Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
Lêi më ®Çu
Ngày nay trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới, mỗi quốc gia đều đang nỗ lực
vươn lên tạo cho mình một vị thế vững mạnh trên trường quốc tế. Việt Nam đã đang từng
bước đi trên con đường hội nhập đó và đã bước đầu đạt được những thành tích đáng kể.
Đóng góp vào thành công đó không thể không kể đến sự nỗ lực, phấn đấu và vươn lên của
ngành ngân hàng.
Luôn sát cánh với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, với việc đi vay để cho vay,
hoạt động tín dụng của các NHTM đóng vai trò như chiếc cầu nối giữa những người thừa
vốn và những người thiếu vốn, góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì và
phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, khai thác sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế xã hội… Một trong những dạng tín
dụng quan trọng chủ yếu nhất của các NHTM là hoạt động cho vay các dự án đầu tư. Cũng
bởi lẽ các dự án đầu tư thường có thời gian thực hiện kéo dài, kéo theo thời gian sử dụng
vốn vay dài, trong thời gian thực hiện DAĐT chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khách
quan và chủ quan mà người ta không thể dự tính trước được nên hoạt động cho vay các
DAĐT luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao. Ngoài ra, lượng vốn vay của DAĐT thường lớn
nên nếu rủi ro xảy ra thì sẽ để lại hậu quả rất nặng nề đối với bản thân NHTM và đối với
cả nền kinh tế
Xuất phát từ những nhìn nhận nêu trên, cùng với những kiến thức đã học và tìm hiểu,
được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của TS Nguyễn Hồng Minh, tôi đã lựa chọn đề tài:
“Quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các dự án đầu tư tại NHTMCP Ngoại thương-
Chi nhánh Đồng Nai” làm đề tài cho đề án môn học.
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 1
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
Ch ¬ng 1:
Những vấn đề lý luận chung về rủi ro và quản lý rủi ro
trong hoạt động cho vay các dự án đầu tư tại NHTM
1.1 RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
NHTM:
chế chứ không thể loại trừ. Đặc biệt, hoạt động cho vay các DAĐT của NH càng chứa
đựng nhiều rủi ro hơn, bởi bản thân các DAĐT đã tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Có thể tóm tắt
phân loại rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT của NHTM thông qua sơ đồ sau
Sơ đồ I-1
Các rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT của NHTM
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 3
Rủi ro
trong hoạt
động cho
vay các
DAĐT
Rủi ro về tiến độ thực hiện
Rủi ro về thị trường
Rủi ro về môi trường
Rủi ro kinh tế vĩ mô
Rủi ro
tín dụng
Rủi ro
DAĐT
Rủi ro danh mục
Rủi ro nội tại
Rủi ro tập trung
Rủi ro giao dịch
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro lựa chọn
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
1.1.2.1 Rủi ro tín dụng
Theo khoản 01 điều 02 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng quỹ dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định
quyết định cho vay.
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 4
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
• Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản
trong hợp đồng cho vay kí kết với chủ đầu tư, các loại tài sản đảm bảo, chủ
thể đảm bảo, cách thức đảm bảo, mức cho vay/giá trị tài sản đảm bảo.
• Rủi ro nghiệp vụ: là những rủi ro có liên quan đến công tác quản lý khoản
vay và hoạt đông cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi
ro và kĩ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong công tác quản lý danh mục các dự án đầu tư cho vay
của NH. Rủi ro danh mục được phân chia thành hai loại:
• Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm mang tính chất riêng
biệt bên trong mỗi chủ đầu tư hoặc ngành lĩnh vực của dự án đầu tư xin
vay vốn.
• Rủi ro tập trung: là tình huống NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với
một số khách hàng, hoặc cho vay quá nhiều dự án đầu tư thuộc cùng một
ngành, một lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một vùng địa lý nhất định.
1.1.2.2 Rủi ro DAĐT
Một dự án đầu tư có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau từ pha lập dự án, triển khai thực
hiện dự án đến pha vận hành kết quả đầu tư. Trên quan điểm của NH, rủi ro DAĐT bao
gồm những rủi ro chính sau:
Rủi ro về tiến độ thực hiện: Khi công tác giải phóng mặt bằng phục vụ cho dự án
diễn ra chậm, hay năng lực thi công kém, công trình xây dựng không đảm bảo chất
lượng theo yêu cầu của dự án… tiến độ thi công công trình của dự án sẽ bị kéo dài
hơn dự kiến. Điều này tất yếu sẽ làm cho dự án không đáp ứng được thời hạn vay
vốn theo như đã dự kiến và kí kết trong hợp đồng với NHTM cấp vốn.
Rủi ro về thị trường: Khi công tác thẩm định dự án đầu tư không lường hết được
các biến động của thị trường như khả năng cung cầu, giá cả, thị hiếu… sẽ gây ra
rủi ro về thị trường. Rủi ro có thể là việc không đảm bảo được các đầu vào quan
làm cho khả năng trả nợ vay của dự án bị hạn chế, dẫn đến rủi ro trong các khoản
cho vay của NH. Một nền kinh tế tăng trưởng mạnh, tiềm năng sản xuất tiêu dùng
của xã hội lớn sẽ kích thích các hoạt động đầu tư phát triển được triển khai nhiều
và hiệu quả hơn. Một nền kinh tế khủng hoảng, tỷ lệ lạm phát cao, sản xuất bị đình
trệ, hoạt động đầu tư phát triển kéo theo đó cũng bị giảm sút, tất cả tác động đến
khả năng thu hồi vốn tín dụng của NH. Không chỉ giới hạn trong nền kinh tế của
một nước mà nền kinh tế thế giới và khu vực cũng có những tác động đáng kể đến
hoạt động cho vay các dự án đầu tư nói riêng và hoạt động tín dụng nói chung của
các NHTM nhất là khi quan hệ kinh tế quốc tế được mở rộng như ngày nay.
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 6
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
1.1.3 Nguyên nhân rủi ro trong hoạt động cho vay vốn các DAĐT tại
NHTM
1.1.3.1 Nguyên nhân từ các nhân tố vĩ mô
Sự thay đổi bất thường của chính sách kinh tế của Nhà nước: khi có sự thay đổi về
chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước hoặc thay đổi địa giới
hành chính các địa phương, sự sát nhập hay tách ra của các bộ, ngành trong nền kinh tế sẽ
làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đầu tư của các dự án đầu tư xin vay vốn, kéo theo
ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả tín dụng của mỗi chủ đầu tư cho NH. Rủi ro trong hoạt
động cho vay các dự án đầu tư vì thế xuất hiện.
Một nền kinh tế dù mạnh hay yếu đều phải trải qua chu kì khủng hoảng – suy thoái –
phát triển – hưng thịnh. Như đã phân tích ở phần rủi ro dự án trên quan điểm của NH, nền
kinh tế đang tăng trưởng hay suy thoái đều tác động đến hiệu quả của DAĐT, kéo theo đó
là khả năng trả nợ vốn vay của chủ đầu tư. Nhưng không chỉ có vậy, tình trạng của nền
kinh tế còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NH. Nền kinh tế tăng
trưởng lành mạnh, hoạt động đầu tư phát triển nhờ đó được lưu tâm nhiều hơn, các dự án
đầu tư cùng với nhu cầu vốn vay cũng tăng lên, cơ hội đầu tư của NH cũng nhiều lựa chọn
hơn. Nền kinh tế khủng hoảng đang trên đà xuống dốc, lạm phát tăng vọt, sản xuất đình
đốn… thì chính hoạt động NH cũng bị giảm sút. Vấn đề đặt ra là NH cần nghiên cứu kỹ về
chu kì của nền kinh tế để có được những chính sách cho vay phù hợp.
đích sử dụng vốn càng lâu càng tốt hoặc để quịt nợ.
