Quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán tại Công ty Tài chính Dầu khí. - Pdf 32

Toàn bộ
thị trường
Những dự án tốt hơn hoặc xấu hơn dự kiến
Khu vực tổng thể có thể bị tác động bởi những hành động nào đó
Lãi suất, lạm phát và những thông tin về nền kinh tế
Cạnh tranh lớn hơn hoặc yếu hơn
Tỷ giá hối đoái và rủi ro chính trị tác động đến nhiều lợi tức chứng khoán
Từng doanh nghiệp cụ thể
Rủi ro chỉ tác động đến 01 Công ty
Tác động đến một số công ty
Tác động nhiều công ty
Rủi ro tác động đến mọi khoản đầu tư
r = Lợi nhuận
A(2)
A(1)
A(5)
A(4)
A(3)
Rủi ro
Lợi nhuận
A(2)
A(5)
Rủi ro
I
II
HÖ sè = 1,5
25
20
10
-15 -5 5 15
I

Ban QLRR Tín dụng và đầu tư
Trung tâm
đào tạo
Hồ Chí Minh
Vũng Tàu
Đà Nẵng
Thăng Long
Sài gòn
Hải phòng
Nam Định
Cần Thơ
Thanh Hoá
PVFC Invest
PVFC Land
PVFC Media
PVFC Capital
KHỐI
QUẢN LÝ
CÔNG TY THÀNH VIÊN
Kiểm toán
nội bộ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN KIỂM SOÁT
CHI NHÁNH
KHỐI
KINH DOANH
Hệ thống PGD Trung tâm
2007
2006

đầu tư chứng khoán.
- Phân tích thực trạng hoạt động đầu tư chứng khoán, các biện pháp quản
lý rủi ro tại PVFC, từ đó nêu lên những kết quả đạt được và những mặt còn
hạn chế.
- Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán tại
PVFC.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro trong đầu tư chứng khoán tại Công ty
Tài chính Dầu khí từ năm 2001 đến năm 2007.
4. Các phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở các lý luận cơ bản vị kinh tế học và phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử.
- Khảo sát số liệu thực tế qua các báo cáo tổng kết tại Công ty Tài chính
Dầu khí.
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp nhằm rút
ra những kết luận có tính quy luật đối với các vấn đề nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận văn.
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư chứng khoán, quản
lý rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
- Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư chứng khoán, quản lý rủi ro đầu tư
chứng khoán tại Công ty Tài chính Dầu khí.
- Đề xuất giải pháp quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán tại
PVFC.
2
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan quản lý rủi ro trong hoạt động đầu tư chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý rủi ro đầu tư chứng khoán tại
Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro trong đầu tư chứng khoán

gia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề
quan trọng nhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản
trị của công ty.
- Cổ phiếu ưu đãi: tương tự như cổ phiếu phổ thông nhưng cổ đông sở hữu
nó không được tham gia bầu cử và ứng cử vào Hội đồng quản trị, nhưng lại
có quyền được hưởng thu nhập cố định hàng năm theo một tỷ lệ lãi suất cố
định không phụ thuộc vào lợi nhuận của công ty, được ưu tiên chia lãi cổ phần
trước cổ đông phổ thông và được ưu tiên chia tài sản còn lại của công ty khi
công ty thanh lý, giải thể.
* Trái phiếu: Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của
người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán
(người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời
gian cụ thể, và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Thông thường, căn cứ vào đối tượng phát hành Trái phiếu, người ta chia
Trái phiếu thành 2 loại: Trái phiếu chính phủ và Trái phiếu Công ty.
* Chứng khoán có thể chuyển đổi: là những chứng khoán cho phép
người nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có
thể đổi nó lấy một chứng khoán khác.
Thông thường, có cổ phiếu ưu đãi được chuyển thành cổ phiếu thường và
trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu thường.
* Chứng khoán phái sinh là một loại chứng khoán được phát hành trên
cơ sở các loại chứng khoán đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm mục đích
giảm thiểu rủi ro, bảo toàn nguồn vốn đầu tư và thu lợi nhuận.
Có 4 loại chứng khoán phái sinh cơ bản là hợp đồng tương lai, hợp đồng
kỳ hạn, quyền chọn và hợp đồng hoán đổi.
6
1.2. Đầu tư chứng khoán:
1.1.2.1. Khái niệm
Đầu tư theo nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng các nguồn lực hiện tại
nhằm thu lại lợi ích nào đó trong tương lai. Các nguồn lực sử dụng vào quá

