tra chọn mẫu
1.Xác định tổng thể điều tra
Khi tiến hành một cuộc điều tra mẫu,trước hết chúng ta cần phải xác 5
định xem thông tin phải thu thập ở đâu để từ đó chọn mẫu điều tra. Tuỳ thuộc
vào đặc điểm đối tượng và phạm vi nghiên cứu để chọn đơn vị điều tra cho
phù hợp từ đó xác định tổng thể chung. Muốn vậy, chúng ta cần phải nắm
vững một số khái niệm sau:
1.1. Tổng thể chung
Là tổng thể gồm tất cả các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu. Số lượng
đơn vị của tổng thể chung được ký hiệu là N đơn vị.
Trong đó:
X: Giá trị trung bình của tổng thể chung
x
i
: giá trị của mỗi đơn vị tổng thể
2.2. Xác định phương sai
Phương sai là bình quân cộng của bình phương các độ lệch giữa các
lượng biến với số bình quân của các lượng biến đó. Phương sai được tính
bằng các công thức sau:
σ
2
= x
2
- (x)
2
σ
2
: Phương sai
x
2
: Bình quân bình phương các giá trị của tổng thể mẫu được xác định
bằng công thức:
x
2
=
x
i
2
: Bình phương giá trị của đơn vị tổng thể
f
Việc ước lượng các tham số cho tổng thể chung được tiến hành dựa
trên kết quả tính toán thu được từ tổng thể mẫu. Muốn đánh giá mức độ chính
xác của việc suy rộng số liệu điều tra chọn mẫu thì cần phải xem xét sai số
phát sinh trong điều tra chọn mẫu, thường được gọi là sai số chọn mẫu. Đó
chính là chênh lệch giữa mức độ được tính ra từ tổng thể mẫu và mức độ
tương ứng của tổng thể chung. Giả sử giữa 2 tham số θ và θ’ của tổng thể
chung và tổng thể mẫu có một lượng chênh lệch là εx hay phạm vi sai số
chọn mẫu. Ta có:
θ’ − εx ≤ θ ≤ θ +ε x
Theo quy định, εx càng nhỏ biểu hiện ước lượng càng chính xác. Khi
tiến hành ước lượng tham số cho tổng thể chung,phạm vi sai số εx luôn đikèm
với một hệ số tin cậy t tương ứng. Mỗi giá trị của t lại tương ứng với một giá
trị thu được từ hàm xác suất tin cậy của ước lượng là Φt
Φt = P( θ’ − εx ≤ θ +ε x) = P (θ’ − θ≤ εx)
Ví dụ:
t=1 tương ứng với Φt = 0.6827
t=2 tương ứng với Φt = 0.9545
t =3 tương ứng với Φt = 0.99748
Nếu kích thước mẫu càng lớn, tính đại biểu càng cao thi phạm vi sai số
mẫu εx càng nhỏ và hệ số tin cậy t cũng như xác suất tin cậy Φt càng lớn.
Từ đó người ta tiến hành tìm các ước lượng như sau:
_Nếu không biết giá trị trung bình của tổng thể chung (X) thì ta lấy
trung bình mẫu x làm ước lượng không chệch của X
x - ε
x
≤ x ≤x + ε
x
= 9
Khi điều tra chọn mẫu nhằm suy rộng tỉ lệ theo một tiêu thức nào đó
Trong các công thức trên khi ứng dụng tính toán thực tế thường không
có tài liệu về phương sai của tổng thể chung (σ
2
). Vì vậy, có thể thay thế bằng
phương sai mẫu điều chỉnh.
ƒ:tỷ lệ của tổng thể mẫu.
*Trường hợp chọn mẫu nhiều cấp.
µ =
Trong đó n, n
1
,n
2
,n
3
,: Số đơn vị của tổng thể và số đơn vị mẫu được
chọn ở từng cấp.
µ, µ
1
, µ
2
, µ
3
: Sai số bình quân chọn mẫu 3 cấp và sai số chọn mẫu từng
cấp
5)Xác định số đơn vị mẫu cần điều tra (n)
này đã tạo ra những nét đặc thù riêng trong điều tra năng suất sản lượng lúa.
1.Điều tra năng suất lúa bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên.
Một trong những đặc điểm cơ bản của hoạt động nông nghiệp là chủ
yếu diễn ra ngoài môi trường tự nhiên, do đó nó phụ thuộc rất lớn vào các
điều kiện tự nhiên.
1.1.Về đất đai,thổ nhưỡng
Đất đai là một tư liệu lao động đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Quy mô và chất lượng đất quyết định đến sản lượng và năng suất lúa.
Ngoài chế độ chăm sóc, phân bón, các vùng có thổ nhưỡng khác nhau năng
suất lúa cũng khác nhau. Phần lớn các vùng đất trũng, phù sa màu mỡ như
đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long năng suất và sản lượng lúa
cao hơn những vùng khác và cao hơn mức trung bình của cả nước. ở những
vùng này có truyền thống trồng lúa nước từ rất sớm và dần trở thành hai vựa
lúa lớn nhất của cả nước.
NĂNG SUẤT CẢ NĂM
Đơn vị tính: tạ/ha
Năm Cả nước
Đồng bằng
sông Hồng
Đông
Bắc
Tây Bắc
Bắc Trung
Bộ
Duyên hải
Nam Trung
Bộ
Tây
Nguyên
Đông
lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên, sâu bệnh phát triển thì năm đó thường mất
mùa,sản lượng và năng suất lúa điều tra giảm. Do đó, số liệu điều tra năng
suất và sản lượng lúa qua các năm luôn có những biến động phức tạp. Ngoài
ra,ảnh hưởng của yếu tố thời tiết và khí hậu còn biểu hiện ở sự khác biệt về
năng suất lúa theo mùa. Khí hậu và thời tiết thay đổi theo mùa, do đó năng
suất lúa ở các mùa khác nhau cũng khác nhau. Theo số liệu điều tra năng suất
sản lượng lúa hàng năm cho thấy năng suất lúa vụ Đông Xuân thường cao
hơn so với vụ hè thu và vụ mùa
NĂNG SUẤT LÚA THEO VỤ CỦA CẢ NƯỚC
Đơn vị tính:tạ/ha13
Nguồn Tổng cục thống kê-Niên giám Thống kê 2007
2. Điều tra năng suất sản lượng lúa bị ảnh hưởng bởi điều kiện kinh tế xã
hội
Bên cạnh sự tác động của điều kiện tự nhiên, năng suất sản lượng lúa
còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội. Kinh tế xã hội càng phát
triển,càng có điều kiện để nâng cao trình độ kĩ thuật chăm sóc, phân bón, tưới
tiêu, kinh nghiệm thâm canh tăng năng suất sản lượng lúa. Những nơi có điều
kiện chăm bón tốt, lúa sẽ cho năng suất cao ngược lại chúng sẽ cho năng suất
thấp.
Hiện nay, khi kinh tế xã hội càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nghiên cứu,phát triển công nghệ sinh học, nhiều giống lúa mới cho năng
suất cao ra đời thay cho các loại lúa cũ kém phẩm chất. Do đó, trong công tác
điều tra năng suất sản lượng lúa đòi hỏi phải không ngừng cải tiến, cập nhật
và bổ sung các giống lúa mới để điều tra cũng như cải tiến phương pháp điều
tra cho phù hợp với từng giai đoạn nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
II. Các phương pháp điều tra chuyên môn về năng suất, sản lượng lúa ở
nước ta