1.1.3.3 Nguyên nhân thuộc về NH
a) Rủi ro xảy ra do những nguyên nhân xuất phát từ cơ chế, chính sách của NH chưa
phù hợp:
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của NH đó và trở thành hướng dẫn
chung cho các cán bộ tín dụng và các thành viên của NH, tăng cường chuyên môn hóa
trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nói chung và
hoạt động xem xét đánh giá cấp vốn cho DAĐT xin vay vốn nói riêng. Từ đó hạn chế rủi
ro và nâng cao khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh của NH.
Chính sách không phù hợp sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của NH và có thể tạo thêm
nhiều rủi ro. Chẳng hạn, NH vì lợi nhuận mà mở rộng hoạt động cho vay các dự án đầu tư
quá mức thì sẽ có rủi ro cao, nợ quá hạn có nguy cơ tăng. Ngược lại nếu chính sách tín
dụng của NH không đa dạng, dẫn đến hiện tượng tập trung cấp vốn cho một số khách hàng
hoặc các dự án đầu tư ở cùng một lĩnh vực tạo nên nguy cơ rủi ro cao khi bỏ trứng vào một
giỏ.
b) Bộ máy tổ chức hoạt động quản lý rủi ro còn lạc hậu, yếu kém:
Một số NHTM tại Việt Nam chưa có một cơ quan chuyên trách theo dõi, quản lý rủi
ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng DAĐT xin vay vốn thuộc các ngành nghề, địa
phương khác nhau để phân tán rủi ro. Chất lượng thông tin thấp, sự phối hợp giữa NH và
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 8
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
trung tâm thông tin tín dụng không đồng bộ và chưa đạt hiệu quả cao cũng là một nguyên
nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay các dự án đầu tư của NHTM. Thậm chí một
số NHTM còn sợ cạnh tranh nên đã không thông tin cho trung tâm tín dụng, điều đó dẫn
đến việc tìm hiểu khách hàng có quan hệ vay nợ tại các tổ chức tín dụng trở nên khó khăn.
Vì thế NH rất khó giám sát chủ đầu tư sau khi được quyết định cho vay để đầu tư dự án có
thực sự sử dụng khoản vay đúng mục đích hay không. Chính vì thiếu thông tin nên NH
không thể đưa ra quyết định phù hợp chính xác, điều này có thể dẫn đến việc NH rót vốn
vào những nơi thiếu tin cậy
Bên cạnh đó, hệ thống kiểm tra, giám sát nội bộ NH còn lỏng lẻo, yếu kém. Nhiều NH
hạn chế chứ không thể loại trừ.
Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây ra rủi ro trên đây giúp chúng ta nhìn nhận một
cách đầy đủ, toàn diện khách quan hơn, từ đó có được những đề xuất phòng ngừa, giảm
thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT một cách hữu ích, thiết thực hơn.
1.1.5 Các chỉ số và phương pháp đo lường rủi ro áp dụng tại NHTM
1.1.5.1 Các chỉ số phản ánh rủi ro
Hệ số thu nợ (%)
Hệ số thu nợ
=
Doanh số thu nợ
Tổng doanh số cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của NH hay khả năng trả nợ vay của khách
hàng. Hệ số thu nợ càng lớn thì càng được đánh giá tốt, cho thấy công tác thu hồi vốn của
NH đạt hiệu quả, ít gặp rủi ro và ngược lại.
Tổng dư nợ trên tổng vốn huy động (%, lần)
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng đồng vốn huy động của NH. Nó giúp so sánh
khả năng cho vay của NH với nguồn vốn huy động được. Chỉ tiêu này quá lớn hay quá nhỏ
đều không tốt, bởi vì nếu chỉ tiêu này quá lớn thì cho thấy khả năng huy động vốn của NH
thấp, ngược lại nếu chỉ tiêu này quá nhỏ cho thấy NH đã sử dụng vốn huy động ngày càng
không có hiệu quả.
Mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay các dự án đầu tư:
Mức độ rủi ro =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động cho vay các dự án đầu tư của NH và đo lường
chất lượng nghiệp vụ tín dụng của NH một cách rõ nét. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất
lượng của hoạt động cho vay các DAĐT của NH càng kém và ngược lại. Mức giới hạn cho
phép của mức độ rủi ro do NHNN quy định là 5%.
