Một số vấn đề khi quy định về độ tuổi người lao động dưới 18 tuổi trong
các luật, bộ luật
Trong các văn bản pháp luật hiện hành, người dưới 18 tuổi được quy định ở nhiều văn
bản khác nhau như Bộ luật Dân sự - BLDS (Điều 18), Bộ luật Hình sự - BLHS (Điều 68), Bộ
luật Lao động - BLLĐ (Điều 119), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em - Luật
BVCSVGDTE (Điều 1)… Nhưng trong mỗi văn bản lại có cách quy định khác nhau về nhóm
đối tượng này. Khác với người đã trưởng thành, là người đã phát triển đầy đủ cả về thể chất
lẫn tinh thần, có thể tham gia đầy đủ các quan hệ xã hội do luật định, người dưới 18 tuổi
chưa thể tham gia đầy đủ các quan hệ xã hội do họ có những đặc điểm riêng về tâm sinh lý
và thể chất. Từ những đặc điểm riêng của nhóm người dưới 18 tuổi và để phù hợp với
phạm vi, đối tượng điều chỉnh, các văn bản luật khác nhau lại có cách gọi khác nhau về
nhóm người dưới 18 tuổi.
1. BLDS và BLHS quy định nhóm người dưới 18 tuổi là “người chưa thành niên”, nhưng
giới hạn về độ tuổi của người chưa thành niên lại khác nhau. Điều 18, BLDS quy định:
Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người
chưa thành niên. Như vậy, BLDS coi tất cả những người dưới 18 tuổi là người chưa thành
niên.
Khác với BLDS, quy định tại Điều 68 BLHS chỉ nêu: “người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự…”. Điều này cho thấy, quy định trong BLHS
về người chưa thành niên chỉ giới hạn ở nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi (tức thấp
nhất là từ đủ 14 tuổi trở lên và cao nhất là dưới 18 tuổi), không đề cập tới tất cả những
người dưới 18 tuổi như quy định trong BLDS. Tuy nhiên, quy định về người chưa thành niên
trong hai Bộ luật này lại không mẫu thuẫn, khi cùng đề cập tới người chưa thành niên, mỗi
Bộ luật lại đưa ra giới hạn về chủ thể khác nhau thuộc phạm vi điều chỉnh của mình.
2. BLLĐ quy định một nhóm đối tượng trong nhóm người dưới 18 tuổi là “người lao động
chưa thành niên”. Người lao động chưa thành niên được xác định như sau:
Tại Điều 6 BLLĐ quy định: “người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi”. Mặt khác, tại
khoản 1 Điều 119 quy định “người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
Kết hợp quy định tại Điều này với quy định tại Điều 6 trên, ta thấy độ tuổi của người lao
ngoài một số nghề, công việc và các điều kiện như trên nêu thì bất kỳ người nào dưới 15
tuổi tham gia quan hệ lao động đều là trái pháp luật lao động của Việt Nam.
Quy định trên phù hợp với Công ước số 138 về Độ tuổi tối thiểu mà Việt Nam đã tham
gia năm 2003. Trong Công ước quy định các nước thành viên tham gia công ước phải xác
định độ tuổi tối thiểu được đi làm việc hoặc được đi lao động và không một ai ở dưới độ tuổi
tối thiểu đó được đi làm việc hoặc được lao động trong bất cứ nghề nào, độ tuổi tối thiểu đó
không được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và bất kỳ trường hợp nào
cũng không được dưới 15 tuổi. Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế và pháp luật Việt
Nam chỉ thừa nhận người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi.
3. Trong Luật BVCSVGDTE lại quy định một nhóm đối tượng trong nhóm người dưới 18
tuổi là “trẻ em”. Trẻ em trong Luật này được xác định là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi
(Điều 1).
Ngoài ra, tại khoản 7 Điều 7 Luật BVCSVGDTE và Điều 228 BLHS có đề cập đến nhóm
đối tượng “lao động trẻ em”. Xét ở khía cạnh pháp lý thì trong hệ thống pháp luật của Việt
Nam không có một quy định nào để xác định khái niệm “lao động trẻ em”. Do đó, khái niệm
lao động trẻ em chỉ có thể xác định dựa trên mặt thuật ngữ khoa học. Để hiểu rõ nội hàm
của thuật ngữ “lao động trẻ em”, ta có thể đi từ việc làm rõ khái niệm “trẻ em” và khái niệm
“lao động”.
Theo Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 xác định “Trong phạm vi của
Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với
trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Phù hợp với quy định này và đặc điểm của
Việt Nam, Luật BVCSVGDTE tại Điều 1 xác định: trẻ em là người dưới 16 tuổi.
Mặt khác, theo Từ điển tiếng Việt thông dụng thì “Lao động là hoạt động tạo ra sản phẩm
vật chất hay tinh thần”. Kết hợp hai khái niệm về “trẻ em” và “lao động” ở trên, ta có thể hiểu:
lao động trẻ em là hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất hay tinh thần do những người dưới
16 tuổi thực hiện. Nhóm tuổi của lao động trẻ em theo khái niệm trên là để chỉ tất cả những
người dưới 16 tuổi.
Từ các quy định trên, trong Luật BVCSVGDTE thì “lao động trẻ em” được hiểu là những
xác định thời hạn từ một năm đến 3 năm).
Thứ hai, cần có sự điều chỉnh lại về cách quy định trong BLLĐ và Luật BVCSVGDTE đối
với nhóm người từ 15 tuổi đến dưới 16 tuổi, để đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống
pháp luật. Sự điều chỉnh này theo hướng: Tại khoản 7 Điều 7 của Luật BVCSVGDTE cần
sửa lại như sau: “Với trẻ em dưới 180 tháng tuổi: cấm lạm dụng sức lao động của các em,
cấm sử dụng các em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại,
làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động”.
Thứ ba, để có cách hiểu chính thức về thuật ngữ “lao động trẻ em” (như cách sử
dụng thuật ngữ này trong BLHS, Luật BVCSVGDTE, Công ước số 138 về Tuổi tối
thiểu được đi làm việc, Công ước số 182 về Cấm và hành động ngay lập tức để xoá
bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất…) thì nên đưa ra một cách xác định chính
thức về thuật ngữ này trong một văn bản quy phạm pháp luật. Cách xác định này có
thể như sau: “Lao động trẻ em là những em dưới 180 tháng tuổi tham gia lao động”.
(1) Trừ một số nghề được nhận người dưới 15 tuổi vào làm việc được quy định tại Thông tư số
21/1999/TT-BLĐTBXH quy định danh mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa
đủ 15 tuổi vào làm việc.
(2) Điều 119 BLLĐ hiện hành quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18
tuổi”.
ThS. Trần Thắng Lợi Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội