SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................ 3
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU
ĐỒ GỖ VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ .................................. 4
1.1. Tầm quan trọng xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam ................................... 4
1.1.1 Khái niệm và các hình thức xuất khẩu hàng hóa ............................. 4
1.1.1.1 Khái niệm .......................................................................................... 4
1.1.1.2 Các hình thức xuất khẩu hàng hóa. ................................................... 4
1.1.2 Sự cần thiết xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam ............................................. 6
1.1.3. Vai trò của xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam .......................................... 7
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đễn xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam ............... 8
1.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường trong nước ......................................... 8
1.2.1.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào phụ thuộc vào nhập khẩu ...................... 8
1.2.1.2 Vấn đề tài chính ............................................................................... 10
1.2.1.3 Lực lượng lao động của ngành công nghiệp đồ gỗ ........................ 11
1.2.1.4 Công nghệ chế biến gỗ còn lạc hậu ................................................. 12
1.2.2. Các nhân tố ngoài nước ................................................................... 13
1.3. Thị trường đồ gỗ Mỹ .......................................................................... 15
1.3.1 Tổng quan về thị trường Mỹ ............................................................ 15
1.3.1.1 Mỹ là thị trường lớn nhất toàn cầu. ................................................. 15
1.3.1.2 Tiêu chuẩn đối với hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ ............................. 17
1.3.2. Thị trường đồ gỗ Mỹ ....................................................................... 18
1.3.2.1 Đặc điểm thị trường đồ gỗ Mỹ ....................................................... 18
1.3.2.2 Nhu cầu và thị hiếu sản phẩm đồ gỗ Mỹ ......................................... 19
1.3.2.3. Những nhà cung cấp của thị trường đồ gỗ Mỹ. .............................. 20
1.3.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam
vào thị trường Mỹ. ....................................................................................... 20
1.4. Kinh nghiệm thúc đẩy xuất khẩu đồ gỗ của một số nước vào thị
trường Mỹ .................................................................................................. 23
1.4.1 Trung quốc ........................................................................................ 23
3.3. Biện pháp thức đẩy xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang thị trường Mỹ
..................................................................................................................... 48
3.3.1. Từ phía nhà nước ............................................................................. 48
3.3.2. Từ phía doanh nghiệp ...................................................................... 51
KẾT LUẬN ........................................................................................... 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO: ................................................................... 58
Đề án môn Kinh tế thương mại 2
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
LỜI NÓI ĐẦU
Sản phẩm đồ gỗ là mặt hàng xuất khẩu phát triển tương đối mạnh trong
khoảng 10 năm trở lại đây.Tuy mới phát triển xong đồ gỗ Việt Nam đã thể hiện
là mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn và đóng góp góp quan trọng vào sự
tăng trưởng xuất khẩu của cả nước.Liên tục trong các năm từ 2000 đến nay,kim
ngạch xuất khẩu đồ gỗ đã chiếm vị trí trong top 5 các mặt hàng xuất khẩu lớn
nhất của Việt Nam,trong đó thị trường chủ lực của mặt hàng này hiện nay là
Hoa Kỳ.Tuy nhiên sự tăng trưởng này chưa phải là bền vững,giá trị gia tăng
của mặt hàng này còn thấp.Thị trường đồ gỗ Việt Nam ở Hoa Kỳ còn được coi
là rất trẻ, và xuất khẩu có xu hướng chậm lại do tác động của cuộc khủng
hoảng kinh tế khiến các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này trong nước gặp
nhiều khó khăn.Trước những phân tích như trên em thấy cần thiết lựa chọn đề
tài “Thúc đẩy xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang thị trường Mỹ” để nghiên cứu.
ài viết gồm có ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu đồ gỗ sang
thị trường Mỹ
Chương II: Thực trạng xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam sang thị trường Mỹ
Chương III: Phương hướng và biện pháp thúc đẩy đồ gỗ Việt Nam
sang thị trường Mỹ.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của GS.TS Hoàng Đức Thân đã
hướng dẫn tận tình giúp em hoàn thành đề án này.
Đề án môn Kinh tế thương mại 3
Đại lý phân phối: Là người mua hàng hóa của Công ty để bán theo kênh
tIêu thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống chế phạm vi phân
phối, kênh phân phối ở thị trường nước ngoài. Đại lý phân phối chấp nhận
toàn bộ rủi ro liên quan đến việc bán hàng hóa ở thị trường nước đã phân định
và thu lợi nhuận thông qua chênh lệch giữa giá mua và giá bán.
Xuất khẩu gián tiếp: Là hình thức bán hàng hóa, dịch vụ của Công ty ra
nước ngoài thông qua trung gian ( thông qua người thứ ba ).Các trung gian
mua bán hàng hóa này không chiếm hữu hàng hóa của công ty nhưng trợ giúp
Công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước ngoài.
Đại lí ( Agent ): Là các cá nhân hay tổ chức đại diện cho nhà xuất khẩu
thực hiện một hay một số hoạt động nào đó ở thị trường nước ngoài.
Đại lí chỉ thực hiện một công việc nào đó để nhận thù lao. Đại lí không
chiếm hữu và sở hữu hàng hóa. Đại lí là người thiết lập quan hệ hợp đồng
giữa công ty và khách hàng ở thị trường nước ngoài.
Công ty quản lý xuất khẩu ( Export Management Company ): Là các công
ty nhận ủy thác và quản lí công tác xuất khẩu hàng hóa.
Công ty quản lí xuất nhập khẩu hàng hóa là họat động trên danh nghĩa
của công ty xuất khẩu nên là nhà xuất khẩu gián tiếp. Công ty quản lí xuất
khẩu đơn thuần làm các thủ tục xuất khẩu và thu phí xuất khẩu. Bản chất của
công ty xuất khẩu là làm các dịch vụ quản lí và thu được một khoản thù lao
nhất định từ các họat động đó.
Công ty kinh doanh xuất khẩu ( Export Tranding Company ): Là Công ty
hoạt động như nhà phân phối độc lập có chức năng kết nối các khách hàng
ngoài nước với các công ty trong nước để đưa hàng hóa ra nước ngoài tIêu
thụ.
Ngoài việc thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến xuất khẩu.
Các công ty này còn cung ứng các dịch vụ xuất nhập khẩu và thương mại đối
Đề án môn Kinh tế thương mại 5
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
lưu. Thiết lập và mở rộng các kênh phân phối, tài trợ cho các dự án thương
1.1.3. Vai trò của xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Từ năm 2002-2007, sản phẩm gỗ Việt
Nam đã có mặt tại 120 quốc gia vùng lãnh thổ. Đây là mặt hàng xuất khẩu
chủ lưc lớn thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giầy dép, và thủy
sản.Kim ngạch xuất khẩu của nó đã tăng lên con số 2,8 tỷ USD trong năm
2008,đóng góp không nhỏ vào thu nhập quốc dân.
d
ầ
u thô d
ệ
t may th
ủ
y s
ả
n giày dép s
ả
n ph
ẩ
m g
ỗ
8,4 t
ỷ
USD 7,7 t
ỷ
USD 3,75 t
ỷ
USD 3,9 t
ỷ
USD 2,34 t
tổng số lao động trong ngành chế biến gỗ hiện nay lên đến 90.000, bình quân
hàng năm lượng lao động cần cho ngành chế biến gỗ lên đến 10.000 - 12.000
lao động.
Bình Định là cũng một trong 4 tỉnh, thành có hoạt động chế biến gỗ
mạnh nhất nước .các cơ sở chế biến gỗ xuất khẩu đã thu hút khoảng 18.000
lao động ở các địa phương với mức thu nhập bình quân 1,6 triệu
đồng/người/tháng.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đễn xuất khẩu đồ gỗ ở Việt Nam
Xuất khẩu đồ gỗ có tốc độ tăng trưởng cao nhưng bị đánh giá là thiếu
bền vững,kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng giá trị gia tăng trong xuất khẩu sản
phẩm đồ gỗ chưa cao do nhiều yếu tố tác động.
1.2.1 Các nhân tố thuộc môi trường trong nước
Đồ gỗ là mặt hành xuất khẩu còn mới do đó năng lực cung ứng sản phẩm
gỗ cho xuất khẩu còn hạn chế phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp,trình
độ công nghệ sản xuất chế biến, trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh và tay
nghề của đội ngũ lao động đặc biệt phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu gỗ nhập
khẩu.
1.2.1.1 Nguồn nguyên liệu đầu vào phụ thuộc vào nhập khẩu
Thực tế nguyên liệu gỗ ở Việt Nam không đủ đáp ứng cho nhu cầu chế
biến gỗ xuất khẩu. Từ sau 2001 với mục đích bảo vệ nguồn rừng tự nhiên của
quốc gia, Chính phủ đã khống chế sản lượng gỗ khai thác và không thay đổi
Đề án môn Kinh tế thương mại 8
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
qua các năm là 300.000m3/năm.Bởi vậy, nguồn chính cung cấp gỗ nguyên
liệu cho các nhà máy chế biến gỗ ở Việt Nam là 80% nhập khẩu từ nước
ngoài.
Theo tính toán của bộ công thương,hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu
khoảng 250.000 đến 300.000 m3 gỗ từ các nước lân cận,trong 3 năm trở lại
đây(2005-2007) thì cứ xuất khẩu được 2USD đồ gỗ thì doanh nghiệp phải bỏ
ra 1USD để nhập khẩu gỗ nguyên liệu.Mặc dù trong năm 2008, kim ngạch
500
1000
1500
2000
2500
3000
Triệu USD
2006 2007 Tháng 10/2008 Dự kiến năm
2008
Năm
BIỂU ĐỒ XUẤT NHẬP KHẨU TỪ 2006 -
T10/2008
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Biểu đồ kim ngạch xuất sản phẩm gỗ và nhập khẩu gỗ nguyên liệu
từ năm 2006 - tháng 10/2008
1.2.1.2 Vấn đề tài chính
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới từ đầu năm 2008 với
nhiều biến động khó khăn phức tạp, nền kinh tế Mỹ vẫn suy yếu do những tác
động tiêu cực của khủng hoảng tín dụng, bất động sản, đồng đô la Mỹ mất
giá; tỷ lệ lạm phát tăng cao tại hầu hết các khu vực trên thế giới; giá nhiên
liệu liên tục thay đổi. Những khó khăn chung của kinh tế thế giới tác động
tiêu cực đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước nói chung,
các doanh nghiệp chế biến gỗ nói riêng. Năm 2008 nhiều hoạt động sản xuất
kinh doanh bị hạn chế do Chính phủ thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát
và do sự thay đổi bất thường của thị trường thế giới.
Những tháng đầu năm 2008, các doanh nghiệp chế biến gỗ gặp trở ngại
rất lớn trong việc tiếp cận vốn vay từ ngân hàng, đặc biệt là ngoại tệ, trong khi
Đề án môn Kinh tế thương mại 10
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
Ngành gỗ Việt Nam sẽ gặp khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị phần gỗ trên
thế giới. Cụ thể, trong ngành chế biến gỗ, bình quân một người làm ra chưa
được số sản lượng tương đương 10.000 USD/năm, trong khi ở Trung Quốc
con số này đã là 15.000 USD/năm.
Số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân chế biến gỗ Việt Nam chưa
đáp ứng yêu cầu của ngành, còn thiếu nhiều kỹ năng, trong đó chưa biết hoặc
chưa được đào tạo về khả năng tận dụng thời gian thao tác, đứng máy, chưa
có ý thức tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu gỗ...Chính điều này khiến
doanh nghiệp khó trả lương cao cho nhân viên để giữ chân họ.Do chưa có một
trường đào tạo chuyên cho ngành gỗ nên số lượng công nhân có tay nghề rất
hiếm, vì vậy đã xảy ra tình trạng nhiều doanh nghiệp trễ hẹn giao hàng.