Bên cạnh đó, các NHTM còn sử dụng một số chỉ số sau để đo lường rủi ro trong hoạt
động cho vay các dự án đầu tư:
năm để thực hiện việc xóa nợ.
Tỷ số giữa dự phòng rủi ro trong hoạt động cho vay các dự án đầu tư với tổng
dư nợ hoặc với tổng vốn chủ sở hữu của NH
Tỷ số giữa dự phòng rủi ro
trong hoạt động cho vay
các DAĐT với
tổng dư nợ tín dụng
=
Dự phòng rủi ro cho hoạt động
cho vay các DAĐT
Tổng số dư nợ tín dụng
Tỷ số giữa dự phòng rủi ro
trong hoạt động cho vay
các DAĐT với tổng vốn
chủ sở hữu cảu NH
=
Dự phòng rủi ro cho hoạt động
cho vay các DAĐT
Tổng vốn chủ sở hữu
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 11
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
Dự phòng rủi ro cho hoạt động cho vay các dự án đầu tư là số tiền dự phòng được
hạch toán vào chi phí hoạt động của NH thông qua việc trích lập dự phòng cho phần giá trị
dạnh mục các dự án đầu tư cho vay được đánh giá là có khả năng không thu hồi được vốn.
Trường hợp tỷ số này càng cao sẽ cho thấy danh mục các dự án đầu tư xin vay vốn đã
được cấp tín dụng của NH không tốt, số nợ khó có khả năng thu hồi lớn. Việc đánh giá
đúng khả năng thu hồi của danh mục các dự án đầu tư xin vay vốn, nhằm trích lập quỹ dự
phòng rủi ro một cách phù hợp, bù đắp được những biến cố xảy ra là hết sức quan trọng
trong công tác quản trị NH hiện đại.
1.1.5.2 Phương pháp đo lường rủi ro RAROC
không trả được nợ; LGD (loss given Default) – tỷ trọng tổn thất ước tính; EDA (Exposure
at Default) – Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ; EL (Expected
Loss) – tổn thất có thể ước tính.
Đối với mỗi khoản cho vay đối với mỗi DAĐT, ứng với mỗi kì hạn khác nhau, tổn thất
có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức:
EL = PD x EAD x LGD
Các thành phần cấu thành trong công thức được mô tả như sau:
PD (probability of Default) – xác suất khách hàng không trả được nợ
Cơ sở của xác suất này là số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm
các khoản nợ đã trả, các khoản nợ đang trong hoạn và các khoản nợ không thu hồi được.
EDA (Exposure at Default) – Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả
được nợ
EAD = dư nợ bình quân + LEQ x hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
Trong đó, LEQ (Loan Equivalent Exposure) là tỷ trọng phần vốn chư sử dụng có nhiều khả
năng khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ. LEQ x hạn mức tín dụng sử
dụng bình quân chính là phần dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
ngoài mức dư nợ bình quân.
LGD (loss given Default) – tỷ trọng tổn thất ước tính
Đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không
trả được nợ. LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất
khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được
thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: chi phi xử lý tài sản bảo đảm,
các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số các chi phi liên quan khác.
1.2 QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY VỐN CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TẠI NHTM
1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay vốn các dự
án ĐT tại NHTM
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 13
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
1.2.1.1 Ảnh hưởng của rủi ro tới bản thân NH cấp tín dụng
tiền của.
b) Mất vốn
Rủi ro không thu được nợ từ hoạt động cho vay các DAĐT tức là NH mất vốn, lợi tức
và cả chi phí trong kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến kinh doanh thua lỗ, NH mất khả
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 14
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
năng thanh toán thậm chí đẩy NH đến bờ vực phá sản. Mặt khác khi chủ đầu tư không trả
được nợ thì các NH buộc phải sử dụng các biện pháp xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Tuy nhiên rủi ro cũng tiềm ẩn ngay cả trong các tài sản đảm bảo nợ:
• Rủi ro do đánh giá tài sản thế chấp và cầm cố không đúng giá trị thực nghĩa là
đánh giá giá trị của các tài sản lớn hơn giá trị thực còn lại của nó => số tiền thu hồi
nhỏ hơn số nợ của khách hàng => NH mất một phần vốn
• Tài sản đảm bảo không đáp ứng nhu cầu của thị trường và khó chuyển nhượng nên
nếu muốn phát mại tài sản thế chấp hoặc cầm cố cũng rất khó. Mặt khác, một số
tài sản càng để càng mất giá và có thể bị hao mòn vô hình hay hữu hình, hơn nữa
NH còn mất thêm chi phí bảo quản tài sản làm tăng thêm chi phí.
