Chuyên đề thực tập
Mở đầu
Ngành xây dựng nước ta đang cùng các ngành kinh tế khác ra sức phấn đấu đưa tốc độ
tăng trưởng kinh tế bình quân trong năm 2006- 2010 đạt 7,5 – 8% năm và hơn nữa. Mặt
khác, toàn ngành còn đang phải tích cực chuẩn bị đón nhận nhiêm vụ nặng nề hơn trong thập
kỷ sắp tới nhằm đưa nước tá trở thành nước công nghiệp hoá về cơ bản. Bên cạnh đó nước
ta đã là thành viên của khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) và vừa mới gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngành xây dựng nước
ta cần nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh trên đất nước mình và tham gia mạnh mẽ
vào thị truờng xây dựng khu vực và quốc tế. Muốn vậy, ngành phải tiến theo con đường
công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp sớm đưa toàn
ngành tham gia vào quá trình hội nhập đó.
Truớc tình hình đó, Tổng công ty Thành an, một trong những công ty lớn hoạt động
trong lĩnh vực xây dựng ở nước ta không thể đứng ngoài cuộc xu hướng phát chung của toàn
ngành. Nâng cao chất lượng công trình là một trong những biện pháp giúp cho chi nhánh
nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Chính vì thế em quyết định chọn đề tài “ Quản lý
chất lượng công trình xây dựng tại chi nhánh miền trung thuộc tổng công ty xây dựng
Thành An” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Trong qúa trình hoàn thành bài viết này em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình cuả GS
TS Nguyễn Đình Phan. Em xin chân thành cảm ơn thầy và mong thầy tiếp tục giúp đỡ em
hoàn thành tốt hơn nữa chuyên đề này.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
1
Chuyên đề thực tập
I) Vai trò của quản lý chất lượng công trình đối với sự phát triển của
doanh nghiệp
1) Chất lượng sản phẩm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1) Các quan niệm về khái niệm chất lượng sản phẩm
Từ câu hỏi về khái niêm chất lượng sản phẩm người ta có thể trả lời theo những cách
khác nhau tuỳ theo đối tượng được hỏi. Các câu trả lời thường thấy có thể là:
sản phẩm của các chuyên gia quản lý chất lượng hàng đầu thế giới như W.Edwards Deming
và Josenph Juran ở Nhật bản, Philip Crosby ở Mỹ… Trong nhóm quan niệm này lại có
những cách tiếp cận khác nhau.
Thoả mãn từ phía khách hàng: Khách hàng coi chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm
dịch vụ hiện tại vơí mục đích sử dụng của khách hàng. Như Philip Crosby đã định nghĩa thì
“ chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” trong cuốn “ Chất lượng là thứ cho không”. Còn
Deming lại cho rằng “ Chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng”…
Xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu
được từ tiêu dùng sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để đạt được lợi ích đó.
Chât lương = Lợi ích/ Chi phí = 1 chính là Tiêu chuẩn
Xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm thì chất lượng cung cấp những thuộc tính
mang lại lợi thể cạnh tranh nhằm phân biệt nó với sản phẩm cùng loai trên thị trường.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
3
Chuyên đề thực tập
Ngoài những quan niệm này, trong nền kinh tế thị trường, người ta còn đưa ra nhiều định
nghĩa khác nhau tuỳ thuộc vào phục vụ những mục đích cụ thể nhằm duy trì và phát triển thị
trường hay sự cải tiến không ngừng về chất lượng sản phẩm. Những quan niêm hướng theo
thị trường được đa số các nhà nghiên cứu và các doanh nhân tán đồng vì nó phản ánh đúng
nhu cầu thực của người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tỉêu thoả mãn khách
hàng, củng cố được thị trường và giữ được thành công lâu dài.
Ngày nay người ta thường nói đến chất lượng tổng hợp bao gồm chất lượng sản phẩm,
chất lượng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt được mức chất lượng đó. Đánh giá
cao việc kết hợp này sẽ giúp cho doanh nghiệp thu được hiều quả cao trong sản xuất kinh
doanh.
