MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................3
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ ......1
1.1. Công nghệ..................................................................................................1
1.1.1. Khái niệm và nội dung công nghệ................................................1
1.1.2. Phân loại công nghệ......................................................................3
1.2. Chuyển giao công nghệ............................................................................7
1.2.1.Khái niệm và đối tượng chuyển giao công nghệ..........................7
1.2.2. Các hình thức chuyển giao công nghệ.........................................8
1.2.3. Cơ sở của hoạt động chuyển giao công nghệ. ..........................10
1.2.4. Vai trò của chuyển giao công nghệ trong hoạt động đầu tư nước
ngoài.......................................................................................................11
1.3. Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ ở một số nước...........................13
1.3.1.Những thuận lợi và khó khăn trong CGCN ở các nước đang phát
triển.........................................................................................................13
1.3.2. Kinh nghiệm CGCN của một số nước.......................................15
Chương 2:
THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.........................................20
2.1. Tình hình tổng quát kinh tế- xã hội Việt Nam và trình độ công nghệ
tại Việt Nam...................................................................................................20
2.1.1.Tình hình kinh tế- xã hội tổng quát............................................20
2.1.2. Trình độ khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam.22
2.1.3. Quản lý nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ..........24
2.2. Thực trạng hoạt động chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư
nước ngoài tại VN thời gian qua..................................................................25
2.2.1. Đặc điểm chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam.................................................................................26
giao công nghệ trong nước và chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước
ngoài, trong đó chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt nam thông qua
các dự án FDI chiếm tỷ trọng lớn, đã và đang tạo hiệu ứng tích cực cho sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế, cũng như tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ
cho đất nước. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “ Tình hình chuyển giao công
nghệ qua các dự án nước ngoài ở Việt Nam” để nghiên cứu nhằm đánh giá một
cách chung nhất những hiệu quả nó tạo ra cũng như những hạn chế còn tồn tại,
từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
chuyển giao công nghệ qua các dự án nước ngoài .
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN GIAO CÔNG
NGHỆ
1.1. Công nghệ.
1.1.1. Khái niệm và nội dung công nghệ.
1.1.1.1 Khái niệm:
Có thể nói công nghệ xuất hiện đồng thời với sự hình thành xã hội loài người.
Từ “công nghệ- technology” xuất phát từ chữ Hi Lạp là techne và logos, techne
có nghĩa là phương pháp cần thiết để làm ra một vật nào đó, còn logos có nghĩa
là sự hiểu biết về một vật nào đó. Như vậy technology được hiểu là sự hiểu
biết(hay kiến thức) về một phương pháp cần thiết để làm ra một vật(sản phẩm).
Cho đến nay , người ta vẫn chưa đi đến một khái niệm thống nhất về công nghệ.
Đó là do số lượng các công nghệ hiện có nhiều đến mức không thể thống kê
được, công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ
cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái
quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau. Các tổ chức quốc tế về khoa học – công
nghệ đã có nhiều cố gắng trong việc đưa ra một định nghĩa công nghệ có thể
dung hòa các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hòa nhập
của các quốc gia trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu. Trong đó có bốn
khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa công nghệ: Đó là “công nghệ là máy
2
Tổ chức
Con người
Trang thiết bị Thông tin
*Phần mềm: Bao gồm.
+ Phần con người: Là đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, kĩ năng, kĩ xảo, kinh
nghiệm sản xuất, khả năng lãnh đạo, tính gia truyền,tính sáng tạo, khả năng phối
hợp… làm việc có trách nhiệm và năng suất cao. Phần này biểu thị năng lực của
con người, tạo ra sự vận hành và duy trì hoạt động của mọi phương tiện. Một
trang thiết bị hoàn hảo nhưng nếu thiếu con người có trình độ chuyên môn tốt và
kỉ luật lao động cao sẽ trở nên vô tích sự.
+ Phần thông tin: Bao gồm các dữ liệu, chỉ dẫn kĩ thuật, mô tả sáng chế,
thuyết minh, dự án, điều hành sản xuất, các bí quyết kĩ thuật(know-how).Đây là
phần rất quan trọng quyết định sự thành công của chuyển giao công nghệ bới nó
biểu thị những vấn đề đã được tư liệu hóa, tồn trữ các tri thức đã được tích lũy
để rút ngắn thời gian hoạt động của con người.
+ Phần tổ chức: Bao gồm những liên hệ, bố trí, sắp xếp đào tạo đội ngũ cán
bộ cho các hoạt động như phân chia nguồn lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch,
kiểm tra, điều hành. ..Phần này biểu thị mọi khung tổ chức để cho việc hoạch
định chiến lược, tổ chức thực hiện, động viên thúc đẩy, kiểm soát các hoạt động.
+ Phần thị trường đầu ra : nghiên cứu thị trường đầu ra là nhiệm vụ quan
trọng và cũng nằm trong phần mềm của hoạt động chuyển giao công nghệ.
1.1.2. Phân loại công nghệ.
Theo tính chất.
Công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ,công nghệ thông tin, công nghệ
đào tạo- giáo dục.
Theo ISO 8004.2, Dịch vụ có bốn loại:
-Tài chính, ngân hàng , dịch vụ, tư vấn.
-Tam quan, du lịch, vận chuyển.
Các công nghệ dẫn dắt là các công nghệ có khả năng cạnh tranh trên thị
trường thế giới
Theo góc độ môi trường có công nghệ ô nhiễm và công nghệ sạch
Công nghệ sạch là công nghệ mà quá trình sản xuât tuân theo điều kiện
giảm ảnh hưởng đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu thô và năng
lượng hợp lý
4
Theo đặc thù của công nghệ có thể chia thành hai loại: công nghệ cúng và
công nghệ mềm. cách phân loại này xuất phát từ quan niệm công nghệ gồm bốn
thành phần trong đó kĩ thuật là phần cứng còn ba yếu tó còn lại là phần mềm.
một công nghệ mà phần cứng của nó được đánh giá là vai trò chủ yếu thì công
nghệ đó được coi là công nghệ phần cứng và ngược lại. cũng có quan niệm coi
công nghệ cứng là công nghệ khó thay đổi;còn công nghệ mềm là công nghệ có
chu trình sống ngắn phát triển nhanh
Theo đầu ra của công nghệ, có công nghệ sản phẩm và công nghệ quá
trình:công nghệ sản phẩm liên quan thiết kế sản phẩm(thường bao gồm các phần
mềm) và việc sử dụng, bảo dưỡng sản phẩm (thường bao gồm các phần mềm sử
dụng sản phẩm); trong khi công nghệ quá trình để chế tạo ra sản phẩm đã được
thiết kế (liên quan tới bốn thành phần công nghệ ).
1.1.3. Công nghệ thích hợp.
Trong giai đoạn những năm 50 đến 70 của thế kỉ XX, các nước CNH đã có
những bước tăng trưởng kinh tế rất lớn và hàng loạt công nghệ mới ra đời. Tuy
nhiên cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1972- 1973 đã làm cho các nước này nhận ra
rằng chính những ngành công nghiệp lớn của họ là nguy cơ đe dọa sự tồn tại của
họ. Bên cạnh đó các nước đang phát triển cũng nhận thấy rằng không thể tiếp
tục khai thác nguồn tài nguyên hạn chế của nước mình một cách tùy tiện được
nữa. Điều đó cho thấy không phải bất cứ công nghệ mới nào cũng tốt và vấn đề
lựa chọn công nghệ thích hợp được đặt ra đối với tất cả các quốc gia.
Công nghệ thích hợp là những công nghệ phù hợp với khả năng và trình độ
tiêu chuẩn nêu trên. Đó là các thông tin liên quan đến bên cung cấp và bên nhận
công nghệ (lịch sử và kinh nghiệm ; địa vị hiện tại; chiến lược và kế hoạch của
doanh nghiệp ); các thông tin về mức độ tiên tiến của công nghệ cũng như về
tình hình công nghệ thế giới. Việc lựa chọn công nghệ phải trên cơ sở chủ động
tích cực và xuất phát từ đòi hỏi của bản thân doanh nghiệp.
Việc tìm hiều kinh nghiệm của nhiều nước, chúng ta không dập khuôn bất
kì mô hình nào đó mà tiếp thu những ưu điểm, loại trừ các khuyết tật của mô
hình chuyển giao công nghệ, từ đó hình thành mô hình của riêng mình , phù hợp
với thực tiến đất nước, truyền thống dân tộc và xu thế thời đại.
6
1.2. Chuyển giao công nghệ.
1.2.1.Khái niệm và đối tượng chuyển giao công nghệ.
1.2.1.1.. Khái niệm
- Tổng quát: Chuyển giao công nghệ là việc đưa kiến thức kĩ thuật ra khỏi
ranh giới nơi sản sinh ra nó.
- Theo quan điểm quản lí công nghệ: chuyển giao công nghệ là tập hợp các
hoạt động thương mại và pháp lí nhằm làm cho bên nhận công nghệ có được
năng lực công nghệ như bên giao công nghệ , trong khi sử dụng công nghệ đó
vào một mục đích đã định.
- Nghị định 45/1998/NĐ- CP: chuyển giao công nghệ là hình thức mua và
bán công nghệ trên cơ sở hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận
phù hợp với các qui định của pháp luật. Bên bán có nghĩa vụ chuyển giao các
kiến thức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc thiết bị, dịch vụ,
đào tạo…kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa
vụ thanh toán cho bên bán để tiếp thu, sử dụng các kiến thức công nghệ đó theo
các điều kiện đã thỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Nhà nghiên cứu Nhật Bản Prayyoon Shiowattana đưa ra định nghĩa mới: “
chuyển giao công nghệ là một quá trình học tập trong đó tri thức về công nghệ
được tích luỹ một cách liên tục và nguồn tài nguyên con người đang được thu
giao dọc và chuyển giao ngang.
- Chuyển giao dọc: là sự chuyển giao các công nghệ hoàn toàn mới mẻ, đòi
hỏi các bước đi khá đồng bộ từ nghiên cứu, thử nghiệm, triển khai sản xuất thử
đến sản xuất hàng loạt để đảm bảo độ tin cậy về kinh tế và kĩ thuật.
- Chuyển giao ngang: là sự chuyển giao công nghệ đã hoàn thiện từ doanh
nghiệp này sang doanh nghiệp khác, từ nước này đến nước khác. So với chuyển
giao dọc, kiểu chuyển giao này ít rủi ro hơn song thường phải tiếp nhận một
công nghệ dưới tầm người khác, không hoàn toàn mới mẻ.
b. Phân theo quyền lợi và trách nhiệm của người mua và người bán.
Phân loại theo kiểu này áp dụng trong trường hợp đánh giá mức độ tiên tiến
và giá cả của công nghệ; gồm các hình thức sau:
8
Chuyển giao giản đơn: là hình thức người chủ công nghệ trao cho người
mua quyền sử dụng công nghệ trong một thời gian và phạm vi hạn chế.
Chuyển giao đặc quyền: người bán trao quyền sử dụng công nghệ cho
người mua giới hạn trong một phạm vi lãnh thổ.
Chuyển giao độc quyền: là hình thức người bán trao toàn bộ quyền sở hữu
công nghệ cho người mua trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng.
c. Phân theo kiểu chuyển giao hay chiều sâu của chuyển giao công nghệ.
Trao kiến thức: việc chuyển giao chỉ dừng lại ở mức truyền đạt kiến thức
bằng cách đưa công thức, hướng dẫn, tư vấn về kĩ thuật.
Chuyển giao công nghệ dưới dạng chìa khoá giao tay: người bán phải thực
hiện các công việc như lắp đặt máy móc, hướng dẫn quy trình, hoàn tất toàn bộ
quá trình sản xuất.
Trao sản phẩm: người bán không những có trách nhiệm hoàn tất toàn bộ
dây chuyền sản xuất mà còn giúp người mua sản xuất thành công sản phẩm sử
dụng kĩ thuật chuyển giao.
Trao thị trường: ngoài trách nhiệm như ở mức độ “trao sản phẩm” người
bán còn phải bàn giao một phần thị trường đã xâm nhập thành công cho bên mua
triển cũng có nhu cầu về áp dụng công nghệ mới song do hạn chế về khả năng
tài chính nên không thể tự tạo ra được công nghệ. Chỉ khi nào công nghệ đã
hoàn thiện và đưa vào sản xuất hàng loạt thì chi phí cho công nghệ mới giảm đi
và các nước đang phát triển mới có điều kiện mua lại công nghệ. Hơn nữa, các
nước phát triển sau khi đã khai thác triệt để công nghệ thì lại có nhu cầu tạo ra
công nghệ mới và bán lại công nghệ cũ. Để thu được nhiều lợi nhuận, các nhà
nghiên cứu, nhà kinh doanh, các hãng đều muốn kéo dài vòng đời công nghệ.