Nếu mức độ rủi ro mà NH có thể chịu đựng được thì NH có thể bù đắp bằng các quỹ
dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nghiêm trọng thì sự bù đắp
của các quỹ dự phòng cũng không thể thay đổi được tình hình.
1.2.1.2 Ảnh hưởng của rủi ro tới nền kinh tế
NHTM cấp tín dụng cho các dự án đầu tư luôn vì mục đich cung cấp thêm vốn đầu tư
cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng sản suất và lưu thông hàng hóa,
tạo thêm nhiều sản phẩm mới cho xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nguwoif
sử dụng vốn vay. Đồng thời tăng tích lũy cho nền kinh tế. Khi rủi ro xảy ra, NH sẽ bị chậm
hoặc không có khả năng thu hồi vốn để tiếp tục cho cay. Vì thế, rủi ro sẽ làm giảm vòng
quay sử dụng vốn của NHTM và làm chậm tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế. Kết
quả là sản xuất bị đình đốn, nền kinh tế không phát triển được, xã hội bị rối loạn
Tiếp đó, nếu công tác quản lý rủi ro của các tổ chức tín dụng không tốt sẽ làm ảnh
hưởng đến khả năng thanh khoản của NH, tình trạng này kéo dài đến một mức độ nào đó
có thể sẽ là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đổ vỡ, phá sản NH, kéo theo đó
vệ mình trước các thất bại/tổn hại trong hoạt động tín dụng.
Bảo đảm mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT mà NH phải gánh chịu
không vượt quá khả năng về vốn và tài chính của NH: NHTM thực hiện chức năng trung
gian tín dụng, sử dụng các nguồn vốn huy động để cho vay là chủ yếu. Trong khi nội lực
về vốn và tài chính của NH có hạn, NH chỉ có thể chấp nhận và chịu đựng rủi ro ở một
mức độ nhất định trong khả năng từ bù đắp của mình. Vì thế, rủi ro trong hoạt động cho
vay các DAĐT luôn được giám sát chặt chẽ với các tiêu chí đo lường, cảnh báo với các
mức độ khác nhau để đảm bảo rủi ro được kiểm soát không vượt quá khả năng về vốn và
tài chính của NH.
Bảo đảm không ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và sự tồn tại của NH: Hiệu quả
kinh doanh tín dụng của NH phụ thuộc và khả năng quản lý rủi ro tín dụng. Do đó, mục
đích của quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT của NHTM phải đảm bảo rằng
nếu rủi ro tiêu cực xảy ra cũng phải tuân thủ nguyên tắc không ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh và sự tồn tại của NH.
1.2.3 Quy trình quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại
NHTM
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 16
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
Sơ đồ I-2
Quá trình quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
1.2.3.1 Nhận diện rủi ro
Nhận diện rủi ro là việc xác định các đe dọa hoặc các cơ hội có thể xảy ra trong suốt
thời gian hoạt động của dự án đi kèm với sự bất định của chúng. Thời gian hoạt động của
dự án là thời gian tính đến khi hết thời hạn hợp đồng cho vay mà chủ đầu tư đã kí với NH.
Đây là công việc mang tính thiết yếu, quan trọng bởi nếu nó được làm tốt thì các bước
tiếp theo của nội dung quản lý rủi ro mới được tiến hành và đạt kết quả tốt. Việc phát hiện
rủi ro phải được xem xét một cách tổng thể đối với mọi DAĐT và mọi giai đoạn, mọi khía
cạnh của DAĐT dựa trên mọi dấu hiệu có liên quan.