tương lai như đa dạng hoá các hình thức đầu tư; để thực hiện quyền kiểm soát
hoặc tham gia quản trị doanh nghiệp với tư cách người nắm cổ phần, vốn góp
chi phối. Các mục đích có thể khác nhau tuỳ theo ý định của nhà đầu tư, song
cũng có thể là tổng hợp các mục tiêu trên trong những tình huống cụ thể.
1.2.2. Các hình thức đầu tư chứng khoán
• Theo loại chứng khoán đầu tư
Các chứng khoán doanh nghiệp có nhiều loại như cổ phiếu (cổ phiếu ưu
đãi, cổ phiếu thường…), trái phiếu (trái phiếu thường, trái phiếu có khả năng
chuyển đổi…), các chứng khoán phái sinh (hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa
chọn, chứng quyền, chứng khế…). Mỗi loại chứng khoán có khả năng sinh lời
cũng như mức độ rủi ro, khả năng thanh khoản, quyền kiểm soát hoặc tham
gia quản trị doanh nghiệp khác nhau. Vì vậy, khi lựa chọn quyết định đầu tư
chứng khoán, nhà đầu tư phải tính toán, cân nhắc kỹ các điểm lợi hoặc bất lợi
khi đầu tư vào loại chứng khoán được lựa chọn sao cho có thể tối đa hoá được
lợi ích của mình.
• Theo phương thức đầu tư chứng khoán
8
Nhà đầu tư chứng khoán có thể thực hiện đầu tư theo các phương thức
khác nhau. Về cơ bản có hai phương thức đầu tư chứng khoán là đầu tư trực
tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức các nhà đầu tư trực tiếp
mua chứng khoán cho mình thông qua các nhà môi giới chứng khoán trên thị
trường. Trái lại, trong phương thức đầu tư gián tiếp, các nhà đầu tư chứng
khoán thông qua các định chế, tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như Quỹ đầu tư
chứng khoán, Quỹ tín thác đầu tư…để thực hiện hoạt động đầu tư cho mình.
Do các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp có đội ngũ các chuyên gia đầu tư và
quản lý đầu tư chuyên nghiệp, có khả năng phân tích và đánh giá thị trường
nên có thể giúp cho các nhà đầu tư tránh được các rủi ro không đáng có và đạt
được hiệu quả đầu tư chứng khoán cao hơn.
• Theo thời hạn đầu tư chứng khoán
Theo thời hạn thanh toán, các chứng khoán của doanh nghiệp có thể chia

- Khả năng thanh khoản của chứng khoán đầu tư: tính thanh khoản (hay
còn gọi là tính lỏng) của chứng khoán là khả năng dễ dàng chuyển đổi chứng
khoán thành tiền mặt. Thông thường khi có số tiền mặt nhàn rỗi nhà đầu tư
thường đầu tư chứng khoán để thu lợi nhuận, song khi cần tiền mặt để đáp
ứmg các nhu cầu cá nhân hoặc chuyển hướng đầu tư họ lại muốn chuyển
nhượng chứng khoán đang sở hữu để thu tiền về. Nếu cá chứng khoán mà họ
sở hữu có khả năng thanh khoản cao, việc sở hữu chứng khoán cũng tiện ích
không khác gì việc nắm giữ tiền mặt thì sẽ khuyến khích họ đầu tư chứng
khoán và ngược lại. Do đo tính thanh khoản của chứng khoán cũng là một yếu
tố quan trọng để các nhà đầu tư cần xem xét, lựa chọn.
10
- Mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp.
Đôi khi mức độ và khả năng kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp
cũng là một nhân tố được xét đến khi lựa chọn quyết định đầu tư chứng
khoán. Quyền hạn và lợi ích của nhà đầu tư chứng khoán thường được tăng
them theo mức độ nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp. Vì vậy khi đầu tư
chứng khoán họ cũng cần cân nhắc quy mô đầu tư sao cho có thể đạt được
mục đích kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp, hỗ trợ cho việc
thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình.
1.2. Rủi ro trong đầu tư chứng khoán.
1.2.1. Định nghĩa:
Rủi ro theo định nghĩa của từ điển là một từ bị động, có nghĩa là bị đặt
trước mối nguy hoặc nguy hiểm. Vì vậy nó mang ý nghĩa xấu.
Trong kinh tế, khái niệm rủi ro được mở rộng hơn và có sự khác biệt lớn.
Rủi ro chỉ đến một khả năng chúng ta nhận được thu nhập cho một khoản đầu
tư khác với thu nhập mà chúng ta mong đợi. Vì vậy rủi ro không chỉ mang ý
nghĩa xấu mà còn có ý nghĩa tốt ( khi mà thu nhập nhận được lớn hơn thu
nhập mong đợi). Rủi ro chứa đựng cả sự nguy hiểm và những cơ hội, chính vì
vậy nó phản ánh sự đánh đổi rõ ràng giữa rủi ro và lợi nhuận. Vì vậy trong
kinh tế thường có câu: rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng lớn và ngược lại.

ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro sức mua…
- Rủi ro thị trường là rủi ro do sự biến động của giá cả chứng khoán trên
thị trường. Đó là kết quả của những hiệu ứng về tương quan giữa cung và cầu
của các loại chứng khoán trên thị trường. Nguyên nhân của những biến động
giá cả chứng khoán thường rất phức tạp, có thể cả những sự kiện hữu hình
hoặc vô hình, cả những yếu tố bên trong hoặc ngoài doanh nghiệp. Sự đánh
giá khác nhau của các nhà đầu tư về mức sinh lời của một loại chứng khoán
nào đó được giao dịch trên thị trường cũng có thể gây nên hiệu ứng dây
chuyền (hiệu ứng đôminô) đối với giá cả các loại chứng khoán khác, làm cho
giá chứng khoán trên thị trường nói chung bị sụt giảm.
- Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động lãi suất trên thị trường. Giá
cả chứng khoán luôn biến động tỷ lệ nghịch với lãi suất thị trường, lãi suất thị
trường tăng sẽ làm cho giá thị trường của chứng khoán giảm và ngược lại. Vì
thế biến động lãi suất sẽ làm cho giá trị hiện tại của các khoản thu nhập nhận
được từ đầu tư chứng khoán ở các thời điểm khác nhau có giá trị khác nhau,
do đó ảnh hưởng đến mức doanh lợi thu được của đầu tư chứng khoán.
- Rủi ro sức mua (còn gọi là rủi ro lạm phát) là loại rủi ro do sự giảm sút
về sức mua đồng tiền. Nhà đầu tư nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng
thu được lợi nhuận trong tương lai nhưng họ lại mất đi cơ hội mua sắm các
loại hàng hoá, dịch vụ trong thời hạn nắm giữ chứng khoán. Nếu trong
khoảng thời gian đó giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng lên do yếu tố lạm phát, họ
sẽ mất đi một phần sức mua từ số thu nhập sẽ có được trong tương lai. Giá trị
phần sức mua bị giảm sút do lạm phát phản ánh mức rủi ro sức mua của nhà
đầu tư chứng khoán.
1.2.2.2. Rủi ro không hệ thống:
Là những rủi ro có nguyên nhân từ nội tại của một công ty hoặc một
ngành kinh doanh mà không gắn liền với toàn bộ thị trường. Ảnh hưởng của
rủi ro không hệ thống vì thế chỉ tác động trong phạm vi công ty, một ngành
hay một số loại chứng khoán nhất định.
Rủi ro không hệ thống thường bao gồm các loại như: rủi ro kinh doanh,

mang lại lợi nhuận tối đa và rủi ro tối thiểu.
Kết quả phân tích chứng khoán phải làm rõ được các căn cứ cho sự lựa
chọn quyết định đầu tư. Nó phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: khi nào thì
nên đầu tư, nên đầu tư vào loại chứng khoán nào và với giá cả ra sao, khi nào
thì nên rút khỏi thị trường… Để đạt được kết quả đó, việc phân tích chứng
khoán cần được tiến hành theo một quy trình cụ thể, khoa học.
Về lý thuyết phương pháp phân tích chứng khoán có thể theo quy trình từ
trên xuống hoặc từ dưới lên. Theo phương pháp phân tích từ trên xuống,
người ta thường bắt đầu từ những phân tích khái quát về tình hình kinh tế vĩ
mô (phân tích vĩ mô) cả trong nước và quốc tế, xem xet những ảnh hưởng, tác
động của nó đến hoạt động của các doanh nghiệp và thị trường chứng khoán,
sau đó mới đi đến phân tích tình hình hoạt động của ngành kinh doanh (phân
tích ngành) và cuối cùng là hoạt động của từng doanh nghiệp, công ty riêng
biệt. Ưu điểm nổi bật của quy trình phân tích này là đảm bảo tính hệ thống,
phù hợp với logic nhận thức. Do mục tiêu cuối cùng của hoạt động phân tích
đầu tư chứng khoán là đi tới một quyết định đầu tư chứng khoán cụ thể, vì thể
nó được sử dụng khá phổ biến trong phân tích đầu tư chứng khoán.
Ngược lại với trình tự trên, phương pháp phân tích chứng khoán từ dưới
lên lại bắt đầu từ phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của một công ty cụ
thể và đặt nó trong mối liên hệ tương quan giữa hoạt động của công ty với
môi trường kinh doanh bên ngoài là tình hình hoạt động của ngành hoặc nền
kinh tế. Do đặc điểm trên, phương pháp này tỏ ra thích hợp hơn đối với các tổ
chức có vai trò tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động của thị trường chứng
khoán hơn là đối với nhà đầu tư chứng khoán.
1.3.1.2. Phân tích kinh tế vĩ mô
Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thị
trường chứng khoán và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc phân tích
kinh tế vĩ mô nhằm mục đích đánh giá đúng thực trạng phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước và tác động của nó đến sự phát triển của thị trường chứng
khoán. Phân tích kinh tế vĩ mô bao gồm:

đoán các chu kỳ kinh tế là rất cần thiết trong đầu tư chứng khoán.
Việc mở cửa, hội nhập kinh tế cũng là một xu thế tất yếu trong phát triển
kinh tế của mỗi nước. Mở cửa, hội nhập vừa đem lại những thời cơ, song
đồng thời cũng đem lại những thách thức, nguy cơ đối với nền kinh tế mỗi
nước. Để đối phó với những nguy cơ trong quá trình hội nhập đòi hỏi kinh tế
các nước phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh,thích ứng dần với
nền kinh tế thê giới.
Khi phân tích các yếu tố kinh tế vĩ mô không thể không xem xét sự biến
động của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản như: tốc độ tăng trưởng kinh tế
(GDP),tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát và lãi suất thị trường, tỷ giá hối đoái,
thu nhập của dân cư, kim ngạch xuất nhập khẩu, mức bội chi (bội thu) ngân
sách, chỉ số giá chứng khoán trên thị trường… Các yếu tố vĩ mô cơ bản trên
đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư trên thị trường
chứng khoán.
1.3.1.3. Phân tích ngành
Mục đích của phân tích ngành là giúp cho nhà đầu tư thấy rõ những lợi ích
hoặc rủi ro có thể gặp khi quyết định đầu tư vào chứng khoán của một doanh
nghiệp hoạt động trong một ngành kinh doanh cụ thể. Những nội dung cần
thực hiện trong phân tích ngành bao gồm: phân tích chu kỳ kinh doanh của
ngành, xác định hệ số rủi ro của ngành kinh doanh, mức doanh lợi kỳ vọng và
các hệ số tài chính khác của ngành kinh doanh
- Chu kỳ kinh doanh của ngành: Triển vọng và chu kỳ kinh doanh của
ngành ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong
ngành. Nếu một công ty hoạt động trong một ngành còn kém phát triển thì
khó có triển vọng đầu tư đem lại hiệu quả cao. Vào cùng một thời điểm nhất
định, các doanh nghiệp kinh doanh trong các ngành khác nhau sẽ có mức
doanh lợi thu được khác nhau, mức rủi ro khác nhau. Do đó cần có sự phân
tích đánh giá ngành kinh doanh để chọn ngành có mức doanh lợi cao, mức độ
rủi ro thấp để đầu tư. Ngay trong một ngành, mức doanh lợi thu được từ hoạt
18

- (i) xem xét mối quan hệ giữa hệ số P/E của ngành và hệ số P/E tổng thể
của thị trường để thấy được tính hiệu quả trong hoạt động của công ty so với
các doanh nghiệp trong cùng ngành như thế nào;
- (ii) Xem xét các nhân tố ngành tác động đến hệ số P/E ngành như: hệ số
trả cổ tức, mức doanh lợi đòi hỏi, tỷ lệ tăng trưởng lợi tức hàng năm..
- Uớc tính thu nhập trên một cổ phiếu (EPS hoặc E): thu nhập trên một cổ
phiếu được xác định dựa vào các phương pháp chủ yếu như phân tích chu kỳ
kinh doanh, phân tích đầu vào- đầu ra, phân tích mối quan hệ giữa ngành và
nền kinh tế.
- Ước tính mức lợi suất đạt được: Để ước tính mức lợi suất đạt được phải
tiến hành qua 2 bước. Trước hết cần xác định được giá trị cuối kỳ của chỉ số
ngành bằng cách nhân hệ số P/E cuối kỳ tính toán được với ước tính thu nhập
trên một cổ phiếu. Sau đó so sánh giá trị chỉ số cuối kỳ với giá trị đầu kỳ để
ước tính lợi suất đạt được ( r) theo công thức:
Giá trị chỉ số cuối kỳ - giá trị đầu kỳ + cổ tức nhận trong kỳ
Giá trị đầu kỳ
- Lựa chọn quyết định đầu tư hay không: So sánh lợi suất đạt được r với
mức doanh lợi đòi hỏi E (R), nếu r > E(R) thì nên rút khỏi đầu tư vào ngành
này.
1.3.1.4. Phân tích báo cáo tài chính công ty
Thông thường, ta phân tích báo cáo tài chính qua các tỷ số tài chính đặc
trưng, để có thể phân tích rõ tình hình tài chính của công ty trong một thời kỳ
nhất định
• Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản/Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Hệ số này cho biết mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp đang
quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả (gồm cả nợ ngắn hạn và dài hạn),
phản ánh một đồng vay nợ có mấy đồng tài sản đảm bảo. Khi giá trị của hệ số
này nhỏ hơn 1 có nghĩa là tổng tài sản < tổng nợ, như vậy toàn bộ số tài sản