Để giúp hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất , dễ dàng,
Tổ chức Quốc Tế về Tiêu chuẩn hoá ( ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO 9000 , phần thuật ngữ
ISO 9000 đã đưa ra định nghĩa chất lượng: “ Chất lượng là mức độ thoả mãn của tập hợp
các thuộc tính đối với các yêu cầu” ( nhu cầu tiêm ẩn và nhu cầu nêu ra)
Cho tới ngày nay quan niệm chất lượng sản phẩm tiếp tục mở rộng hơn nữa, chất lượng
Chất lượng tối ưu của sản phẩm biểu thị khả toàn năng toàn diện nhu cầu thị trường điều
kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất.
Chất lượng tối ưu của sản phẩm nói nên mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí.
+) Chất lượng toàn phần: Chất lượng toàn phần là mức chất lượng thể hiện mức tương quan
giữa hiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và
sử dụng sản phẩm đó.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
5
Chuyên đề thực tập
Bên cạnh 6 loại chất lượng sản phẩm thì chúng ta cũng cần nghiên cứu đến các thuộc
tính của chất lượng sản phẩm . Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi rất nhiều các thuộc
tính có giá trị sử dụng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Chất lượng của các
thuộc tính này phản ánh mức độ chất lượng của sản phẩm đó. Mỗi thuộc tính chất lượng của
sản phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả năng
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Các thuộc tính này có quan hệ với nhau tạo ra một
mức độ chất lượng nhất định của sản phẩm. Đối với những nhóm sản phẩm khác nhau ,
những yêu cầu về các thuộc tính chất lượng cũng khác nhau. Tuy nhiên, những thuộc tính
chung nhất phản ánh chất lượng sản phẩm gồm:
Các thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm. Nhóm này đặc
trưng cho các thuộc tính xác định chức năng tác dụng chủ yếu của sản phẩm được quy định
chức năng tác dụng chủ yếu của sản phẩm được quy đinh bởi chi tiết kết cấu vật chất, thành
phần cấu tạo và đặc tính về cơ, lý, hoá của sản phẩm. Các yếu tố này được thiết kế theo
những tổ hợp khác nhau tạo ra chức năng đặc trưng cho hoạt động của sản phẩm và hiêu
quả của quá trình sử dụng sản phẩm đó.
Các yếu tố thẩm mỹ: đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức, dáng vẻ, kết
cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính thời trang.
Tuổi thọ của sản phẩm: Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm giữ được
khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định
trên cơ sở đảm bảo đúng yêu cầu về mục đích, điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng quy
định. Tuổi thọ là một yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu
khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất, mục đích sử dụng của sản phẩm đó.
1.3) Một số điều rút ra từ khái niệm chất lượng
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
7
Chuyên đề thực tập
1.3.1 Chất lượng sản phẩm là một khái niệm phức tạp và tổng hợp. Khi xem xét khái
niệm về chất lượng của một sản phẩm ta cần xem xét trên cả hai phương diện kỹ thuật và
kinh tế. Trước hết, xem xét chất lượng sản phẩm cần đặt chất lượng sản phẩm trong mối
lien hệ chặt chẽ với các yếu tố ảnh hưởng đến nó. Tức là chất lượng là sự kết hợp thống nhất
giữa lao động với các yếu tố công nghệ, kỹ thuật kinh tế, xã hội. Chất lượng là thoả mãn nhu
cầu của khách hàng để từ đó tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp. Như vậy để thể hiện
chất lượng sản phẩm chúng ta cần phải tổng hợp của nhiều yếu tố , nhiều thành phần, bộ
phận hợp thanh như nguyên nhiên liệu, máy móc thiết bị, lao động sống, công nghệ , kỹ
thuật. Một sản phẩm đưa ra thị trường thì cần rất những điều kiện khách quan để có thể
thành công và dành lây niềm tin của khách hàng. Người tiêu dung mua sản phẩm trước hết
vì chúng có giá trị sử dụng thoả mãn mục đích yêu cầu của họ. Chính vì vậy, trứơc đây khi
nói đến chất lượng, các doanh nghiệp thường ít chu ý mặt giá trị của sản phẩm nên dễ xảy ra
tình trạng người sản xuất chỉ lo làm ra sản phẩm không thoả mãn được yêu cầu của khách
hang về mặt kinh tế . Do đó, khi nói chất lượng sản phẩm không thể chỉ nói đến giá trị sử
dụng của sản phâm mà phải đề cập đến cả mặt giá trị và các dịch vụ khác co lien quan trực
tiếp đến sản phẩm.