Cùng với quá trình phát triển khoa học – công nghệ trên thế giới, các công nghệ
cũng phải luôn được cải tiến được đổi mới. Hơn nữa, tranh thủ sự đầu tư nước
ngoài, các quốc gia tận dụng chuyển giao công nghệ như một giải pháp hữu hiệu
để cải tiến nền sản xuất trong nước. Xuất hiện yếu tố cung cầu công nghệ đã tạo
ra sự hình thành thị trường công nghệ.
10
1.2.4. Vai trò của chuyển giao công nghệ trong hoạt động đầu tư nước
ngoài.
1.2.4.1. Đối với bên chuyển giao công nghệ.
Bằng việc di chuyển nguồn lực công nghệ sang một quốc gia khác để thực
hiện hoạt động đầu tư thì nhà đầu tư nước ngoài có thể có được những lợi ích
sau:
- Cải tiến để đáp ứng với điều kiện áp dụng công nghệ của nước nhận công
nghệ.
Mỗi công nghệ sinh ra trong một môi trường nhất định và phải phụ thuộc ít
nhiều vào môi trường đó. Nếu áp dụng công nghệ này trong một môi trường
khác có diều kiện khắc nghiệt hơn thì bên cung cấp công nghệ buộc phải tiến
hành thử nghiệm, thí nghiệm để cải tiến công nghệ cho phù hợp.
- Sử dụng lao động rẻ.
- Sử dụng tài nguyên địa phương, tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển.
Ben cung cấp công nghệ cho rằng việc bán li xăng sử dụng công nghệ cho các
nước giàu tài nguyên và sức lao động là hình thức chuyển giao tốt nhất.
- Nếu năng lực công nghệ thấp và thiếu các điều kiện tiếp nhận công nghệ
thì sẽ không phát huy được ưu điểm của các công nghệ này dẫn tới thất bại.
1.2.4.3. Đối với chính phủ các bên liên quan.
+ Đối với chính phủ bên cung cấp công nghệ.
Nhiều nước phát triển cung cấp thiết bị cho các nước đang phát triển khẳng
định rõ ràng lợi ích của họ trong việc thực hiện CGCN. Thông qua CGCN kinh
tế của các nước đang phát triển dần dần cũng tăng trưởng kéo theo sự gia tăng
sức tiêu thụ các mặt hàng công nghiệp và tiêu dùng từ nước cung cấp. Ước tính
cứ 3% sự gia tăng kinh tế ở các nước đang phát triển dẫn đến 1% gia tăng ở các
nước phát triển. Như vậy sự phụ thuộc lẫn nhau trong việc phát triển kinh tế
giữa các nước phát triển và đang phát triển là rất rõ ràng. Mặt khác, các nước
phát triển thừa nhận rằng rốt cuộc họ không thể duy trì được sự giàu có của
mình nếu như đại bộ phận dân số trên thế giới sống trong cảnh nghèo khổ bởi
12
những vấn đề kinh tế và xã hội sẽ là nguyên nhân gây ra những vấn đề về chính
trị và mất ổn định quốc tế.
+ Đối với chính phủ nước nhận công nghệ.
Những nước nhận công nghệ, đặc biệt những nước đang phát triển đều
nhận thấy lợi ích của hoạt động CGCN đi kèm với FDI mang lại.
- Chi phí để chế tạo ra công nghệ đòi hỏi vốn lớn, do vậy CGCN trong một
số lĩnh vực sẽ giúp cho chính phủ nước tiếp nhận công nghệ dành ngân sách cho
những lĩnh vực cần thiết, cấp bách hơn.
- Tạo thêm nhiều việc làm trong các doanh nghiệp FDI.
- Tăng thu ngoại tệ trong trường hợp sản phẩm của công nghệ được xuất
khẩu.
- Tiết kiệm ngoại tệ do sản phẩm có thể thay thế nhập khẩu.
- Khai thác và sử dụng nguyên liệu trong nước một cách hiệu quả. Tận
dụng nguồn lực sẵn có mà chưa khai thác được vì thiếu công nghệ cần thiết.
1.3. Kinh nghiệm chuyển giao công nghệ ở một số nước.
giảm chi phí đào tạo, làm cho bên nhận gặp khó khăn trong việc có đủ nhân lực
làm chủ công nghệ.
- Do lo lắng trong việc bản quyền công nghệ, lo ngại khả năng thu hồi vốn
đầu tư, do thị trường bên nhận nhỏ hẹp, lo ngại về việc bên nhận trở thành đối
thủ cạnh tranh( đã từng xảy ra) do đó bên giao thường cố ý trì hoãn hoặc chỉ
giao thông tin để đủ vận hành.
