điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi - Pdf 32

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TỈNH
QUẢNG NGÃI
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
Quảng Ngãi là tỉnh ven biển, thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, bao
gồm 14 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thành phố, 6 huyện miền núi, 6 huyện đồng
bằng ven biển và 1 huyện đảo. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 5.152,67 km
2
, dân số trung
bình năm 2008 là 1.315 nghìn người, tương ứng chiếm 1,76% diện tích và 1,6% dân số
của cả nước. Theo quy hoạch đến năm 2025, Quảng Ngãi trở thành một tỉnh có công
nghiệp phát triển và dịch vụ phát triển khá, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP
chiếm trên 90%, đóng góp đáng kể vào phát triển công nghiệp của Vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung và toàn quốc, tỷ lệ đô thị hoá khoảng 30%, theo đó, Quảng Ngãi sẽ
được phát triển lên vị trí ngang tầm với các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung vào năm 2020.
Toàn bộ lãnh thổ phần đất liền của tỉnh Quảng Ngãi nằm trong tọa độ địa lý:
14
0
32’04” đến 15
0
25’00” vĩ độ Bắc; 108
0
14’25” đến 109
0
09’00” kinh độ Đông. Phía
Bắc giáp tỉnh Quảng Nam - vùng đất rộng với nhiều tiềm năng phát triển, có 2 di sản
văn hoá thế giới, có khu kinh tế mở Chu Lai. Phía Nam giáp tỉnh Bình Định - nơi có
khu kinh tế Nhơn Hội, đang có sự trỗi dậy mạnh mẽ trong thu hút đầu tư và phát triển
mạnh mẽ về kinh tế - xã hội. Phía Tây giáp với hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai nằm ở
phía Bắc Tây Nguyên, nơi có khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Đức Cơ. Phía Đông
của tỉnh giáp biển với đường bờ biển dài 130 km. Nếu tính từ Dung Quất thì khoảng

. Địa hình Quảng Ngãi
không khác mấy so với các tỉnh duyên hải miền Trung: độ cao thấp dần từ Tây sang
Đông và chia ra làm 4 vùng rõ rệt:
Địa hình đồi núi phân bố chủ yếu ở 6 huyện miền núi phía Tây Bắc và phía Tây.
Vùng rừng núi tiếp giáp phía Đông hệ Trường Sơn Nam chiếm 2/3 đất đai toàn tỉnh
bao gồm các huyện miền núi: Trà Bồng, Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ, Minh Long và một
số xã phía tây các huyện đồng bằng. Hầu hết các dãy núi chạy theo chiều Tây Bắc -
Đông Nam liên tiếp nhau tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô ra biển, ôm chặt lấy
vùng đồng bằng; nhiều đỉnh núi cao trên 1.000 m như Cà Đam (1.600 m), Đá vách
(1.500 m); U Bò (1.100m); Cao Muôn (1.085m)... càng xuôi về phía Đông các đỉnh
núi có độ cao thấp dần từ 400-600m đến 200-300m.. Đây là địa bàn cư trú của nhiều
đồng bào dân tộc ít người với nền kinh tế chậm phát triển.
Tiếp giáp với rừng núi là trung du, chiếm 0,3% diện tích toàn tỉnh (1.770 ha)
dạng gò đồi nhiều sỏi đá, đất bạc màu, feralit hoá thích hợp với trồng cây lương thực
và cây công nghiệp ngắn ngày.
Địa hình đồng bằng ven biển chiếm khoảng 24,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
gồm chủ yếu diện tích của thành phố Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư
Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ và huyện đảo Lý Sơn. Đồng bằng của tỉnh Quảng ngãi có
đặc điểm không liên tục mà bị phân cách bởi sông, đồi núi xen kẽ, vừa thể hiện tính
chất của đồng bằng phù sa và đồng bằng gò đồi. Trên khu vực địa hình này tập trung
đông dân cư (77,43% dân số của tỉnh), riêng 28 xã ven biển và 03 xã đảo chiếm
khoảng 25% dân số cả tỉnh. Đây cũng là nơi tập trung các khu kinh tế, khu công
nghiệp, khu du lịch quan trọng nhất của tỉnh.
Bờ biển của tỉnh dài khoảng 130km với các dạng địa hình đặc trưng là các cồn
cát, mũi đất, cửa sông, đầm nước mặn...tạo thành một dải hẹp chạy dọc ven biển với
chiều rộng trung bình khoảng 2-3km. Các cửa biển chủ yếu là Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy
(Cửa Lở, Cửa Đại), Mỹ Á và Sa Huỳnh. Hình thái đường bờ biển tạo ra các vũng vịnh
có giá trị cho phát triển cảng biển như Dung Quất, Sa Kỳ, Sa Huỳnh và có giá trị cho
phát triển du lịch như Mỹ Khê, Mỹ Á, Sa Huỳnh...
Sông Trà Bồng

