Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN để phát triển thị trường công nghệ - Pdf 32

Chuyên đề: Đánh giá vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về
KHCN để phát triển thị trường công nghệ
Mục lục:
1 Vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong công tác tư vấn, môi giới dịch vụ khoa
học công nghệ........................................................................................................................................1
1.1 Hỗ trợ tìm kiếm thông tin công nghệ và kết nối cung cầu công nghệ...........................................1
1.2 Hỗ trợ đánh giá, định giá, giám định công nghệ.........................................................................10
1.3 Xúc tiến chuyển giao công nghệ và hỗ trợ thương mại hóa công nghệ.......................................21
2 Vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong các dịch vụ hậu mãi sau chuyển giao.
34
2.1 Phân tích, đánh giá về hình thức tiếp cận và sở hữu nguồn cung cấp các công nghệ trong và
ngoài nước (các viện nghiên cứu, trường ĐH và nguồn công nghệ nhập khẩu) cho các tổ chức môi
giới CGCN về KHCN).....................................................................................................................34
2.1.1 Thực trạng phát triển các nguồn công nghệ nghệ tại Việt Nam...........................................34
2.1.2 Giải pháp phát triển nguồn công nghệ từ Khối Viện, Trường:.............................................37
2.2 Tổ chức cách thức tiếp cận thị trường và khả năng làm marketing của các tổ chức môi giới
CGCN về KHCN trong việc tìm kiếm thị trường chuyển giao CN trong các lĩnh vực ....................44
2.2.1 Cách thức tìm kiếm thông tin các doanh nghiệp có nhu cầu mua công nghệ mới...............44
2.2.2 Hình thức quảng bá và làm marketing thị trường và các dịch vụ hậu mãi...........................52
3 Kết luận:...........................................................................................................................................59
Tài liệu tham khảo:...........................................................................................................................61

1

Vai trò của các tổ chức môi giới CGCN về KHCN trong công tác tư vấn,
môi giới dịch vụ khoa học công nghệ.

1.1 Hỗ trợ tìm kiếm thông tin công nghệ và kết nối cung cầu công nghệ
Một trong các khâu đóng vai trò tiên phong trong hoạt đông chuyên giao
công nghệ cũng như ứng dụng các thành tự khoa học công nghệ mới vào trong
sản xuất là việc quản lý thông tin công nghệ, thông tin nguồn công nghệ. Trên

thấy thấm thía hơn lời tiên tri của N. Winear - cha đẻ của ngành Cybernetics
cách đây hơn nửa thế kỷ, “Cuộc sống có chất lượng là cuộc sống với thông tin”.
2


Trong thời đại thông tin, lợi thế so sánh sẽ thuộc về quốc gia nào có năng lực tổ
chức khai thác với hiệu quả cao nhất các nguồn thông tin và tri thức hiện có của
nhân loại. Ở Nhật Bản, nhiều doanh nghiệp đều thấm thía phương châm “Doanh
nghiệp là con người và chiến lược của doanh nghiệp là chính sách thông tin”.
Tại Hoa Kỳ, 70% lao động xã hội đang làm việc trong khu vực thông tin,
và chính khu vực thông tin đã tạo ra 74% giá trị GDP tại nước này. Nguyên Thủ
tướng đảo quốc Singapore, ngài Goh Chok Tong, trong bức thông điệp gửi tới
toàn dân nhân ngày Quốc khánh năm 1993 đã khẳng định: “Tương lai sẽ thuộc
về các quốc gia mà ở đó người dân biết sử dụng có hiệu quả thông tin, tri thức
và công nghệ. Để phát triển kinh tế thắng lợi, đây chính là các nhân tố chủ yếu,
chứ không phải là tài nguyên thiên nhiên”. Mùa hè năm 2007, tại các diễn đàn
với doanh nghiệp trong thời hội nhập, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã
khẳng định, thông tin là yếu tố đầu tiên trong chùm 5 yếu tố có chữ T đảm bảo
cho doanh nghiệp thành công trong hội nhập. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện
Nhân, mới đây trong đối thoại với Đoàn thanh niên cũng đã khẳng định, trong
quá trình phát triển nước ta đứng trước 3 cơ hội: toàn cầu hoá, kinh tế tri thức và
xã hội thông tin. Trong thời đại thông tin, nguồn tài nguyên quý giá và trọng tâm
cạnh tranh để giành ưu thế trên thế giới của một quốc gia đã được chuyển từ các
nhân tố hữu hình có tính vật chất sang phương thức kiểm soát, thu thập, xử lý và
khai thác các nguồn thông tin quốc gia và quốc tế. Để có sức cạnh tranh trong
môi trường của nền kinh tế tri thức, điều cốt yếu cho mỗi quốc gia là phải có
năng lực tiếp thu thông tin, dựa trên thông tin tạo ra nhiều tri thức và tích cực
đổi mới.
Hiện trạng hệ thông thông tin khoa học quốc gia tại Việt Nam
Trên thế giới, hệ thống thông tin KH&CN đã được hình thành từ giữa thế

được đối xử như là một loại nguồn lực của sự phát triển, đại bộ phận người dùng
tin xã hội ý thức được tầm quan trọng của thông tin, có cơ hội thuận lợi, có thói
4


quen và biết sử dụng thông tin có hiêụ quả vào trong mọi hoạt động nghề nghiệp
của mình: từ quản lý, điều hành, nghiên cứu, giảng dạy tới sản xuất kinh doanh.
Nói như thuật ngữ của nhà khoa học quản lý, mức trang bị về thông tin trong xã
hội phải được coi là một tham số của trình độ phát triển. Đối chiếu với tình hình
nước ta, hiện nay rất nhiều người dùng tin, trong đó có cả nhà quản lý, nhà khoa
học, nhà giáo, nhà doanh nghiệp, vẫn thường xuyên không có được các thông tin
cần thiết cho công việc. Thậm chí, nhiều thông tin được sản sinh trong nước
(thông tin nội sinh), thông tin hiện có ở nước ta vẫn không được kiểm soát
và/hoặc không thể truy cập được. Lấy ví dụ trong lĩnh vực khoa học và đào tạo,
chúng ta không dễ biết được năng lực của các cơ sở khoa học và đào tạo thế
nào? Có những đề tài/dự án khoa học gì đang được triển khai và kết thúc ra sao?
Có những hội thảo khoa học nào đã được tổ chức và ở đâu các kỷ yếu được lưu
giữ? Hàng năm có bao nhiêu đoàn đi tham quan, thực tập, khảo sát ở nước ngoài
(đoàn ra) và có những đoàn nào vào ta (đoàn vào), thông tin về nội dung hoạt
động của các đoàn công tác này có thể truy cập ở đâu? Có tổ chức thông tin nào
giúp cho việc hỗ trợ và giám sát để hạn chế tình trạng đạo văn trong các luận
văn và luận án khoa học? Những vấn đề trên và tương tự nhiều vấn đề thông tin
khác đã được cảnh báo ngay tại Hội nghị thông tin KH&KT toàn quốc lần thứ
nhất từ năm 1971 khi mà ngành thông tin KH&CN còn trong “trứng nước”, thì
đến nay vẫn còn là thời sự, cho dù “cơ thể” của ngành đã trưởng thành sau 36
năm được nhà nước nuôi dưỡng. Cũng cần phải nói rằng, mức độ bao cấp tràn
lan cho ngành thông tin khoa học và công nghệ ở nước ta cho tới hiện nay là " cá
biệt" trong cộng đồng thông tin thế giới. Như vậy, điều chính yếu nhất là nội
dung thông tin, phần thông tin của ta, do ta tạo lập và xử lý để phục vụ thiết thực
cho các hoạt động phát triển nói chung và hoạt động khoa học - đào tạo nói

lõi của vấn đề lại nằm ở phần nội dung thông tin mà để có được, đòi hỏi đầu tư
nhiều công sức, trí tuệ và tâm huyết. Tổ chức nội dung thông tin là phần lõi,
“phần hồn”, còn việc ứng dụng công nghệ thông tin chỉ là sử dụng một công cụ
để có thể giúp cho việc kiểm soát, tổ chức, truy cập, tìm kiếm và khai thác các
nguồn thông tin hữu ích một cách nhanh chóng, thuận tiện, kinh tế và có hiệu
quả hơn. Thời gian qua, trong xã hội, việc xây dựng các website đã trở thành
phong trào rộng khắp tại nhiều cơ quan, tổ chức. Song, sau khi đã giải quyết
xong phần kỹ thuật thì phần nội dung lại ít được quan tâm, nên kết cục, nhiều
website đã được xây dựng rất ít tác dụng do quá sơ sài và nghèo nàn về thông
tin, thậm chí đa phần thông tin chỉ là các tin tức sao chép, lặp lại của nhau. Bài
toán thông tin, do vậy, là bài toán lớn, phức tạp và để có lời giải phải có cách
nhìn trên quan điểm có tính hệ thống chứ không đơn thuần là bài toán của công
nghệ như ta vẫn tưởng trong thời gian dài vừa qua dẫn tới việc chỉ tập trung vào
mua sắm trang bị, thay phần mềm, tạo lập các giao diện và đề mục trên các
Websites.
Việc kết nối thông tin cung như việc kết nối mở rông dữ liệu thông tin công
nghệ cung cần được chú trọng Một số giải pháp thúc đẩy việc phát triển thông
tin công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả kết nối cung cầu công nghệ được đưa ra:
Giải pháp kiểm soát và quy trình xử lý thông tin cần được hoàn thiện:
Xét về phương diện nguồn tin, tài nguyên thông tin có thể chia thành hai phần:
phần nằm trong tài liệu và phần phi tư liệu (Non-document).Trong phần tài liệu
có dạng công bố và dạng không công bố. Đối với các nguồn tư liệu công bố,
công cụ kiểm soát truyền thống là các thông tin thư mục dưới dạng cơ sở dữ
liệu. Hiện nay, không phải tất cả vốn tư liệu hiện có trong các cơ quan thông tin
- thư viện đã được kiểm soát thư mục. Tuy vậy, khó khăn hơn là kiểm soát thông
tin đối với phần tài liệu không công bố như các tài liệu về các đề tài nghiên cứu,
kết quả của công tác nghiên cứu điều tra cơ bản, tài liệu hội thảo, các luận văn
sau đại học, báo cáo đoàn vào-đoàn ra..., đặc biệt là các nguồn phi tư liệu như:
7