Về phía bên nhận:
- Cơ sở hạ tầng yếu kém, làm cho quá trình chuyển giao thực hiện, sử dụng
công nghệ không đủ điều kiện đòi hỏi.
- Cấu trúc hạ tâng công nghệ yếu kém(nhân lực, chính trị, văn hóa đặc biệt
năng lực nghiên cứu – triển khai nội bộ) dẫn tới không có khả năng đồng hóa,
tiến tới làm chủ công nghệ nhập.
- Phải đốt cháy giai đoạn trong phát triển công nghệ do thúc ép của việc
phải nhanh chóng CNH, HĐH.
14
Thực tế cho thấy, sau hơn 20 năm tăng cường chuyển giao công nghệ, các
nước đang phát triển thậm chí còn nghèo hơn trước( số liệu WB).
1.3.2. Kinh nghiệm CGCN của một số nước.
Để bắt đầu quá trình tìm hiểu kinh nghiệm chuyển giao công nghệ của một
số quốc gia tiêu biểu, chúng ta hãy cùng xem xét biểu đồ sau:
năm
Biểu đồ: những mô hình đuổi kịp về công nghệ của Nhật Bản và các nước
đang phát triển ở Châu á, so sánh với các nước phát triển.
Nguồn: Institute Of Developing Economies, Study on Technology And Trade
Friction Between Japan And Developing Nations(Tokyo: IDE, 195).
Từ một đống tro tàn sau thế chiến II , bằng con đường thực hiện chuyển
giao công nghệ, nghiên cứu ứng dụng và phát triển theo cách riêng của mình,
Nhật Bản đã trở thành một cường quốc trên thế giới, đắc biệt là ở khu vực Châu
Á Thái Bình Dương.
chuyển giao công nghệ giữa các nước đang phát triển, họ luôn ý thức được ưu
thế của mình, tiến hành đầu tư và chuyển giao công nghệ sang nhiều nước, đặc
biệt là sang các nước ASEAN. Các NIE Châu Á cũng thường sử dụng các hình
thức tiếp thu chuyển giao công nghệ như: qua liên doanh, tiếp nhận chuyển giao
trọn gói, qua mua bản quyền sở hữu công nghệ, thuê chuyên gia hướng dẫn, trao
đổi thông tin và đào tạo cán bộ kĩ thuật. Thông qua các hình thức tiếp thu công
nghệ như trên cùng với khả năng ứng dụng và đổi mới công nghệ, các NIE châu
Á đã đạt được những thành công rực rỡ, đặc biệt là trong phát triển công nghiệp.
Mặt khác, các NIE châu Á đã thực hiện phương châm “ đón đầu, đi tắt
trong công nghệ”. Thời kỳ đầu, với trình độ kỹ thuật còn thấp, họ chỉ tiến hành
16
chuyển giao dây chuyền công nghệ của nước ngoài để lắp ráp hoặc qua gia công
sản phẩm cho các công ty nước ngoài. Sau khi đã đổi mới cơ cấu ngành, tăng
sản xuất những thành phẩm có hàm lượng công nghệ cao, không chỉ nhà nước
quan tâm mà cả các công ty tư nhân cũng quan tâm thực hiện đuổi bắt tiếp thu
và làm chủ công nghệ như chính nước xuất khẩu công nghệ. Các NIE cũng đưa
ra những chính sách ưu đãi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc trực tiếp
mua máy móc trên thị trường.Trên thực tế, tuỳ theo đặc điểm kinh tế xã hội của
riêng mình, mỗi NIE châu á đều có những chính sách chuyển giao công nghệ hết
sức thận trọng để mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế.
-Trung Quốc có được sự thành công lớn, phát triển kinh tế theo kiểu đặc
sắc Trung quốc là nhờ một phần lớn từ hoạt động chuyển giao công nghệ .
Đạt được những thành công như hiện nay , Trung Quốc đã phải ban hành
tổng thế kế hoạch khoa học và công nghệ. Cuối những năm 80, trung quốc bắt
đầu một thời kì mới , dựa vào khoa học công nghệ để thúc đẩy phát triển kinh tế
và tăng tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trung quốc đã tiền hành các
chương trình nhìn trước về công nghệ nhằm đưa ra các quyết định cho chính
sách phát triển khoa học và công nghệ cấp quốc gia: Chương trình nghiên cứu
chính sách công nghệ quốc gia, đề cương phát triển khoa học và công nghê quốc
tập trung đầu tư xây dựng và mở rộng kết cấu hạ tầng, đầu tư nguồn nhân lực….
Nghiên cứu kinh nghiệm tiếp nhận chuyển giao công nghệ của các quốc gia
nói trên cho ta những bài học kinh nghiệm hết sức quý báu: cải thiện môi trường
đầu tư để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có hiệu quả, gắn
đầu tư trực tiếp nước ngoài với chuyển giao công nghệ thích hợp; các hợp đồng
chuyển giao công nghệ phải được chú trọng, được tính toán cẩn thận cả trong
hiện tại và tương lai; chú trọng phát triển công nghệ truyền thống công nghệ
truyền thống trong nước tạo cơ sở để tiếp nhận một cách hợp lý có chọn lọc,
thích hợp với công nghệ mới ; xây dựng và thúc đẩy sự phát triển của khu công
nghệ cao là nơi thu hút các hoạt động chuyển giao công nghệ, đóng vai trò động
lực, đầu tàu trong việc đẩy mạnh phát triển công nghệ quốc gia; chuyển giao
công nghệ không được tách rời việc nâng cao đời sống của nhân dân - đây cũng
là mục tiêu “ xã hội công bằng văn minh ”của Đảng và Nhà nước ta đã đề ra; ở
18
đây nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo, điều tiết giúp cho
hoạt động chuyển giao công nghệ có hiệu quả.
Trong quá trình học tập kinh nghiệm của các nước khác, không có một mô
hình nào là thước đo vạn năng, phổ biến rộng khắp, cần chú trọng điều kiện kinh
tế – xã hội cụ thể sẽ giúp chúng ta có được những bước đi thích hợp cho hoạt
động chuyển giao công nghệ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt, con người là nhân tố quyết định đối với mọi
thành quả kinh tế – xã hội. Tri thức được tích luỹ bởi tài nguyên con người là
bài học kinh nghiệm không bao giờ cũ cho chúng ta.
19
Chương 2:
THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC
DỰ ÁN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM.
2.1. Tình hình tổng quát kinh tế- xã hội Việt Nam và trình độ công nghệ tại
trình giảng day có nhiều đổi mới, phù hợp với dự thay đổi của thời đại. Hoạt
động khoa học công nghệ đã đóng góp không nhỏ không chỉ việc ứng dụng các
kết quả nghiên cứu vào sản xuất , đời sống xã hội mà cả trên phương diện nâng
cao năng lực đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ
- Các thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước được hình
thành, xuất hiện các thị trường mới như thị trường khoa học công nghệ, thị
trường lao động, thị trường thông tin…Khuôn khổ pháp lí, các cơ chế chính sách
, các chế tài quản lý cũng đã và đang được đổi mới phù hợp, thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội. Công tác cải cách nên hành chính nhà nước được đẩy mạnh.Bộ
máy tổ chức trong hệ thống hành chính nhà nước từ Chính phủ các Bộ, ngành
trung ương tới chính quyền địa phương đã được đổi mới, hoạt động ngày càng
có hiệu quả hơn.
Hoạt động kinh tế đối ngoại đã có bước phát triển mạnh mẽ, đưa nước ta
nhanh chóng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đa phương hóa và đa dạng
hóa các mối quan hệ với các nước , các tổ chức tài chính quốc tế, Việt Nam dã
tham gia vào các diễn đàn, tổ chức liên kết như ASEAN,APEC, ASEM, AFTA,
WTO.. Quan hệ hợp tác phát triển của nước ta với cộng đồng tài trợ quốc tế
ngày càng được thắt chặt. Nguồn vốn tài trợ của các nước cho ta đều tăng đáng
kể, tốc độ dải ngân vốn cũng như hiệu quả sử dụng vốn tài trợ cũng được đẩy
nhanh.
Chính trị- xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được củng cố, tạo môi
trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Hiệu lực hiệu quả quản lí nhà
nước được tăng cường một bước. Cải cách hành chính có những tiến bộ nhất
định. Dân chủ xã hội tiếp tục được phát huy. Nhiều vụ tiêu cực, tệ nạn xã hội, tội
tham nhũng bị phát hiện và xử lý nghiêm.
21
2.1.2. Trình độ khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam.
Nhiều cuộc khảo sát cho thấy trình độ công nghệ của một số ngành sản
xuất và của các doanh nghiệp còn lạc hậu. Theo kết quả điều tra về thực trạng