Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 10 năm đổi mới cùng với các chính sách phát triển kinh tế. Đảng và
Nhà nước đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội hướng vào phục vụ lợi
ích và phát triển toàn diện con người như: Chính sách giải quyết việc làm và thu
nhập, giáo dục, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, chính sách dân tộc và tôn giáo, chính
sách đối với người có công với đất nước... Nhờ đó Việt Nam đã đạt được những
thắng lợi to lớn về kinh tế - xã hội. Từ một nước cái gì cũng thiếu nay đã dư
thừa, từ chỗ lạc hậu về cơ sở hạ tầng nay từng bước xây dựng hiện đại. Nói
chung nước ta trở thành một nước có nền kinh tế năng động, ổn định và phát
triển nhanh. Tuy nhiên để thu hẹp khoảng cách giữa Việt Nam với nước phát
triển còn rất nhiều chính sách chúng ta phải giải quyết, những chính sách xã hội:
nổi lên gay gắt như: Người chưa có việc làm, thiếu việc làm ngày càng tăng. Sự
phân hoá giàu nghèo tăng nhanh tệ nạn xã hội và tội phạm có chiều hướng gia
tăng, trong các chính sách nêu trên lao động và việc làm đang là một sức ép lớn,
là một trong những chính sách có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của nhân
loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng trong đó có Việt Nam chúng ta.
Hiện nay Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước do đó việc nghiên cứu chính sách giải quyết việc làm có ý nghĩa rất
thiết thực, chính sách giải quyết việc làm và chống thất nghiệp là một trong
những tiêu chí bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, là chính sách xã hội cơ
bản góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội.
Với ý nghĩa muốn tìm hiểu nhận thức đượcchủ trương, chính sách của
Nhà nước về chính sách giải quyết việc làm. Em xin mạo muội được viết và lấy
tên đề tài của mình là “Chính sách việc làm trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay”.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
I. CÁC KHÁI NIỆM
của nhà nước, một hệ thống quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp
giải quyết việc làm cho người lao động nhằm góp phần bảo đảm an toàn, ổn
định và phát triển xã hội.
II. VỊ TRÍ VÀ Ý NGHĨA CỦA CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
1. Vị trí chính sách việc làm trong hệ thống các chính sách kinh tế -
xã hội
Khi nghiên cứu lý thuyết về sự phát triển, mọi người đều nhận thức rằng
một trong những chính sách cơ bản nhất trong cấu trúc của nó là phát triển
nguồn nhân lực, coi đó là đỉnh cao nhất, là mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình
phát triển. Điều này hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với nhận thức mới về phát
triển con người trong thế giới hiện đại. Theo lý thuyết này thì chính sách trung
tâm của thời đại chúng ta là chính sách con người và sự tham gia của con người
vào tiến trình phát triển xã hội và tiến bộ xã hội.
Mấy chục năm qua, cùng với chính sách phát triển kinh tế. Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành một hệ thống chính sách xã hội nhân bản, hướng vào phục
vụ lợi ích của con người và phát triển con người toàn diện trong đó đặc biệt là
chính sách phát triển dân trí, bảo vệ sức khoẻ, đảm bảo công ăn việc làm, an
toàn xã hội tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các dân tộc... chính vì vậy mà chỉ
số phát triển con người ở Việt Nam đã nâng cao. Để thực hiện mục tiêucủa chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam là “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn
minh”, hệ thống chính sách xã hội phải dựa trên nền tảng cốt lõi nhất là coi
trọng yếu tố con người và phát huy đến mức cao nhất tiềm năng của con người,
song suy cho cùng hệ thống chính sách xã hội phải bảo đảm các yêu cầu có tính
nguyên tắc sau:
- Mọi người có việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống hàng ngày...
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Thực hiện nguyên tắc công bằng, dân chủ, bình đẳng trong mọi quan hệ
xã hội trước pháp luật.
- Xây dựng một xã hội phát triển tương đối đồng đều, giảm dần sự cách
triển kinh tế tức là loại chính sách này chủ yếu liên quan đến phát triển khả năng
tạo việc làm đề duy trì hoặc thay thế lực lượng lao động hiện có chính sách đầu
tư ở đây chủ yếu theo chiều sâu và đồng bộ hoá.
Chính sách việc làm được lồng ghép trong các chính sách chương trình
phát triển xã hội khác (chính sách và chương trình đầu tư cho nhà ở, y tế, giáo
dục, phòng chống tệ nạn xã hội, xoá đói giảm nghèo...).