Nguồn thông tin mà NH có thể dựa vào để phát hiện rủi ro là:
- Thông tin từ hồ sơ dự án
Là những chính sách nội bộ của NHTM nhằm quản lý hoạt động cho vay các DAĐT.
Nói một cách đơn giản đó là việc NH sẽ phản ứng như thế nào khi rủi ro xảy ra. Trong quá
trình này chúng ta sẽ tập trung vào những rủi ro được sắp xếp theo thứ tự tầm quan trọng
cần quan tâm. Việc xử lý rủi ro bao gồm cả việc bỏ qua rủi ro, để mặc rủi ro xảy ra, theo
dõi những rủi ro trong quá trình dự án hoạt động. Nó còn bao gồm làm gì đó trước khi rủi
ro xảy ra, có thể là chuyển giao rủi ro cho người khác hoặc chia sẻ rủi ro với người khác
với mục đích sao cho rủi ro trong hoạt đông cho vay các DAĐT nếu xảy ra thấp dưới mức
đã xác định/chấp nhận, ít gây ảnh hưởng đến NH cấp tín dụng.
Các biện pháp NH dùng để quản trị rủi ro dự án đầu tư có thể kể đến cụ thể như sau:
- Tránh rủi ro: không cho vay các DAĐT cảm thấy khả năng rủi ro cao, tính khả thi
thấp.
- Hạn chế rủi ro: sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro hoặc
nếu xảy ra rủi ro thì thiệt hại ở mức thấp nhất.
+ Thực hiện các quy định về an toàn tín dụng được ghi trong Luật các tổ chức tín dụng
và trong các nghị định của NH Nhà nước
+ Xác định danh mục các DAĐT xin vay vốn với mức độ rủi ro khác nhau. Các loại
khách hàng khác nhau, các đối tượng cho vay khác nhau, các loại DAĐT khác nhau sẽ
có mức độ rủi ro khác nhau
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 18
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
+ Xây dựng các chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng nhằm hạn chế rủi
ro như: chính sách tài sản đảm bảo, chính sách đồng tài trợ… Quy trình phân tích tín
dụng phản ánh những nội dung mà cán bộ thẩm định phải thực hiện khi cho vay nhằm
hạn chế rủi ro như thẩm định hồ sơ dự án xin vay vốn, phân tích tình hình hoạt động
của dự án, lich sử của chủ đầu tư, mục đích vay…
+ Xác định dấu hiệu của khoản vay có vấn đề, giới hạn các khoản tín dụng và đa dạng
hóa
+ Quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề
- Tự bảo hiểm: NH có thể tự bảo hiểm bằng cách mua bảo hiểm tín dụng cho các
khoản cho vay của mình tại các công ty bảo hiểm. Ngoài ra, NH còn có thể yêu cầu
Chính sách
Quản lý
TẦM NHÌN
Mục tiêu
của NH
Chính sách Các Ủy ban Tính tuân thủ Công nghệ Tổ chức
Thực hiện
quản lý rủi ro
Hoạt động
hỗ trợ
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
1.2.4 Nội dung quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại
NHTM
Các nội dung quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM được thiết
lập dựa trên các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng hiện tại của Ủy ban giám sát NH Basel.
Các nội dung luôn tương tác hỗ trợ lẫn nhau thiết lập nên khung quản lý rủi ro trong hoạt
động cho vay dự án tại NH với mục tiêu luôn đảm bảo sự thận trọng, toàn diện, chất lượng
và có sự tương hợp cao giữa từng nội dung quản lý rủi ro.
Sơ đồ I – 4
Khung quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT
1.2.4.1 Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng
Chiến lược hoạt động tín dụng là bản tuyên ngôn của ban lãnh đạo NHTM về các mục
tiêu trong hoạt động tín dụng. Xác định thái độ của NH đối với rủi ro tín dụng và thái độ
sẵn sàng chấp nhận rủi ro đó. Chiến lược hoạt động tín dụng được hoạch định định kì, phù
hợp với mức độ rủi ro của từng thời kì, đồng thời phải được phổ biến với tất cả nhân viên
NH. Chiến lược hoạt động tín dụng được lấy làm cơ sở xác định kế hoạch hoạt động cho
vay các DAĐT.
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 20
Xác định rủi ro
hiện có và rủi
danh mục các DAĐT được cấp tín dụng. Một nội dung quan trọng khác là phải chú y các
rủi ro mới, trước đó chưa được phát hiện.
1.2.4.3 Xây dựng chính sách và quy trình cấp tín dụng đối với các DAĐT
xin vay vốn:
Chính sách cấp tín dụng đối với các DAĐT xin vay vốn đặt ra mục tiêu, tham số định
hướng cho cán bộ NH, những người làm công tác cho vay và quản trị danh mục đầu tư.
Chính sách được xây dựng dựa trên chiến lược và chính sách hoạt động tín dụng của NH.
Chính sách xây dựng khoa học, cẩn thận thông suốt từ trên xuống dưới sẽ tạo điều kiện cho
NH duy trì tiêu chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về các cơ
hội kinh doanh.
Một chính sách cho vay đối với các DAĐT tốt phải là một ứng dụng thông minh của
những nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân tố và môi trường
kinh tế. Công việc của người cán bộ tín dụng là xem xét xác định xem DAĐT nào nên cho
vay, áp dụng loại sản phẩm nào, cho ai vay, với những điều kiện như thế nào.
Nội dung cơ bản của một chính sách cho vay đối với các DAĐT thông thường bao
gồm:
- Miêu tả thị trường tín dụng mục tiêu của NH
- Tuyên bố tiêu chuẩn đối với danh mục những DAĐT có thể cho vay của NH
- Xác định quyền hạn, trách nhiệm, của cán bộ tham gia quá trình ra quyết định cho
vay đối với những DAĐT xin cấp tín dụng
- Những thủ tục, hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá và ra
quyết định đối với yêu cầu vay vốn của chủ đầu tư
- Các tài liệu cần thiết trong hồ sơ vay vốn
- Các biện pháp bảo đảm tiền vay; hướng dẫn tiếp nhận, đánh giá, bảo quản tài sản
bảo đảm.
- Chính sách, phương pháp xác định lãi suất, các khoản phí và thời hạn vay vốn, kì
hạn trả nợ
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 21
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
- Một bản tiêu chuẩn thích hợp áp dụng chung cho toàn bộ danh mục các DAĐT có
dự án cụ thể còn có những tác dụng sau đây:
- Giúp công tác quản lý rủi ro đối với một khách hàng được tập trung. Nếu không
xác định giới hạn cho vay tối đa đối với từng loại dự án cụ thể, mỗi phòng ban
nghiệp vụ của NH tự đánh giá rủi ro của mỗi DAĐT xin vay vốn riêng để cung cấp
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 22
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
sản phẩm mà phòng ban mình được phân công, do đó thông tin về một khách hàng
bị phân tán.
- Tăng cường tính tập thể, khách quan trong hoạt động cho vay các DAĐT vì giới
hạn cho vay tối đa đối với từng loại dự án cụ thể được quyết định thông qua kiến
của Hội đồng tín dụng.
- Trên cơ sở giới hạn cho vay tối đa đối với từng loại dự án cụ thể đã được xác định,
các NHTM hoàn toàn chủ động trong việc tiếp cận và đáp ứng nhu cầu vay vốn của
các chủ đầu tư, kể cả việc chủ động từ chối các chủ đầu tư có dự án không đảm bảo
chất lượng
Với tất cả nội dung và mục đích đó, chính sách cho vay đối với các DAĐT là cơ sở để
hình thành nên quy trình cho vay đối với các DAĐT, là một hướng dẫn nội bộ của NH về
trình tự xử lý các bước trong một quá trình cấp tín dụng cho các DAĐT xin vay vốn, nhằm
đảm bảo tính thống nhất thực hiện trong toàn bộ NH và tuân thủ các quy định có liên quan
của pháp luật.