1.3.2. Chất lượng sản phẩm là một quá trình. Một sản phẩm có chất lượng khi mà nó
được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất giữa quá trình trước, trong, và sau sản
xuất ; nghiên cứu thiết kế, chuẩn bị sản xuất, sản xuất và sử dụng sản phẩm. Phải đánh giá
đúng vị trí, vai trò của từng yếu tố và mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và công
nghệ lien quan đến mọi hoạt động trong toàn bộ qua trình sản xuất kinh doanh. Các yếu tố
tác động đến chất lượng mang tính nhiều vẻ, co yếu tố bên trong và bên ngoài, coa yếu tố
trực tiếp và gián tiếp , nguyên nhân và kết quả.
1.3.3. Chất lượng sản phẩm có tính tương đối cần được xem xét trong mối quan hệ chặt
chẽ về không gian và thời gian. Chất lượng không phải ở trạng thái tĩnh mà nó thay đổi theo
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
9
Chuyên đề thực tập
Những cuối của thế ký XX và những năm đầu thế kỷ XXI với sự phát triển đi lên của
một số nền kinh tế mới đến từ Châu Á góp phần vào tốc đọ phát triển của nền kinh tế toàn
cầu như Nhật Bản , Trung Quốc… Một thể kỷ hưa hẹn nhiều thay đổi trong các phong cách
kinh doanh, một thế kỷ khách hàng là đối tượng số một của các nhà kinh tế. Với rất nhiều
quan điểm mới trong các lĩnh vực như Marketing, Tài chính… Chất lượng cũng là một trong
những vấn đề được quan tâm nhiều nhất và cũng trở thành ngôn ngữ giao tiếp giưa khách
hàng và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm. Sự thành công triết lý “ chất lượng” tại Nhật đã
thổi một luồng tư tưởng mới trong quan niệm quản lý mới.
Xu hướng toàn cầu hoá với sự tham gia hội nhập của doanh nghiệp vào nền kinh tế thế
giới của moi quốc gia: Đẩy mạnh tự do thương mại quốc tế. Sự phat triển nhanh chóng công
nghệ thong tin đã làm thay đổi nhiều cách tư duy cũ và đòi hỏi các doanh nghiệp phải có khả
năng thích ứng. Kéo theo đó ảnh hưởng của khách hàng tới doanh nghiệp ngày càng cao vì
nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Chất lượng là chìa khoá
thành công của nhiều doanh nghiệp. Đây cũng là bí quyết cho sự tồn tại và phát triên của các
doanh nghiệp ở Nhật Bản. Triết lý kinh doanh của các công ty Nhật là chất lượng sản phẩm.
Thực hiện nghiêm túc vấn đề này nên hầu hết các sản phẩm của các doanh nghiệp Nhật
được đánh giá cao và được thế giới tiếp nhận. Điều này đã đem lại khả năng cạnh tranh cho
các doanh nghiệp Nhật rất cao vì ngoài chất lượng sản phẩm đạt được các doanh nghiệp
Nhật còn cạnh tranh ở giá cả hợp lý. Các doanh nghiệp khác trên thế giới không còn cách
nào khác là chấp nhận cạnh tranh. Và yếu tố giúp doanh nghiệp thành công đó là chất lượng.
Nhờ vào quy luật của thị trường như vậy mà chúng ta có nhưng cách nhìn nhận khác về chất
lượng sản phẩm.
1.4.1.2 Tình hình thị trường:
Đây là nhân tố quan trọng nhất, là xuất phát điểm , tạo lực hút định hướng cho sự phát
triển chất lượng sản phẩm . Sản phẩm chỉ có thể tồn tai khi nó đáp ứng nhu cầu của khách
hàng. Xu hướng phát triển của sản phẩm phụ thuộc vào xu hướng phát triển của sản phẩm.
Vì vậy để hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm cần định hướng sản phẩm của doanh
Chuyên đề thực tập
chất lượng sản phẩm thong qua cơ chế khuyến khích cạnh tranh, bắt buộc các doanh nghiệp
phải nâng cao chất lượng sản phẩm thong qua cơ chế khuyến khích cạnh tranh, khi đó bắt
buộc các doanh nghiệp phải nâng cao tính tự chủ sang tạo trong quản lý chất lượng. Như vậy
cơ chế chính sách về kinh tế có tác động rất lớn đến khả năng cành tranh của doanh nghiệp
cũng như tạo ra môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư từ đó thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm
nhiều hơn đến chất lượng. Khi đó mới có nền tảng tạo ra cạnh tranh cho doanh nghiệp.
1.4.1.5 Các yếu tố về văn hoá xã hội.
Mỗi một dân tộc, một khu vưc thị trường lại có những nền văn hoá và phong tục tập
quán đặc trưng. Điều này ảnh hưởng rất lớn từ thói quen của người tiêu dùng từ đó có ảnh
hưởng trực tiếp tới thuộc tính chất lượng của sản phẩm, đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp
thong qua các quy định bắt buộc các sản phẩm phải thoả mãn phù hợp với truyền thống văn
hoá, đạo đức, xã hội của công đồng xã hội. Chất lượng là toàn bộ những đặc tính thoả mãn
nhu cầu người tiêu dùng nhưng không phải tất cả mọi thứ cá nhân đều được thoả mãn.
Những đặc tính chất lượng còn bị chi phối bởi lợi ích xã hội. Vì thế mà, chất lượng sản xuất
ra phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường văn hoá của mỗi nước.
1.4.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
1.4.2.1 Lực lượng lao động của doanh nghiệp.
Con người là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp quyết định đến chất lượng sản
phẩm. Cùng với công nghệ, con người giúp doanh nghiệp đạt chất lượng cao trên cơ sở giảm
chi phí. Chất lượng phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý
thức trách nhiệm và tinh thần hiệp tác phối hợp giữa mọi thành viên và bộ phận trong doanh
nghiệp. Chính sách nhân sự của công ty rất quan trọng nó tác động sâu sắc đến hình thành
chất lượng sản phẩm tạo ra. Chất lượng không chỉ là thoả mãn khách hàng bên ngoài mà nó
còn phản ánh khách hàng bên trong của doanh nghiệp. Hình thành và phát triển nguồn nhân
lực đáp ứng được yêu cầu về thực hiện mục tiêu chất lượng là một trong những nội dung cơ
bản của quản lý chất lượng trong giai đoạn hiện nay.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
12
Chuyên đề thực tập
nghiệp.
1.4.2.4 Trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp là một hệ thống trong đó sự phối hợp đồng bộ thống nhất giữa các bộ
phận chức năng. Chất lượng đạt được dựa trên cơ sở giảm chi phí phụ thuộc rất lớn vào
trình độ tổ chức quản lý của mỗi doanh nghiệp. Chất lượng từ hoạt đọng quản lý phản ánh
chất lượng hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy hoàn thiện chất lượng quản lý là nâng cao
chất lượng của sản phẩm cả về chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật.
2. Quản lý chất lượng
2.1. Các khái niệm quản lý chất lượng và vai trò của quản lý chất lượng
2.1.1. Các khái niệm về quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện
chính sách chất lượng. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất
lượng. Như đã đưa ra ở phần trên có rất nhiều quan điểm khác nhau về chat lượng sản phẩm
cũng theo đó thì có rât nhiều quan niệm khác nhau về quản lý chất lượng.