Chính sách việc làm cho đối tượng chưa có việc làm, thất nghiệp hoặc
thiếu việc làm. Nhà nước ta thường quan tâm đến loại chính sách này tức là đối
tượng cấp bách nhất cần có việc làm ổn định, an toàn xã hội.
Chính sách việc làm là một loại chính sách xã hội liên quan đến một trong
những mặt sống còn của cuộc sống con người, là một trong những yếu tố cơ bản
phát triển con người vì vậy chính sách việc làm liên quan đến thoả mãn nhu cầu
cơ bản của con người và là nguồn gốc căn nguyên của mọi chính sách xã hội
khác, chính sách việc làm có mục tiêu xã hội rất rõ nét là một trong những nội
dung cơ bản của công bằng xã hội và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Cùng với chính sách xã hội khác. Chính sách việc làm góp phần ổn định, phát
triển và tiến bộ xã hội. Bởi vậy chính sách việc làm mang tính xã hội, nhân văn
và nhân đạo sâu sắc.
Đối tượng của chính sách việc làm là mọi người lao động có khả năng lao
động và có nhu cầu việc làm.
Để thực hiện chính sách việc làm đến đúng mục tiêu đối tượng và hiệu
quả thì chúng ta không thể thực hiện theo kiểu hành chính, mà phải có cơ chế và
quy trình vận hành riêng.
2. Mục tiêu của chính sách việc làm
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đối với chính sách giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã
hội nên khi đưa ra có rất nhiều mục tiêu nhưng ta có thể đưa ra một số mục tiêu
cơ bản sau:
- Mục tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội.
45%. Điều đó chứng tỏ dân số Việt Nam vẫn đang trong thời kỳ phát triển mạnh
nên về mặt kinh tế sẽ bất lợi vì bình quân số người phải nuôi dưỡng trên một lao
động cao hơn các nước khác đi theo nó là chính sách việc làm, giáo dục, y tế và
các yêu cầu xã hội khác rất lớn.
Bình quân cả nước, số người trong tuổi lao động có khả năng lao động
tăng 3,4% mỗi năm như vậy tăng 3,4% mỗi năm như vậy tăng 1,1 triệu người.
Tỷ lệ lao động nữ hiện nay chiếm xấp xỉ 51%. Số người trong độ tuổi lao động
có xu hướng ngày càng giảm dần chỉ còn 0,5% ở năm 1998.
Về trình độ văn hoá, số người không biết chữ từ 10 tuổi trở lên có5,44
triệu người vào năm 1979 và 5,3 triệu người vào năm 1989, đến năm 1999 thì
hầu như mọi người dân đều biết chữ và đều đã phổ cập tiểu học và trung học.
Tóm lại: Nước ta có nguồn lao động rất dồi dào tốc độ phát triển nguồn
lao động vẫn ở mức cao, lại phân bố không đều, phần lớn tập trung ở khu vực
nông thôn (gần 80%); chất lượng nguồn lao động rất thấp, đặc biệt chưa qua đào
tạo, lại đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, nên dẫn đến tình trạng rất
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
khó khăn về việc làm và tạo ra cơ cấu lao động hợp lý, đáp ứng yêu cầu của sự
thay đổi cấu trúc nền kinh tế tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế - xã
hội.
2. Đặc điểm thị trường lao động và việc làm
a. Áp lực lớn về việc làm.
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng
với tốc độ cao, một mặt tạo nguồn lựclớn cho phát triển đất nước, nhưng mặt
khác cũng tạo ra áp lực về đào tạo nghề và giải quyết việc làm: đây là điểm dễ
thấy về quan hệ cung - cầu lao động.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ đã bước đầu có tác dụng nhất định với việc thu hút, chuyển
dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn rất chậm
cụ thể: trong vòng 10 năm từ năm 1990 đến năm 2000, khu vực công nghiệp và
Hình 1: Tháp lao động VN Hình 2: Tháp lao động nước CN
9
0,3%
2,7%
3,5%
3,5%
88%
0,5%
5%
24,5%
35%
35%
Các nhà khoa học
Kỹ sư
Chuyên viên kỹ thuật
Lao động lành nghề
Lao động không lành nghề
Hình 1 Hình 2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cơ cấu lực lượng lao động kỹ thuật Việt Nam 1979 - 1998
1979 1989 1999
Số lượng
(nghìn
người)
Tỷ lệ
%
Số lượng
(nghìn
người)
Tỷ lệ
quốc tế.