suối lớn, nhỏ hợp nước với nhau chảy theo hướng Tây- Đông xuống Sơn Hà, gọi là
sông Rinh (Đắk Ring). Một nguồn nước rất quan trọng của sông Rinh là sông Tang.
Sông Tang bắt nguồn từ huyện Tây Trà, chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, hợp
nước với sông Rinh ở đoạn làng Lô, làng Mùng xã Sơn Bao phía Tây Bắc huyện Sơn
Hà. Trên sông Tang đang xây dựng một hồ chứa nước lớn là hồ Nước Trong.
Nguồn thứ ba bắt nguồn từ Tây Nam huyện Sơn Hà giáp với huyện Sơn Tây,
chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc, gọi là sông Xà Lò (Đắk Sêlô).
Ba sông chính từ các hướng khác nhau cùng hợp nước ở các xã Sơn Trung, Sơn
Hải, phía Đông Nam huyện lỵ Sơn Hà và đoạn sông này người ta thường gọi là sông
Hải Giá. Từ Hải Giá sông chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc đến Thạch Nham
(giáp với 03 huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa) thì thoát khỏi núi non, một đoạn nữa
đến thôn Hưng Nhượng xã Tịnh Đông về sau thì hướng chảy cơ bản là Tây- Đông, tuy
nhiên vẫn có nhiều đoạn sông quanh gấp khúc (do vậy được gọi là sông Trà Khúc). Ở
Thạch Nham đã xây dựng đập chắn ngang sông, để nước dâng lên, theo hai kênh
Chính Bắc- Chính Nam chảy tưới cho các đồng bằng Quảng Ngãi. Công trình đại thủy
nông Thạch Nham là một công trình thủy lợi kỳ vĩ. Xưa kia trên sông Trà Khúc từ
Đồng Nhơn (xã Tịnh Đông, huyện Sơn Tịnh) đến cuối nguồn đặt rất nhiều guồng xe
nước lớn để tưới cho đồng ruộng. Sông Trà Khúc ở các hợp lưu thượng nguồn sông
đào lòng nước dữ dội qua các thung lũng, đến hạ lưu nước vẫn chảy rất xiết cho đến
khi đổ nước ra cửa Đại Cổ Lũy. Sông Trà Khúc có độ dài khoảng 135km, trong đó có
khoảng 1/3 chiều dài sông chảy qua vùng núi và rừng rậm, có độ cao 200- 1.000m,
phần còn lại chảy qua vùng đồng bằng.
Bởi hợp lưu từ nhiều hướng khác nhau, nên sông có dạng hình cành cây, có 09
phụ lưu cấp I, 05 phụ lưu cấp II, 06 phụ lưu cấp III và 02 phụ lưu cấp IV.
Sông Trà Khúc có diện tích lưu vực khoảng 3.240 km
2
, bao gồm phần đất của
các huyện Sơn Hà, Tư Nghĩa, một phần huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn Tịnh, Trà Bồng
và Tây Trà, có một phần nguồn nhỏ thuộc địa phận tỉnh Kon Tum.


2
, bao gồm địa hạt các huyện Ba Tơ, Minh
Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành và một phần nhỏ diện tích của huyện Tư Nghĩa. Độ cao
trung bình lưu vực khoảng 170m, mật độ lưới sông 0,79 km/km
2
.
Thực vật che phủ bề mặt lưu vực vùng thượng lưu phần lớn là rừng già, bụi rậm,
vùng hạ lưu chủ yếu là vùng đất canh tác nông nghiệp.
Sông Trà Câu
Bắt nguồn từ vùng núi Ba Trang (huyện Ba Tơ), với độ cao 400m. Dòng sông
chính chủ yếu chảy theo hướng Tây- Đông, đoạn trên thường gọi là sông Vực Liêm. Ở
cuối nguồn, sông Trà Câu nhập lưu với sông Thoa tại Sa Bình, xã Phổ Minh, huyện
Đức Phổ, rồi đổ ra cửa Mỹ Á cách đó khoảng 2,5km.
Sông Trà Câu có diện tích lưu vực 442km
2
, chiều dài sông khoảng 32km; chiều
dài lưu vực 19km và chiều rộng bình quân lưu vực 14km. Đây là con sông nhỏ nhất
trong các sông kể trên, nước thường cạn kiệt về mùa khô.

4
Lưu vực sông Trà Câu bao gồm một phần phía Đông và phía Đông Nam huyện
Ba Tơ, các xã Phổ Phong, Phổ Thuận, Phổ Nhơn huyện Đức Phổ. Lớp phủ thực vật
chủ yếu là rừng thưa và đồi trọc.
Ngoài 4 con sông chính trên, Quảng Ngãi còn có các sông nhỏ như Trà Ích (Trà
bồng), sông Cái (Tư Nghĩa), sông Phước Giang (Nghĩa Hành), sông La Vân (Đức
Phổ),…
Sông ngòi Quảng Ngãi đều xuất phát từ Đông Trường Sơn và chảy ra biển Đông.
Dòng sông ngắn, độ dốc cao (từ 10,5
o
đến 33