Nguyên nhân cũng là do Việt Nam chưa có đủ các trường đào tạo dạy nghề,
kế đến là sự phát triển của ngành khá nhanh trong 5-6 năm gần đây kéo theo
nhiều nhà máy chế biến gỗ ra đời khiến cho Cung nhân sự không theo kịp
Cầu. Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp trong ngành không có khả năng tự
huấn luyện lao động mà tập trung vào việc thu hút lao động lành nghề từ các
doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, việc ra đời nhiều máy móc chế biến gỗ hiện
đại đòi hỏi người sử dụng phải biết nhiều hơn về cơ giới, máy tính, kỹ thuật
số...nên đòi hỏi người lao động phải được đào tạo liên tục, song việc này cũng
không dễ cho các doanh nghiệp thực hiện. chính vì vậy nhân lực cho ngành
chế biến gỗ xuất khẩu đang trở thành nỗi bức xúc của nhiều doanh nghiệp.
1.2.1.4 Công nghệ chế biến gỗ còn lạc hậu
Nhìn chung, có thể thấy rằng tình trạng máy móc thiết bị chế biến gỗ
chưa được đầu tư đổi mới nhiều, còn lạc hậu,hiệu quả chưa cao,cụ thể công
suất chế biến theo các loại thiết bị như sau:
Thiết bị cưa xẻ gỗ và đồ gỗ sơ chế chiếm 30% tổng công suất chế biến,
trong đó chủ yếu là máy cưa vòng, cưa đĩa, máy bào một mặt, máy xoi, khoan
nằm... được chế tạo trong nước, chỉ có một số ít là của Pháp, Trung Quốc,
Nhật, Đài Loan, Nga, Tiệp...
nước, kim ngạch xuất khẩu đạt 2,34 tỉ USD tăng hơn 30% so với năm 2006,
Đề án môn Kinh tế thương mại 13
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
các thị trường trọng điểm là Mỹ đạt kim ngạch 900 triệu USD, EU trên 600
triệu USD, Nhật Bản cũng đạt trên 300 triệu USD và kim ngạch xuất khẩu
vào thị trường Trung Quốc cũng đang tăng lên mạnh mẽ, ngoài ra còn các thị
trường xuất khẩu tiềm năng khác như Hàn Quốc, Canada cũng phát triển
mạnh.Việt Nam gia nhập WTO hứa hẹn tăng trưởng mạnh hơn về nguồn vốn
đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa vào thị trường quốc tế
cũng như được hưởng những điều kiện đối xử tối huệ quốc của tất cả các
thành viên WTO, cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại, hàng rào
thuế quan được cắt giảm, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị
trường quốc tế. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp ngành
chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất định
như mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt với không ít đối thủ từ các nước
thành viên có nền kinh tế phát triển, với trình độ kỹ thuật cao hơn, đã và đang
đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ tại Việt nam với qui mô lớn. Tính đến
nay, đã có hơn 400 doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư vào ngành công
nghiệp Gỗ Việt Nam, chủ yếu là từ Đài Loan, Singapore, Malaysia, Trung
Quốc, Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch… Châu Á chiếm 50% trong tổng số
15,6 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu đồ gỗ nội thất của Mỹ, 50% của con số 13
tỷ USD kim ngạch nhập khẩu đồ gỗ gia dụng của Anh và 90% kim ngạch
nhập khẩu đồ gỗ của Nhật (tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng 7 tỷ USD).
Gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ đã có những tác
động đáng kể,khiến cho ngành công nghệp đồ gỗ cũng lao đao.Kinh tế khó
khăn, thay vì sử dụng các mặt hàng cao cấp, người dân bắt đầu có xu hướng
chuyển sang các sản phẩm phổ thông hơn.Hiện thị trường chính nhập khẩu
các sản phẩm gỗ của Việt Nam vẫn là Mỹ, Nhật Bản và EU. Riêng thị trường
Mỹ kim ngạch giảm khoảng 35%.
Thứ hai là các nhân tố luật pháp,các điều kiện quy định đối với sản phẩm
Hoa Kỳ chiếm từ 20 đến 30% GDP thế giới.Trong giai đoạn từ 1983 đến
Đề án môn Kinh tế thương mại 15
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
2004, nhập khẩu của Mỹ tăng chóng mặt và chiếm gần 20% trong mức tăng
xuất khẩu của toàn thế giới.
Quốc gia
2007 2008
Đến tháng 1-
2008
Đến tháng 1-
2009
% tăng hay
giảm 2009
so với 2008
đơn vị 1.000 Dollars
China 323.085.455 337.504.220 26.098.732 24.771.652 -5,1%
Canada 312.504.524 334.839.564 26.383.659 17.290.425 -34,5%
Mexico 210.158.774 216.328.394 17.061.847 12.364.585 -27,5%
Japan 144.927.923 139.112.312 11.697.354 8.108.076 -30,7%
Germany 94.416.170 95.827.932 6.932.057 5.095.385 -26,5%
United Kingdom 56.872.782 58.418.616 4.379.184 3.132.344 -28,5%
Saudi Arabia 35.284.462 54.282.804 3.254.241 2.069.126 -36,4%
Venezuela 37.582.264 50.281.189 3.758.318 2.110.497 -43,8%
Korea 45.368.319 46.687.424 3.733.896 3.618.706 -3,1%
France 41.236.567 43.371.807 3.326.700 2.689.641 -19,1%
Nigeria 32.525.048 38.236.166 3.076.587 778.594 -74,7%
Taiwan 38.052.373 36.203.596 3.175.033 2.435.034 -23,3%
Italy 35.020.484 36.015.168 2.929.716 2.182.326 -25,5%
Ireland 30.292.123 31.298.138 2.133.209 2.244.411 5,2%
Malaysia 32.754.722 30.633.426 2.761.276 1.811.800 -34,4%
tổng hợp về buôn bán cạnh tranh năm 1988.
Quy định đối với xuất xứ hàng nhập khẩu đưa vào Mỹ. Khi xuất khẩu
sang Mỹ, muốn được hưởng thuế suất ưu đãi theo nước xuất xứ,luật Mỹ quy
định trên sản phẩm phải ghi nhãn của nước xuất xứ. Ngoài ra,nhãn hiệu hàng
hóa phải được đăng kí tại cục hải quan Mỹ. Mỹ cũng có những quy định đối
với từng mặt hàng cụ thể.Đối với sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu vào Mỹ phải đáp
ững những điều kiện sau đây.
Việc nhập khẩu hàng gỗ và gỗ nội thất phụ thuộc phạm vi điều chỉnh của
các quy định chung như được xác định trong các bộ luật của các quy định liên
bang (các văn bản nhập khẩu – 19 CRF 141; điều tra Hải quan – 19 CFR 151
và thuế Hải quan 19 CFR – 159).
Đề án môn Kinh tế thương mại 17
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
Mức thuế ở Mỹ nói chung là thấp. Đối với đồ gỗ thuộc mã HS 44, thuế
quan thay đổi từ 0 đến 10,7%. Trên thực tế, thuế đánh vào gỗ dán cao nhất (8
và 10,7%). Thuế suất được áp dụng cho hàng gỗ nội thất (mã HS94) đa số là
0% và có một số mặt hàng đệm giường bằng lông vịt có mức thuế 9 và 13%.
Cần có giấy chứng nhận xác nhận rằng các sản phẩm không bị nhiễm
bệnh hay dịch của gỗ. Quy định này do Văn phòng điều tra sức khỏe động
thực vật ban hành tại các điều khoản của 7 CFR 300 và 7 CFR 319. Hàng gỗ
nội thất cần được dán nhãn theo đúng Luật dán nhãn và đóng gói hợp lý -15
CFR, mục 500-503 và những điều phù hợp sau đây
Phù hợp với quy định của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) về giám định tại
cảng đến.Phù hợp với Luật liên bang về sâu bệnh ở cây. Phù hợp với quy định
của Hội đồng thương mại Liên bang (FTC) và Hội đồng an toàn tiêu dùng
(nếu là hàng tiêu dùng.Phù hợp với các quy định về lập hóa đơn (đối với một
số hàng gỗ). Phù hợp với các quy định của FWS về giấy phếp nhập khẩu, giấy
phép xuất khẩu của nước xuất xứ, các quy định về tài liệu giao hàng và hồ sơ
theo dõi (nếu là gỗ quý hiếm).Nhập vào cửa khẩu/cảng theo chỉ định của
FWS và phù hợp với các quy định của FWS và Hải quan về việc thông báo
bả lề và các phụ kiện chắc chắn, độ khít sản phẩm, đóng mở tiện lợi dễ dàng.
Phong cách trang trí đong một vai trò hết sức quan trọng để họ quyết
định có nên mua hay không. Hầu hết thiết kế nhà của người Mỹ đều mang
phong cách hiện đại nên đồ trang trí nội thất cũng phải phù hợp với phong
cách đó. Hàng đồ gỗ chạm khảm hoa lá hiếm khi thấy xuất hiện trên thị
trường Mỹ, thậm chí những đường cong, đường uốn cũng phải được giảm
thêỉu một cách tối đa. Trang trí chủ yếu là các đường thẳng chìm hoặc nổi và
các nắm tay câm to hình tròn bằng gỗ hoặc bằng đồng. Tất cả đều đi thành bộ
với nhau như giường, bàn ghế, tủ áo quần, tủ đựng thuốc, tủ đựng đồ tắm, tủ
đựng chăn, tủ trang điểm, khung gương… Một số sản phẩm rất được ưa
chuộng gần đây là các loại tủ nhiều ngăn (4-6 ngăn) có tay cầm hình tròn,
khung ảnh và khung gương to bản…
Đề án môn Kinh tế thương mại 19
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
Phân tích nhập khẩu của Mỹ cho thấy những mặt hàng nhập khẩu lớn
nhất là: bàn ghế bằng gỗ (chiếm 15% nhập khẩu của nhóm HTS94), phụ tùng
ghế dùng cho xe cộ bằng kim loại (13%), đồ gỗ nhà bếp (8%), bàn nghế văn
phòng (7%), gỗ tùng bách (39% nhập khẩu của nhóm HTS44). Theo ông Jeff
Dilley, người biết rất rành về đồ gỗ Việt Nam, cũng là đại diện cho 4-5 tập
đoàn lớn thu mua đồ gỗ nội thất khác ở Mỹ cho biết, người Mỹ xem đồ gỗ nội
thất có mối quan hệ mật thiết với thời trang, vì thế khi có ý định mua họ
thường chấm ngay sản phẩm nào tạo ra được ngẫu hứng bất chợt đối với họ.
Đa phần người Mỹ thích kiểu dáng chuyển tiếp từ cổ điển sang hiện đại
nhưng tiện dụng. Đồ gỗ trong nhà của người Mỹ không quá phô trương, cần
hài hòa với vật dụng khác trong phòng, màu sắc không lòe loẹt, chói rực.Đặc
biệt những sản phẩm có thể tháo ráp và thay đổi công dụng được ưa chuộng.
Người giàu ở Mỹ thích sản phẩm gỗ kiểu cổ điển, thanh thoát, hoa văn hơi
phức tạp, kiểu thế kỷ 18 hoặc mang vóc dáng châu Âu.
1.3.2.3. Những nhà cung cấp của thị trường đồ gỗ Mỹ.
Thị trường Mỹ cũng là thị trường mở nên có sự cạnh tranh rất ác liệt.
thủ công mỹ nghệ, cà phê, hạt tiêu...
Hoa Kỳ đã trở thành bạn hàng xuất khẩu số một của Việt Nam và cũng
là thị trường Việt Nam xuất siêu lớn nhất. Năm 2007, Việt Nam xuất siêu vào
Hoa Kỳ 8 tỷ USD, trong khi cả nước nhập siêu 12,4 tỷ USD.
Các nhân tố khác
Dự luật nông nghiệp Farm Bill được quốc hội Hoa Kỳ thông qua áp
dụng sẽ có khả năng ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ năm 2009 trong hoạt động xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ khi
thắt chặt hơn việc quản lý nguồn gốc của sản phẩm. Ngoài ra Hoa Kỳ cũng
đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải có chứng nhận FSC, một tiêu chuẩn khắt khe
và không dễ áp dụng đối với thực trạng trồng rừng tại Việt Nam. Trong năm
2009, việc đáp ứng tất cả các yêu cầu và tiêu chuẩn mới do Hoa Kỳ đưa ra đối
với gỗ và sản phẩm sẽ gây cản trở lớn cho hoạt động xuất khẩu.