Theo GOST 15467 – 70, quản lý chất lương là xây dựng , đảm bảo và duy trì mức chất
lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thong hàng tiêu dùng. Điều này được
thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như những tác động hướng đích
tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Theo A.G Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý chất
lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và phối hợp
các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ
chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép
thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
14
Chuyên đề thực tập
AV. Feigenbaum, nhà khoa học người Mỹ cho rằng: Quản lý chất lượng là hệ thống hoạt
động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức ( một đơn vị
kinh tê ) chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để
đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm một cách kinh té nhất, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng.
đến hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho nên kinh tê. Quản lý chất lượng giữ vị trí quan
trọng trong công tác quản lý và quản trị kinh doanh. Theo quan điểm hiện đại thì quản lý
chất lượng chính là hoạt động quản lý mà có chất lượng, là quản lý toàn bộ quá trình sản
xuất- kinh doanh. Quản lý chất lượng giữ vị trí then chốt đối với sự phát triển kinh tế, đời
sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân: Hoạt động quản lý chất lượng đem lại
hiệu quả cao cho nền kinh tế tiết kiệm được lao động cho xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm
tài nguyên, sức lao động, công cụ lao động, tiền vốn… Nâng cao chất lượng có ý nghĩa
tương tự như tăng sản lượng mà lại tiết kiệm được lao động. Trên ý nghĩa đó làm tăng năng
xuất lao động. Nâng cao chất lượng sản phẩm cũng làm cho nền kinh tế được phát triển cả
về chất và lượng. Từ đó thu hút được đầu tư từ nhưng nhà đầu tư của nước ngoài.
- Đối với người tiêu dùng: Đảm bảo và nâng cao chất lượng thoả mãn các yêu cầu của
người tiêu dùng và góp phần cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống. Đảm bảo và nâng cao
chất lượng sẽ tạo ra lòng tin của người tiêu dùng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp: Nâng cao chất lượng tạo ra cơ sở niềm tin cho khách hàng.
Giúp doanh nghiệp có khả năng duy trì và mở rộng thị trường, tăng năng xuất, giảm chi phí
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
16
Chuyên đề thực tập
Như vậy, chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng là vấn đề sống còn của doanh
nghiệp. Tầm quan trọng của quản lý ngày càng được nâng lên, do đó không ngừng nâng cao
trình độ quản lý chất lượng và đổi mới không ngừng công tác quản lý chất lượng.
2.2. Nguyên tắc của quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một hoạt động quản lý riêng biệt nó có những đòi hỏi, những
nguyên tắc riêng.
2.2.1. Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi khách hàng.
Sự phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình. Doanh nghiệp cần
sản phẩm hàng hoá dịch vụ có chất lượng vượt trội mong đợi của khách hàng. Đảm bảo cải
tiến chất lượng là sự phát triển lien tục không ngừng trong công tác quản lý chất lượng.
2.2.5. Quản lý chất lượng theo quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có
liên quan được quản lý như một quá trình. Quản lý phải theo một quá trình tức là tiến hành
hoạt động quản lý ở mọi khâu quản lý liên quan đến việc hình thành chất lượng đó là từ
khâu nghiên cứu nhu cầu khách hàng cho đến dịch vụ sau bán hàng (hậu mãi) . Làm tốt việc
này sẽ giúp doanh nghiệp ngăn chặn sản phẩm kém đến tay khách hàng. Đây chính là chính
sách nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm chi phí cho doanh nghiệp.
2.2.6 Nguyên tắc kiểm tra.
Kiểm tra là khâu quan trọng của bất kỳ hoạt động quản lý nào nếu như làm việc mà
không có kiểm tra thì sẽ không biết được công việc được tiến hành đến đâu. Kiểm tra ở đây
không đơn thuần chỉ kiểm tra những sản phẩm xấu ra khỏi sản phẩm tốt mà thực chất nó là
một bộ phận sử dụng các phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết vấn đề chất lượng một cách
có hiệu quả.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
18
Chuyên đề thực tập
Trong sáu nguyên tắc thì việc định hướng khách hàng là nguyên tắc quan trọng nhất nó
là nền tảng xây dựng các khâu còn lại. Tuy nhiên, việc quản lý chất lượng đem lại hiệu quả
là công việc cần thủ đầy đủ 6 nguyên tắc trên.