Quy trình cho vay đối với các DAĐT phải nêu rõ tất cả các bước tác nghiệp cũng như
kết quả của tất cả các bước tác nghiệp, bao gồm các bước: thẩm định cho vay, ra quyết
định cho vay, giải ngân, theo dõi sau cho vay, giám sát toàn bộ quá trình cho vay, theo dõi
đặc biệt một số khoản vay, xử lý các món vay có vấn đề… Tại tất cả các khâu trong bước
tác nghiệp có khả năng gây ra rủi ro đều phải được đặt các chốt kiểm tra. Các chốt kiểm tra
trong quy trình cho vay đối với các DAĐT phải được bố trí một cách phù hợp, nếu nhiều
quá có thể tăng khả năng quản lý rủi ro nhưng tốn kém và mất thời gian, nếu ít quá mặc dù
có thể giảm được chi phí nhưng có thể gây rủi ro cao hơn. Vấn đề là NHTM phải tìm được
điểm cân bằng trong vấn đề này để quy trình cho vay đối với các DAĐT đảm bảo mọi việc
việc thừa, lãng phí mà nó có vai trò hết sức quant rọng đối với một chương trình cho vay
lành mạnh của NH. Nó không chỉ giúp các nhà quản lý NH phát hiện ra những khoản vay
có vấn đề nhanh hơn mà còn giúp xác định được các cán bộ tín dụng có tuân thủ đúng
chính sách cho vay của NH hay không, từ đó các nhà quản lý trong NH có thể đánh giá
toàn bộ rủi ro tiềm tàng của NH và nhu cầu vốn cùa nó trong tương lai. Chính vì lí do này
cũng như để tăng cường tính khách quan trong quá trình kiểm soát tín dụng, rất nhiều các
NH lớn đã tách đội ngũ cán bộ kiểm soát tín dụng ra khỏi phòng tín dụng.
Một khía cạnh khác của hoạt động kiểm tra, giám sát các khoản vay của các DAĐT là
công tác kiểm tra giám sát nội bộ. Công tác kiểm tra giám sát nội bộ trong hoạt động cho
vay các DAĐT là một công cụ vô cùng quan trọng, thông qua hoạt động này có thể phát
hiện, ngăn ngừa và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cấp tín
dụng đối với các DAĐT xin vay vốn nói riêng và nghiệp vụ tín dụng nói chung của NH.
Bên cạnh đó, hoạt động kiểm soát cũng góp phần ngăn chặn phát hiện những rủi ro đạo
đức do cán bộ tín dụng gây ra. Hoạt động kiểm tra kiểm soát nội bộ được thục hiện bởi
một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa
ra những đánh giá một cách khách quan đối với hoạt động tín dụng. Trên cơ sở đó thực
hiện chức năng tư vấn cho bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản lý của ban lãnh đạo NH.
Nguyễn Phương Thảo – Lớp Đầu tư 48A 24
Công tác quản lý rủi ro trong hoạt động cho vay các DAĐT tại NHTM
Công tác kiểm tra kiếm soát nội bộ nghiệp vu cho vay đối với các DAĐT tại các NH
hiện nay tập trung vào hai phương diện chính:
- Kiểm tra kiểm soát việc tổ chức chỉ đạo điều hành, đánh giá khái quát hoạt động
cấp tín dụng cho các DAĐT xin vay vốn: với nội dung này, kiểm soát nội bộ
thường kiểm toán một số nội dung như kiểm tra việc tổ chức phân công của lãnh
đạo trong chỉ đạo điều hành hoạt động tín dụng, kiểm tra việc triển khai chế độ thể
lệ và các văn bản chỉ đạo, kiểm tra việc bố trí cán bộ làm công tác tín dụng, kiểm
tra đánh giá khái quát hoạt động tín dụng
- Kiểm tra kiểm soát đối với từng khoản tín dụng cụ thể cấp cho DAĐT xin vay vốn
bao gồm cả khâu trước, trong và sau khi cho vay. Kiểm tra trước và trong khi cho
vay thường tập trung vào một số mặt như tính hợp lệ và đầy đủ của hồ sơ vay vốn