Thứ hai, vẫn chưa ra khỏi tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Ngay trong
lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu còn rất bất hợp lý,
có thể thấy tình trạng đó ở biểu trang trước.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Theo kinh nghiệm của các nước thành công trong công nghiệp hoá thì cơ
cấu lao động kỹ thuật phổ biến là 1 đại học, cao đẳng, 4 trung học chuyên
nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật (1/4/10). Nhưng ở nước ta tình trạng bất hợp lý
của cơ cấu này ngày càng tăng lên (năm 1979: 1/2, 2/7,1; năm 1989: 1/1; 8/2,2;
năm 1997: 1/1,5/1,7). Theo báo cáo của Bộ giáo dục và đào tạo, trong 10 năm
(1986 - 1996), số học sinh học nghề giảm 2,5%. Số giáo viên dạy nghề giảm
31%, số trường dạy nghề giảm trên 40%, trong khi đó có tới 70 - 80% số sinh
viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường không có việc làm.
Thứ ba, lực lượng lao động nông nghiệp chủ yếu trong cơ cấu lao động
theo ngành: sự nghiệp công nghiệp hoá đã được tiến hành vài thập kỷ, song cho
đến nay nền kinh tế nước ta vẫn còn mang đậm dấu ấn một nền kinh tế thuần
nông thể hiện rõ trong cơ cấu nguồn lao động theo ngành, năm 1993, lao động
nông nghiệp chiếm tới 71% trong khi lao động công nghiệp chỉ có 12% và dịch
vụ 17% trong tổng lực lượng lao động công nghiệp chỉ có 12% và dịch vụ 17%
trong tổng lực lượng lao động xã hội, năm 1998 cơ cấu lao động theo ngành đã
chuyển biến tích cực, nhưng so với yêu cầu còn rất chậm: lao động nông nghiệp
giảm xuống còn 66% lao động công nghiệp và dịch vụ tăng lên là 13%, 21%
nhưng so với khu vực ta còn rất lạc hậu.
Thứ tư, thiếu cân đối trong cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ:
Hiện nay, tỷ trọng lao động ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và Sông
Cửu Long cao nhất nước (20,5% và 21,7% tổng lực lượng lao động xã hội)
trong khi đó vùng tây nguyên rộng lớn lực lượng lao động chỉ có 4%, vùng
duyên hải miền Trung 10,4% và Đông Nam Bộ 12,7%, sự mất cân đối này
không chỉ gây lên khó khăn cho chính sách công ăn việc làm, mà còn ảnh hưởng
tựu căn bản, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những chuyển biến tích
cực đó là sự tăng trưởng liên tục về diện tích, năng suất và sản lượng trong sản
xuất nông nghiệp, không những đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà
còn phục vụ cho xuất khẩu hàng triệu tấn sản phẩm nông nghiệp mỗi năm. Nông
nghiệp nông thôn đã bắt đầu hình thành và phát triển các vùng chuyên canh lớn
như: vùng chuyên cây công nghiệp, vùng chuyên cây ăn quả, chăn nuôi... đã bắt
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo xu thế chuyển dịch chung của cả
nước như giảm dần tỷ trọng nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng công nghiệp dịch
vụ, đặc biệt là cơ cấu ngành nghề trong nông nghiệp, nông thôn đã bước đầu
chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá...
Tuy nhiên thực tiễn lao động sản xuất khu vực nông nghiệp nông thôn còn
nhiều chính sách nảy sinh, lực lượng sản xuất hàng hoá tập trung trên một quy
mô mới cao hơn, chất lượng của nguồn lực lao động nông thôn còn thấp so với
nhu cầu thực tiễn.
Nước ta hiện có 37,407 triệu người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia HĐKT
thường xuyên, trong đó lao động nông thôn (LĐNT) là 29,758 triệu người
(chiếm 79,55%), tuy vậy chất lượng lao động nông thôn lại là chính sách cần
phải tìm giải pháp giải quyết.
Về trình độ học vấn : Lao động trong nông nghiệp nông thôn mới có
10,98% tốt nghiệp cấp III; 33,26% tốt nghiệp cấp II; 30,96% tốt nghiệp cấp I;
20,32% chưa tốt nghiệp cấp I, trong khi đó còn 4,48% chưa biết chữ (bảng 1)
Bảng 1: Số người từ đủ 15 tuổi trở lên HĐKT thường xuyên chia theo
trình độ học vấn ở khu vực nông thôn.
Đơn vị: ngàn người.