2.3. Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng.
Quản lý chất lượng là một hoạt động quản lý phải thực hiện một số chức năng cơ bản
như hoạch định, tổ chức, kiểm tra, kích thích, điều hoà phối hợp. Deming là người đã khái
quát chức năng quản lý chất lượng thành vòng tròn chất lượng: hoạch định, thực hiện, kiểm
tra, điều chỉnh ( PDCA)
2.3.1. Chức năng hoach định ( P - Lập kế hoạch)
Hoạch định chất lượng là chức năng quan trọng hàng đầu trong hoạt động quản lý chất
lượng. Hoạch định chất lượng là hoạt động xác định mục tiêu, phương tiện, nguồn lực và
các bộ phận cần thiết để thực hiện mục tiêu chất lượng đề ra. Nhiệm vụ của hoạch định chất
Đây là toàn bộ hoạt động tạo ra sự phối hợp đồng bộ để khám phá tồn tại còn nằm trong
quá trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện. Hoạt động điều chỉnh trong quản lý chất lượng
được thể hiện rõ nhiệm vụ cải tiến và hướng hoạt động quản lý chất lượng theo hướng đa
dạng hoá sản phẩm hoàn thiện quá trình sản xuất. Khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh
phải phân biệt rõ rang giữa việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả đồng
thời phải phối hợp tốt các nguồn lực bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
20
Chuyên đề thực tập
3. Tầm quan trọng của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng công
trình xây dựng trong doanh nghiệp xây dựng của Viêt Nam hiện
nay.
3.1. Tình hình phát triển của doanh nghiệp xây dựng và vai trò của nó
cho quá trình phát triển kinh tế đất nước.
3.1.1. Tình hình phát triển của doanh nghiệp xây dựng hiện nay.
Ngày nay hoà cùng với xu thế của thế giới hiện nay việc phát triển các doanh nghiẹp của
Việt Nam về mọi mặt có tác động rất lớn với sự phát triển lâu dài và ổn định của nền kinh tế
đất nước. Để tạo được uy tín khi xâm nhập vào thị trường quốc tế thì việc nâng cao chất
lượng sản phẩm đối với doanh nghiệp lại rất quan trọng. Như vậy vai trò của quản lý chất
lượng sản phẩm là rất quan trọng trong môi trường quốc tế ngày nay. Hoà cùng với xu
hướng phát triển đó các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng cũng đóng vại trò cực kỳ
quan trọng cho nền kinh tế nước ta. Đặc biệt trong giai đoạn phát triển hiện nay tình hình
chất lượng đang trở thành vấn đề đáng chú ý hơn khi mà một số công trình lớn như cầu Cần
Thơ xảy ra những tai nạn đáng tiếc. Đòi hỏi ngành xây dựng phải nhìn lại về công tác quản
lý chất lượng công trình của mình.
Cùng với công cuộc tăng cường xây dựng đó thì ngành xây dựng cũng không ngừng phát
triển đi lên. Có thể nói đây là thời kỳ sôi động nhất từ trước đến nay của ngành xây dựng
Việt Nam và nó vẫn tiếp tục sôi động trong thời gian tiếp theo với chiến lược “ khẩn trương
tạo nền tảng kỹ thuật cho sự phát triển của những năm đầu thế kỷ XXI và xây dựng hạ tầng
vững chắc cho chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”.
dùng sản phẩm hàng hóa bất động sản, nhà ở, hình thành và phát triển thị trường bất động
sản.