Đề án môn Kinh tế thương mại 21
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
Sự chênh lệch về cung và cầu ngoại tệ sẽ trong nước sẽ gây áp lực làm
tăng giá đồng USD khoảng 3-6% so với VND. Đây sẽ là yếu tố chính trong số
ít những yếu tố có tác động tích cực, là động lực khuyến khích tăng xuất khẩu
nông lâm thủy sản nói chung và ngành hàng gỗ nói riêng của Việt Nam sang
Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tác động này không đủ lớn để làm tăng xuất khẩu gỗ lên
do có nhiều yếu tố khác tác động mạnh hơn theo chiều hướng tiêu cực. Nhìn
chung năm 2009, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ sẽ giảm mạnh và
chỉ có thể phục hồi khi nền kinh tế Hoa Kỳ đã có dấu hiệu vượt qua cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ.
Tại Hoa Kỳ,đạo luật Lacey vừa được ban hành,bát đầu có hiệu lực vào
cuối năm nay,căn cứ theo đó,hành động lấy gỗ,khai thác sở hữu,vận chuyển
hoặc xuất khẩu vi phạm quy định của bất kỳ quốc gia nào cũng được xem là
vi phạm ở Hoa Kỳ.Nguyên liệu gỗ Việt Nam chủ yếu nhập từ Thái
Lan,Myanmar…thường không rõ ràng về nguồn cung cấp,nhiều khả năng có
thể bị chính phủ nước này tịch thu hàng,phạt tiền hay thậm chí bỏ tù theo luật
dạng hơn các chủng loại,quy cách sản phẩm.Ngoài ra các doanh nghiệp Việt
Nam phải nắm thật kỹ những yêu cầu và quy định về xuất khẩu vào Mỹ để
tránh bị kiện hay bị phạt.
1.4.2. Malaysia
Malaysia hiện là nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất châu Á với tổng kim
ngạch từ đầu năm đến nay khoảng 2 tỉ USD. Tuy nhiên, sản phẩm gỗ của
Malaysia chủ yếu làm từ gỗ cao su, trong khi theo tham tán thương mại Mỹ
tại Kuala Lumpur, thị trường Mỹ và châu Âu cần những sản phẩm chất lượng
cao hơn và làm từ gỗ cứng. Năm 2006, Malaysia chiếm 11% tỷ trọng gỗ nhập
khẩu của Mỹ. John Chan, giám đốc phụ trách khu vực Đông Nam Á và Trung
Đề án môn Kinh tế thương mại 23
SV: Khương Thị Thuỳ Dương Khoa Thương mại
Quốc của AHEC cho rằng, do Việt Nam đang nhanh chóng trở thành đối thủ
cạnh tranh lớn nhất của Malaysia tại khu vực ASEAN (Hiệp hội Các nước
Đông Nam Á), Malaysia cần phải cải thiện chất lượng các sản phẩm đồ gỗ
xuất khẩu.
Theo ông John Chan, Việt Nam đã vượt qua Malaysia trở thành nước
nhập khẩu gỗ cứng hàng đầu của Mỹ tại ASEAN với kim ngạch ước đạt 50
triệu USD năm 2006, cao hơn so với mức bình quân 32 triệu USD/năm trong
3 năm qua của Malaysia. Mặc dù đồ gỗ Malaysia đứng đầu khu vực với kim
ngạch xuất khẩu đạt khoảng 7 tỷ Ringgit (1,97 tỷ USD) năm 2006, đồ gỗ Việt
Nam cũng đang nhanh chóng tiến gần tới mức này.
Theo Jonathan Gressel, Đại sứ Mỹ tại Kuala Lumpur, Malaysia cần phải
tìm được chỗ đứng thích hợp tại thị trường Mỹ và Liên minh châu Âu (EU)
qua việc cải thiện chất lượng sản phẩm, có định hướng rõ ràng về nguồn cung
gỗ cứng từ nước ngoài và ngành đồ gỗ không nên chỉ dựa vào nguồn nguyên
liệu gỗ cao su.
Ông Chan cũng cho rằng, giá trị các sản phẩm đồ gỗ của Malaysia sẽ
tăng lên nếu Malaysia biết kết hợp nguồn nguyên liệu gỗ cao su với nhiều
chủng loại gỗ cứng khá