Chưa
biết chữ
Chưa TN
cấp I
ĐH
Tổng
số
29.758 27.360 364 323 456 865 382 8
Tỷ lệ 100% 91,94% 1,22% 1,09% 1,53% 2,91% 1,28% 0,03%
Nữ 14.988 14.044 176 35 132 431 166 3
Tỷ lệ 100% 93,7% 1,18% 0,23% 0,88% 2,88% 1,11% 0,02%
Có thể nói, những hạn chế về trình độ học vấn về kỹ năng nghề nghiệp
của lực lượng lao động nông thôn đang là trở lực trong công cuộc CNH, HĐH.
Bảng 3 cho thấy tỷ lệ thiếu việc làm của lao động nông thôn tập trung vào
3 nhóm tuổi chính: 15 - 24 là 30,65%, 25 - 34 là 29,68% và 23,76% ở 35 - 44.
Bảng 3: Số người từ đủ tuổi 15 trở lên lao động kỹ thuật thường xuyên
thiếu việc làm trong 12 tháng qua chia theo nhóm tuổi.
Đơn vị tính: ngàn người.
15.24 25.34 35.44 45.54 55.59
≥60
Tổng
số
8.219 2.519 2.440 1953 905 222 180
Tỷ lệ 100% 30,65% 29,68% 23,76% 11,01% 2,70% 2,19%
Nữ 3.826 1.209 1114 914 422 99 68
Tỷ lệ 100% 31,60% 29,11% 23,89% 11,02% 2,60% 1,78%
e. Tình hình lao động nữ:
Chúng ta đều biết, phụ nữ luôn giữ một vai trò và địa vị quan trọng trong
sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và của toàn nhân loại. Cùng
với sự phát triển của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và địa vị
người phụ nữ càng được nâng cao. Sự nâng cao vai trò và địa vị của phụ nữ
được thể hiện thông qua việc phụ nữ tham gia quản lý các nguồn lực, tham gia
vào các hoạt động kinh tế xã hội ngoài phạm vi gia đình. Một trong những chỉ
tiêu thể hiện vai trò và địa vị của phụ nữ là tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao
Nhận thức được sự cấp thiết sâu sắc của chính sách giải quyết việc làm
ngày 11/4/2000 Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành nghị quyết
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
120/HĐBT về chủ trương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm.
Trong các năm tới, trong đó đã đề cập đến một giải pháp cực kỳ quan trọng và
lập Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm. Từ năm 1992 đến nay, nguồn tài chính
cho mục tiêu giải quyết việc làm đã hình thành và đến năm 1999 đã có gần
1.200 tỷ đồng và được sử dụng khá hiệu quả, từng bước góp phần vào kết quả
thêm mới và duy trì chỗ làm việc cho người lao động. Trên cơ sở Nghị quyết
120/HĐBT nêu trên, năm 1992 nhà nước đã trích từ ngân sách 125 tỷ đồng để
lập quỹ quốc gia giải quyết việc làm và hàng năm đều trích ngân sách nhà nước
để bổ xung cho quỹ.
Để thực hiện và quản lý có hiệu quả nguồn quỹ này từ khi ra đời cho đến
nayđã có tới 17 văn bản có liên quan đến sự ra đời và quy định cơ chế vận hành
của Quỹ quốc gia giải quyết việc làm. Trong đó có 8 thông tư liên tịch hướng
dẫn thực hiện và bổ sung chính sách cho vay và sử dụng Quỹ.
Tính đến giữa năm 1999 việc cho vay vốn từ Quỹ QGGQVL đã đạt được
kết quả trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Quỹ đã cho vay trên 70.000 dự án
với số tiền cho vay gần 3.000 tỷ đồng (vốn gốc 1.165 tỷ) thu hút trên 3 triệu lao
động, trong đó có 70% lao động có việc làm mới, 30% vượt khỏi tình trạng thiếu
việc làm. Trước hết quỹ khuyến khích cho vay các dự án sản xuất, nuôi trồng
những con, cây có giá trị kinh tế cao, phát triển ngành nghề mới. Nhờ vậy cũng
đã góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn
theo hướng tích cực, giảm lao động thuần nông, tăng lao động tiểu thủ công
nghiệp và dịch vụ. Chỉ 1% số vốn vay sử dụng vào việc nuôi trồng những cây
con có tính chất nông nghiệp thuần tuý. Nhờ vay vốn Quỹ QGGQVL, nhiều
nghề làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển. Nhiều ngành chăn
nuôi mới có giá trị kinh tế cao: Nuôi cá lồng, ếch, baba... phát triển ở mọi miền,
hàng nghìn héc ta vườn tạp đã được cải tạo thành vườn cây ăn quả đặc sản có