Lời mở đầu
Một nền kinh tế phát triển và bền vững đòi hỏi phải có một kết cấu hạ
tầng mạnh và hiện đại. Cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để tạo tiền đề, làm
động lực phát triển kinh tế xã hội và an ninh – quốc phòng, nhất là mạng lưới giao
thông đường bộ. Các công trình cơ sở hạ tầng mang tính xã hội hoá cao, có nhiều
đặc tính của hàng hoá công cộng. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng và hàng hoá công cộng
về cơ bản do chính phủ cấp, chính phủ là người đứng ra bỏ vốn đầu tư xây dựng
mà chủ yếu là vốn từ ngân sách, vốn tư nhân thì rất ít. Vốn đầu tư vào các công
trình này thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, thậm trí rất khó thu hồi vốn.
Vốn ngân sách nước thì còn phải chi cho nhiều hoạt động kinh tế - xã hội khác để
đảm bảo phát triển bền vững. Chính vì vậy, vốn ngân sách không thể đáp ứng đủ
cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải thu hút các
nguồn tài trợ khác cho hoạt động này, và khi tính đến việc thu hút nguồn vốn cho
hoạt động đầu tư không thể không lưu ý đến nguồn vốn nhàn rỗi từ khu vực tư
nhân. Đó là lý do em chọn đề tài: “Đánh giá hoạt động thu hút nguồn vốn tư
nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng nước ta trong những năm qua”.
Kết cấu bài viết bao gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Lý luận chung
Chương 2: Đánh giá hoạt động thu hút nguồn vốn tư nhân cho đầu tư vào cơ
sở hạ tầng của Việt Nam trong những năm qua
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút vốn
đầu tư tư nhân đầu tư xây dựng CSHT
Em xin chân thành cảm ơn TS. Trần Mai Hương đã giúp đỡ em hoàn
thành đề án này. Trong quá trình nghiên cứu khó có thể tránh khỏi những thiếu sót,
kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
1
Mục lục
Lý luận chung....................................................................................................................................4
1.1 Vị trí & vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.........................4
Khái niệm.............................................................................................................................................................4
Vị trí 4
2
Phụ lục những cụm từ viết tắt & Tài liệu tham khảo
Từ viết tắt:
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
XDCB: Xây dựng cơ bản
PTBV: Phát triển bền vững
XĐGN: Xoá đói giảm nghèo
PPP: Mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân
BOT: Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao
BTO: Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
BT: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
CSHT: Cơ sở hạ tầng
KTTN: Kinh tế tư nhân
KVKTTNTN: Khu vực kinh tế tư nhân trong nước
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
DNVVNVN: Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Tài liệu tham khảo
Giáo trình kinh tế đầu tư
www.gso.gov.vn
w ww.mpi.gov.vn
www.moc.gov.vn
www.dddn.com.vn
www.doanhnghieptre.vn
3
Đánh giá hoạt động thu hút nguồn vốn tư nhân đầu tư
vào cơ sở hạ tầng nước ta trong những năm qua
Lý luận chung
1.1 Vị trí & vai trò của kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế
Khái niệm
khoảng 840 nghìn; thì đến năm 2006 đã có trên 3 triệu hộ.
Doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân trước năm 1991 hầu như
không có, nếu có thì chủ yếu hoạt động ở thị trường ngầm, không được chấp nhận
chính thức. Từ sau khi có Luật Công ty (năm 1990), số doanh nghiệp thuộc khu
vực kinh tế tư nhân mới chính thức ra đời và chỉ thực sự tăng lên nhanh chóng từ
sau khi có Luật Doanh nghiệp, sau 5 năm thi hành, số doanh nghiệp đăng ký mới
đã đạt gần 110 nghìn, cao gấp hơn 2,4 lần so với thời kỳ 1991 - 1999.
1.2 Khái niệm & đặc điểm của vốn đầu tư
Khái niệm vốn đầu tư
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh
doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau
như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài... nhằm để : tái sản xuất, các
tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi
mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các
cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện
5
cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc
mới được đổi mới.
Đặc điểm về vốn đầu tư
Thứ nhất, đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản của sự phát triển và
sinh lời. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lời, trong đó có
yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất hoặc tái mở rộng quá trình
này, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn kinh
doanh tiến hành hoạt động, từ đó tăng trưởng và sinh lời. Trong các yếu tố tạo ra
sự tăng trưởng và sinh lời này vốn đầu tư được coi là một trong những yếu tố cơ
bản. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong việc phát
triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm
mục đích sinh lời. Tuy nhiên, động lực này thường vấp phải những lực cản bởi một
số đặc điểm khác.
Thứ hai, đầu tư đỏi hỏi một khối lượng vốn lớn, khối lượng vốn đầu tư
luỹ, C. Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế hai khu vực, khu vực I sản
xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị
của từng khu vực đều bao gồm (c + v + m) trong đó (c) là phần tiêu hao vật chất, (v
+ m) là phần giá trị mới tạo ra. Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng
không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v + m) của khu vực I lớn hơn
tiêu hao vật chất (c) của khu vực II. Tức là:
(v + m)I > cII
Hay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cI
7
Điều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không
chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả hai khu vực) mà còn
phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất
tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản
phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế
mới có thể dành một phần để tái sản xuất mở rộng. Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng
sẽ gia tăng.
Như vậy để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô
đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồng thời
phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực. Mặt khác phải tăng cường
sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tư liệu tiêu dùng ở cả
hai khu vực.
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C.Mác,
con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản
xuất và thực hành tiết kiệm ở trong sản xuất và tiêu dùng. Hay nói cách khác,
nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng
sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế.
tổng nguồn vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn của dân cư phụ
thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình.
9
1.3 Khái niệm và đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật
1.3.1 Khái niệm
Cơ sở hạ tầng là tổ hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng
phục vụ trực tiếp dịch vụ sn xuất đời sống của dân cư, được bố trí trên một phạm vi
lãnh thổ nhất định.
Khi lực lượng sản xuất chưa phát triển quá trình tiến hành các hoạt động
chỉ là sự kết hợp giản đơn giữa 3 yếu tố đó là lao động, đối tượng lao động và tư
liệu lao động chưa có sự tham gia của cơ sở hạ tầng. Nhưng khi lực lượng sản xuất
đã phát triển đến trình độ cao thì để sản xuất có hiệu quả cần có sự tham gia của
cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được phát triển mạnh mẽ gắn liền với cuộc
cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19. Bên cạnh đó, chính vì sự phát
triển mạnh mẽ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật mà nó thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ
tầng xã hội từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành
phát triển cơ sở hạ tầng ở giai đoạn 3. Giai đoạn vừa phát triển cơ sở hạ tầng kỹ
thuật vừa phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Như vậy, khi khoa học kỹ thuật ngày
càng được nâng cao thì cơ sở hạ tầng càng phát triển.
1.3.2 Phân loại
Căn cứ vào chức năng, tính chất và đặc điểm người ta chia các công trình
cơ sở hạ tầng thành 3 loại
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
- Cơ sở hạ tầng xã hội.
- Cơ sở hạ tầng môi trường
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là các công trình phục vụ cho sản xuất và đời sống
bao gồm: các công trình thiết bị chuyển tiếp và cung cấp năng lượng, mạng lưới
giao thông, cấp thoát nước, thông tin liên lạc.
10
Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các cồn trình phục vụ cho các địa điểm dân
trí địa điểm, áp dụng công nghệ sẽ đều phải trả giá rất đắt. Do đó, yêu cầu khi xây
dựng cơ sở hạ tầng bên cạnh việc áp dụng những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, phải căn cứ vào quy hoạch phát triển vùng và dự kiến được những biến động
trong tương lai.