muối. Vì thế, từ lâu nhân dân ở đây đã khai thác một phần diện tích của đầm để làm
muối.
Đầm An Khê thuộc địa phận xã Phổ Khánh (huyện Đức Phổ). Theo báo cáo khoa
học điều tra nhiễm mặn vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi, do đài Khí tượng Thủy văn
Trung Trung bộ thực hiện năm 1998 cho thấy vào mùa mưa nước trong đầm có độ
mặn không đáng kể, nhưng về mùa khô là một đầm nước lợ, độ mặn từ 0,3-10‰.
Đầm Lâm Bình thuộc địa phận xã Phổ Cường (huyện Đức Phổ), có độ mặn thấp,
thường dao động từ 0,2-0,3‰; về mùa khô, những tháng nắng hạn nhất đầm bị cạn
nước hoàn toàn.
Theo tài liệu quy hoạch tổng thể nuôi trồng thủy sản năm 2002, đầm An Khê và
đầm Lâm Bình có tổng diện tích 300ha, có thể sử dụng cho nuôi trồng thủy sản nước
ngọt, nước mặn và cải thiện môi trường trên địa bàn.
Hiện trên toàn tỉnh Quảng Ngãi có trên 500 công trình thủy lợi, thủy điện trong
đó có trên 100 hồ chứa nước, sau đây là một số công trình tiêu biểu của tỉnh.

5
Ở Quảng Ngãi hầu như không có hồ nước tự nhiên nào đáng kể, chỉ có những hồ
nước được đào đắp phục vụ cho thủy điện, thủy lợi như:
Hồ An Phong được xây dựng từ năm 1984 tại xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn năng
lực thiết kế tưới cho 320ha, năng lực tưới thực tế là 120ha.
Hồ Tôn Dung được xây dựng năm 1978 trên nhánh suối nhỏ thượng lưu sông
Liên, thuộc địa phận thị trấn Ba Tơ. Hồ có diện tích lưu vực 20km
2
với diện tích tưới
thiết kế là 150ha. Những năm trước, do kênh mương chưa hoàn chỉnh nên chỉ tưới
được khoảng 30ha; năm 2001- 2002, đã xây dựng hoàn chỉnh tuyến kênh, mương, đảm
bảo nước tưới đủ diện tích thiết kế.
Hồ Suối Chí được xây dựng trên suối Chí, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa
Hành vào năm 2002. Năng lực tưới theo thiết kế là 250ha.
Hồ chứa nước Sở Hầu xây dựng năm 1976 tại xã Phổ Nhơn, huyện Đức Phổ.

2
trên sông Trà Khúc. Công trình được đầu tư xây dựng bằng nguồn
vốn của Nhà nước và đóng góp của nhân dân trong tỉnh bằng ngày công nghĩa vụ công
ích. Năm 1992, công trình hoàn thành giai đoạn 1 và được đưa vào khai thác; đến năm
1997, công trình cơ bản hoàn thành. Hệ thống công trình gồm có: đập tràn đầu mối với
chiều dài 200m, hai cửa cống lớn lấy nước qua hai hệ thống kênh chính Bắc và Nam
có tổng chiều dài 87,6km; 566 tuyến kênh, gồm 28 tuyến kênh cấp I với tổng chiều dài
208,4km, 85 tuyến kênh cấp II và III (có Ft >150ha) với tổng chiều dài 208,8km và

6
453 tuyến kênh nội đồng (có Ft<150ha) với tổng chiều dài 453km. Ngoài ra, còn có 15
trạm bơm điện với tổng công suất từ 980-1.200m
3
/h/máy, lấy nước từ các tuyến kênh
cấp I, II để bơm tưới cho 4.500ha đất canh tác. Công trình thủy lợi Thạch Nham có
tổng năng lực tưới theo thiết kế là 50.000ha đất canh tác, trong đó tưới cho lúa là
31.000ha và cho cây trồng cạn 19.000ha. Công trình tưới cho các huyện Bình Sơn,
Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, thành phố Quảng Ngãi và một phần huyện
Đức Phổ. Đến cuối năm 2005, diện tích canh tác được tưới thực tế khoảng 32.500ha,
trong đó tưới cho lúa là 25.000ha và cây trồng cạn 7.500ha.
Từ khi có nguồn nước tưới từ công trình thủy lợi Thạch Nham, sản xuất nông
nghiệp ở khu vực đồng bằng Quảng Ngãi đã có sự thay đổi rõ rệt, cuộc sống của người
nông dân trở nên khá giả hơn rất nhiều. Có thể nói, công trình thủy lợi Thạch Nham đã
đem lại cuộc sống ấm no cho người dân của vùng đồng bằng Quảng Ngãi.
Tuy vậy, ở một số vùng do địa hình cao, phức tạp, kênh bị bồi lấp nên nguồn
nước Thạch Nham vẫn không tới được. Điển hình như các xã phía Đông của huyện
Bình Sơn (gồm các xã Bình Đông, Bình Thạnh, Bình Thuận, Bình Hoà, Bình Hải), gặp
những năm nắng hạn, đồng ruộng phải bỏ hoang vì thiếu nước. Mặt khác, do nguồn
vốn đầu tư xây dựng các tuyến kênh nội đồng bị hạn hẹp, chủ yếu được làm bằng đất
nên thường bị sạt, lở khi có lũ, lụt lớn.

7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status