Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam hiện nay - Pdf 32

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chương I: Phần mở đầu
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhắm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn đã
bỏ ra để đạt được kết quả đó .
Như vậy nhân tố quan trọng tạo nên sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia là đầu tư. Mục tiêu của mọi quốc gia, của mọi nền sản xuất xã hội
đều là tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Do đó đầu tư luôn là một vấn đề
quan trọng và quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội của mình. Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật đó. Trong
giai đoạn hiện nay, Việt Nam một đất nước đang từng bước chuyển mình từ cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN, đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì đầu tư lại càng đóng
vai trò quan trọng. Trong quá trình này việc huy động mọi nguồn lực trong nước
và sử dụng có hiệu quả, cùng với việc tận dụng, thu hút những nguồn lực từ bên
ngoài cho phát triển kinh tế – xã hội là yếu tố quyết định sự thành công của
chúng ta.
Với một vấn đề lớn như đầu tư trong phạm vi bài viết này tôi chỉ xin đề
cập đến vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Freign Direct Investment ) gọi tắt
theo tiếng Anh là FDI và vai trò của FDI đối với việc thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam.
Chương II: Phần nội dung
I. Lý thuyết chung về FDI.
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
a. Khái niệm.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư quốc tế mà trong đó
người bỏ vốn và người sử dụng vống là một chủ thể, có nghĩa là các doanh
nghiệp, các cá nhân người nước ngoài (chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá
trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi
đủ số vốn đã bỏ ra.
b. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Đối với những nền kinh tế đang ở trong giai đoạn CNH- HĐH thông
thường một hệ số ICOR cao (dưới 10) phản ánh thực tế đã có sự tuỳ tiện trong
khâu lựa chọn dự án và quyết định đầu tư, thiếu những kinh toán cụ thể về khả
năng sinh lời hoặc khả năng hoàn vốn của dự án.
3
Khi hệ số ICOR vượt quá 10 thì đã có sai lầm lớn trong khâu xét duyệt và
quyết định đầu tư. Đó là những khoản đầu tư không hiệu quả, không thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế .
Ngoài ra khi xem hệ quả của công thức tính ICOR ta còn có thể dự đoán
được tiềm năng tăng trưởng kinh tế và dự báo tổng mức vốn đầu tư khi cần thiết
cho một giai đoạn phát triển.
Đối với những nước mà tỷ lệ huy động vốn từ nội bộ nền kinh tế đất nước
còn thấp thì vai trò của vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI có vai trò quan
trọng.
Với vốn đầu tư trực tiếp (FDI) nước nhận đầu tư không phải lo trả nợ, lại
có thể dễ dàng có được công nghệ (do người đầu tư mang vào góp vốn) học tập
được kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lối công nghiệp của nước
ngoài, gián tiếp có được chỗ đứng trên thị trường thế giới, nhanh chóng được
thế giới biết đến thông qua các quan hệ làm ăn với nhà đầu tư.
Mặt khác FDI còn là yếu tố hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong nước bỏ
vốn sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự cạnh tranh, đổi mới công nghệ, đẩy mạnh
xuất khẩu giúp đất nước nhanh chóng hoà nhập vào thị trường thế giới.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện thu hút FDI cũng cần phải thận trọng
và có những biện pháp tránh hiện tượng cạn kiệt tài nguyên ở nước nhận đầu tư.
II. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt nam hiện nay.
Kinh tế nước ta từ năm 1990 đến nay liên tục tăng trưởng với tộc độ cao,
bình quân mỗi năm thời kỳ 1991- 1995 tăng 8,1%; năm 1996 tăng 9,3%. Trong
điều kiện tích luỹ đầu tư từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, huy động nguồn vốn
4
trong nước còn nhiều khó khăn thì nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp là một

doanh (bằng 33,68% tổng số dự án được phê duyệt) và 624 dự án đang trong
giai đoạn xây dựng cơ bản (băng 25.08% số dự án).
Đến nay số vốn đã thực hiện bằng 42,4% của tổng số vốn đăng ký. Trong
điều kiện của một nền kinh tế kém phát triển, kết cấu hạ tầng lạc hậu, các nguồn
lực cũng như các chính sách đối với đầu tư nước ngoài còn nhiều biến động, thị
trường phát triển chưa đầy đủ… thì tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực
hiện như vậu là không thấp.
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm các dự án sau khi được phê duyệt
thường chưa đủ các điều kiện để triển khai ngay, do đó số vốn thực hiện trong
năm chủ yếu là của các dự án được phê duyệt từ các năm trước đó.
Vì vậy nếu so sánh số vốn thực hiện của từng năm so với số vốn đăng ký
còn lại (tổng vốn đăng ký từ trước trừ đi số vốn đã thực hiện) thì tỷ lệ vốn thực
hiện diễn biến theo xu hướng thiếu ổn định. Tỷ lệ này tăng nhanh từ đầu đến
năm 1995 (vốn thực hiện năm 1992/ vốn đăng ký năm 1988-1991 còn lại=
13,6%, số lượng tương ứng năm 1993= 23,5%; năm 1994= 30,1%; năm 1995=
32,3%) và sau đó giảm dần từ năm 1996 đến nay (số liệu tương ứng năm
1996=21,8%; năm 1997= 18,1%; năm 1998= 10,1%; năm 1999=7,1%). Tình
trạng này có thể do có nhiều nguyên nhân nhưng có nguyên nhân rất đáng được
chú ý là do một số nhà đầu tư khi lập dự toán đã tính toán chưa thật sát với thực
tế nên khi triển khai dự án họ gặp nhiều vần đề phát sinh vượt quá khả năng tài
chính cũng như các yếu tố điều kiện cho doanh nghiệp vận hành. Thậm chí có
6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status