- Các công trình cơ sở hạ tầng trên phạm vị lãnh thổ có chức năng phục
vụ sản xuất và đời sống. Tuy vậy, nếu xét về bản chất kết quả hoạt động của các cơ
sở hạ tầng lại là từ dịch vụ chứ không phải là sản xuất vật chất cụ thể chẳng hạn
dịch vụ bưu chính viễn thông, giáo dục đào tạo đây chính là điểm điểm phân biệt
giữa cơ cở hạ tầng với các ngành sản xuất vật chất khác.
1.4 Vai trò của cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng & phát triển kinh tế
Một nền kinh tế phát triển và bền vững đòi hỏi phải có một kết cấu hạ
tầng mạnh và hiện đại. Cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước để tạo tiền đề, làm
động lực phát triển kinh tế xã hội và an ninh – quốc phòng, nhất là mạng lưới giao
thông đường bộ.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu, mà trước hết là xây dựng đường
giao thông, thực hiện phương châm “giao thông đi trước một bước”. Cần xây dựng
hệ thống đường giao thông liên hoàn, kết nối các hệ thống hương lộ, huyện lộ, tỉnh
lộ với các trục quốc lộ đi qua khu vực dân cư nghèo. Đây là những kinh nghiệm,
bài học được rút ra từ những thành công của công tác XĐGN ở các nước đang phát
triển trong khu vực cũng như ở những nước phát triển trên thế giới trong nhiều
năm qua. Có hệ thống giao thông đồng bộ, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao
lưu kinh tế, thương mại, trao đổi hàng hoá giữa cộng đồng dân cư vùng nghèo
12
nông thôn miền núi với dân cư vùng giàu thành thị. Từ đó cũng tạo điều kiện dễ
dàng cung cấp các dịch vụ văn hoá, y tế, giáo dục, thông tin liên lạc đối với dân cư
vùng nghèo, vùng khó khăn.
Tiếp theo việc đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông là đầu tư xây
dựng một số cơ sở hạ tầng quan trọng khác như: cơ sở y tế khám chữa bệnh; cơ sở
giáo dục dạy nghề; hệ thống cung cấp điện, nước sinh hoạt, các công trình thuỷ lợi,
phục vụ sản xuất cho cộng đồng dân cư các vùng nghèo.
đều phải có vốn. Đặc biệt là hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thì khối
lượng vốn cần cho nó lại càng lớn. Nhận biết được tầm quan trọng của việc xây
dựng cơ sở hạ tầng nên Đảng và nhà nước ta đã dành những khoản đầu tư không
nhỏ cho hoạt động đầu tư này. Chính vì dành nhiều nguồn lực cho việc xây dựng
cơ sở hạ tầng nên nguồn vốn dành cho các mục tiêu phát triển khác đã bị hạn chế.
Vấn đề đặt ra ở đây là tìm những nguồn tài trợ mới tiếp sức cho ngân sách nhà
nước thực hiện đầu tư vào lĩnh vực này.
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hoá và hiện đại hoá
trong 20 năm đầu của thế kỷ 21, Việt Nam phải hoàn tất củng cố hệ thống cơ sở hạ
tầng. Điều này yêu cầu một nguồn vốn khổng lồ, bao gồm quỹ Nhà nước và vốn từ
các cá nhân cả trong nước và nước ngoài, cũng như sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà
nước và cá nhân trong việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia nói chung và
cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là lĩnh vực khó thu
hồi vốn, quá trình thực hiện một dự án cơ sở hạ tầng lại phức tạp vô cùng. Chẳng
hạn như khi quy hoạch tuyến đường giao thông được công bố, sẽ có một số nhà
đầu tư khác "ăn theo", hay chuyện có nhiều người đổ xô mua đất dọc theo tuyến
đường, gây khó khăn trong việc giải tỏa đền bù, làm nản lòng nhà đầu tư.
14