Ngoài ra, lần đầu tiên việc đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đã được luật hóa, cũng như luật
hóa hoạt động của thị trường bất động sản trong nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Bộ Xây dựng cũng cho biết đang tích cực chuẩn bị Đề án kèm theo Tờ trình báo cáo
Quốc hội vào tháng 5/2008 về việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội, một vấn đề
đô thị đang được xã hội quan tâm.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
22
Chuyên đề thực tập
Bộ Xây dựng đã thành lập Nhóm nghiên cứu Định hướng Quy hoạch chung Thủ đô Hà
Nội mở rộng. Thời gian nghiên cứu từ 1/3 – 1/5/2008 và từ ngày 4/5/2008 chuẩn bị tài liệu
để báo cáo Quốc hội. Dự kiến tháng 6/2008 sẽ lựa chọn được tư vấn quốc tế để báo cáo Thủ
tướng Chính phủ
Về tốc độ tăng trưởng công nghiệp vật liệu xây dựng đạt hơn 17%/năm cao hơn tốc độ
tăng trưởng công nghiệp của cả nước. Phấn đấn đạt giá trị xuất khẩu vật liệu xây dựng
khoảng 30 – 35% so với giá trị sản xuất trong nước trước năm 2010. Tốc độ tăng trưởng
bình quân từ năm 2001 trở lại đây của các doanh nghiệp ngành Xây dựng luôn đạt mức cao,
bình quân 16,5%/năm
Về lĩnh vực phát triển đô thị và quản lý đô thị, nông thôn:
Ngành xây dựng đã chủ động tạo ra nhiều đổi mới, đáp ứng yêu cầu trên cả hai mặt.
Những yêu cầu cấp bách trước mắt và phát triển dài hạn thông qua việc xây dựng hàng loạt
các văn bản pháp quy nhằm từng bước đưa công tác quản lý đô thị vào trật tự kỷ cương, nề
nếp và hoạt động thực tế góp phần thay đổi bộ mặt kiến trúc đô thị, nông thôn. Hiện nay
công tác xây dựng phát triển đô thị cũng đạt được những thành tựu nhất định. Đang có
những dự án lớn về nâng cấp đô thị , và đổi mới phát triển nông thôn.
Quan hệ kinh tế đối ngoại.
Quan hệ kinh tế đối ngoại của ngành được mở rộng, đa dạng, phong phú hơn, nhiều liên
doanh ra đời trong hầu hết các lĩnh vực thuộc chức năng quản lý của ngành như: Quy hoạch,
thiết kế, sản xuất vật liệu xây dựng, xây lắp bảo tồn, tôn tạo lại các di tích lịch sử, văn hoá,
nâng cao trình độ văn hoá và đời sống dân cư, cải tạo bộ mặt đất nước.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
24
Chuyên đề thực tập
-Hoạt động xây dựng cơ bản được thực hiện ở các giai đoạn khác nhau (như thiết kế, thi
công ... ), ứng với các giai đoạn này là các bộ phận, các đơn vị. Các bộ phận, các đơn vị đó
cũng được xem là các đơn vị sản xuất trực tiếp như các doanh nghiệp khác và nó cũng tạo ra
sự tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức nộp ngân sách ( thuế các
loại...)
-Phát triển ngành xây dựng giúp cho việc cân đối giữa cơ sở vật chất và nền kinh tế. Tạo
ra sự phát triển cân đối đồng đều.
3.2. Đặc điểm về công tác quản lý chất lượng tại công trình xây dựng
3.2.1. Đặc điểm của ngành xây dựng
Sản phẩm chủ yếu của ngành xây dựng là tạo ra tài sản cố định ( là những công trình xây
dựng mang lại giá trị sử dụng lâu dài cho từng cá nhân và cho cả nền kinh tế quốc dân). Để
tạo ra được một sản phẩm hoàn chỉnh trong ngành xây dựng người ta cần phải thông qua
nhiều giai đoạn và những công việc khác nhau từ việc bắt đầu thiết kế, chuẩn bị .
So với những ngành nghề khác thì ngành xây dựng có những đặc điểm riêng
-Sản phẩm xây lắp là những công trìn, hạng mục công trình, vật kiến trúc… có quy mô,
kết cầu phức tạp, mang tính đưon chiếc , thời gian sản xuất xây lắp kéo dài.
-Sản phẩm xây lắp cố định taại nơi sản xuất, còn các điều kiện khác như xe, máy,
phương tiện thi công, người lao động… phải di chuyển đến địa điểm đặt sản phẩm.
Phạm thị Huyền Lớp: QTCL 46
25