lại, các nhà quản lý lại muốn có một hệ số nợ cao vì chỉ cần bỏ ra mộ lượng
vốn nhỏ nhưng được sử dụng một lượng tài sản lớn.
- Hệ số tự tài trợ
Hệ số tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu/ Tổng nguồn vốn = 1- Hệ số nợ
Hệ số này phản ánh mức độ độc lập hay phụ thuộc của công ty đối với các
chủ nợ, khả năng tự tài trợ cho hoạt đông jkinh doanh của mình.
- Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản cho ta biết tỷ lệ của TSCĐ và TSLĐ trong tổng tài sản như
thế nào
Hệ số đầu tư và TSLĐ = Tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/ Tổng tài sản
Hệ số đầu tư vào TSCĐ = Tổng TSCĐ và đầu tư dài hạn/ Tổng tài sản
Cơ cấu tài sản = Tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn/ Tổng TSCĐ và đầu tư dài hạn
Bố trí cơ cấu tài sản phản ánh sử dụng bình quân 1 đồng vốn thì dành ra
bao nhiêu đồng đầu tư hình thành TSCĐ và bao nhiều đồng đầu tư hình thành
TSLĐ
• Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động
- Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho bình quân trong kỳ
Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Chỉ số này càng cao càng được đánh giá là tốt vì số tiền đầu
tư cho hàng tồn kho thấp mà vấn đạt hiệu quả cao, tránh được tình trạng ứ
22
đọng vốn. Nếu chỉ số này thấp phản ánh hàng tốn kho dự trữ nhiều, sản phẩm
không tiêu thụ được do chất lượng thấp không đáp ứng yêu cầu thị trường.
- Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Số dư bình quân các khoản phải
thu
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển các khoản phải thu ra tiền mặt. Vòng
quay càng lớn càng chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, vốn
của doanh nghiệp không bị chiếm dụng và không phải đầu tư nhiều vào việc

tăng, tăng khả năng cạnh tranh, tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
• Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi
- Tỷ suất doanh lợi doanh thu
Tỷ suất doanh lợi doanh thu = Lợi nhuận thuần/ Doanh thu thuần
Chỉ tiêu phản ánh cứ trong một đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực
hiện trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần.
- Tỷ suất sinh lợi của tài sản
Tỷ suất sinh lợi của tài sản = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh sử dụng bình quân 1 đồng tài sản thì tạo ra mấy
đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
- Tỷ suất doanh lợi tổng vốn
Tỷ suất doanh lợi tổng vốn = Lợi nhuận thuần/ Vốn sản xuất bình quân
24
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư,
phản ánh sử dụng bình quân một đồng vốn kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận sau thuế. Giá trị của chỉ tiêu càng cao càng chứng tỏ doanh
nghiệp hoạt động có hiệu quả và ngược lại càng thấp càng kém hiệu quả.
- Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần
Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần = Tổng lợi nhuận sau thuế/ Vốn cổ phần bình quân
Vốn cổ phần bao gồm vốn của cổ đông ưu đãi và vốn cổ đông thường,
được xác định bằng chênh lệch giữa tổng vốn với tổng nợ phải trả. Tổng lợi
nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, phần còn lại được gọi là thu
nhập của cổ đông. Do vậy chỉ tiêu thu nhập vốn cổ phần phản ánh khả năng
đảm bảo thu nhập cho tất cả mọi đối tác góp vốn cổ phần vào công ty.
- Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần thường
Tỷ lệ thu nhập vốn cổ phần thường = (Lợi nhuận sau thuế - Lợi tức cổ phần ưu
đãi)/ Vốn cổ phần thường bình quân
Vốn cổ phần thường là phần vốn do các cổ đông thường nắm giữ và được
xác định bằng chênh lệch giữa vốn cổ phần với vốn cổ phần ưu đãi. Còn thu
nhập của vốn cổ phần thường là phần còn lại của lợi nhuận sau thuế, sau khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status