cắt xẻ; giá cả dịch vụ thông tin quá đắt và sự không tiện ích về mặt công nghệ...
Những điều này làm nhiều người dùng tin chán nản, dần dần trở nên mặc cảm và
thậm chí xa lánh cơ quan thông tin.
Áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin đã tạo khả năng
tìm tin nhanh hơn, nhiều chiều hơn (tìm theo nhiều chủ đề và tiêu thức khác
nhau), linh hoạt và thân thiện hơn. Đáng lẽ, với sự hỗ trợ của công nghệ thông
tin mới thì thời gian và khoảng cách sẽ không còn là trở ngại. Thế nhưng, trên
thực tế, bài toán cung cấp thông tin cho những người dùng tin ở ngoài cơ quan,
ngoài địa phương... còn rất chậm chạp. Nhiều hợp đồng thực hiện các dịch vụ
cung cấp thông tin cho các đề tài khoa học, cho các nhiệm vụ kinh tế kéo dài
trong sự chờ đợi đã làm mất đi các cơ hội. Thông tin có tính thời sự, giá trị của
thông tin phụ thuộc vào thời điểm tiếp nhận chúng, do vậy, việc cung cấp thông
tin kịp thời là trách nhiệm và là sứ mệnh của cơ quan thông tin.
Cơ chế tài chính cho các tổ chức môi giới thông tin khoa học và công nghệ :
Ở nhiều nước trên thế giới hoạt động của các cơ quan thông tin được tiến
hành trên cơ sở tự trang trải hoặc theo cơ chế thị trường. Tại CHLB Đức, hoạt
động thông tin trong các tổ chức khoa học & công nghệ thuộc khối nghiên cứu
cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được Nhà
nước trợ cấp hoàn toàn kinh phí hoạt động. Hoạt động thông tin phục vụ cho
công nghệ công nghiệp, thị trường tại các loại hình doanh nghiệp được Nhà
nước cho phép “tự chủ”, “ tự trang trải” thông qua các hợp đồng dịch vụ khoa
học và công nghệ. Khu vực giao dịch thông tin tích cực này xem thông tin như
một loại hàng hoá, và sẽ thúc đẩy để hình thành trong xã hội thị trường thông
tin. Cơ chế này đảm bảo cho việc tập trung đầu tư của nhà nước và đồng thời
phát huy tính năng động và sáng tạo của cơ quan thông tin, gắn thông tin với
thị trường. ở nước ta, ngay từ những ngày đầu thành lập, tổ chức thông tin
khoa học và công nghệ đã được coi là hoạt động sự nghiệp có thu. Bước vào
9

Biểu đồ 2: Tỉ lệ các dịch vụ chuyển giao công nghệ của các tổ chức môi giới
chuyển giao công nghệ tại Viêt Nam

Đánh giá công nghệ là quá trình tổng hợp xem xét tác động giữa công
nghệ với môi trường xung quanh nhằm đưa ra các kết luận về khả năng thực tế
và tiềm năng của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ.
Đánh giá công nghệ là việc phân tích định lượng hay định tính các tác
động của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ đối với các yếu tố của môi
trường xung quanh. Việc đánh giá này có thể tiến hành ở cấp quốc gia, ngành or
DN. Khi đánh giá công nghệ phải xem xét một loạt các yếu tố,chúng có thể
được phân thành bảy nhóm như sau:- Các yếu tố công nghệ : Các chỉ tiêu liên
quan đến khía cạnh kỹ thuật như năng lực, độ tin cậy và hiệu quả; các phương
án lựa chọn công nghệ như độ linh hoạt và qui mô; mức độ phát triển của hạ
tầng như sự hỗ trợ và dịch vụ.
-

Các yếu tố kinh tế.: chỉ phản ánh yếu tố này có thể là tính khả thi về
kinh tế (chi phí - lợi ích); cải thiện năng suất (vốn và các nguồn lực
khác); tiềm năng thị trường (qui mô, độ co giãn); tốc độ tăng trưởng và
độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

-

Các yếu tố đầu vào : Một công nghệ có thể tác động đến mức độ dồi
dào của nguyên vật liệu và năng lượng, tài chính và nguồn nhân lực có
tay nghề.
11


-


Đánh giá công nghệ để chuyển giao hay áp dụng một công nghệ. Để đạt
được mục đích này, đánh giá công nghệ phải xác định được tính thích hợp
của công nghệ đối với môi trường nơi áp dụng nó.

-

Đánh giá công nghệ để điều chỉnh và kiểm soát công nghệ. Thông qua
đánh giá công nghệ để nhận biết các lợi ích của một công nghệ, trên cơ sở
đó phát huy, tận dụng các lợi ích này, đồng thời tìm ra các bất lợi tiềm
tàng của công nghệ để có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục.

-

Đánh giá công nghệ cung cấp một trong những đầu vào cho quá trình ra
quyết định:


Xác định chiến lược công nghệ khi có thay đổi lớn trong chính sách
kinh tế - xã hội quốc gia.



Khi quyết định chấp nhận các dự án tài trợ công nghệ của nước
ngoài.



Quyết định triển khai một công nghệ mới hay mở rộng một công
nghệ đang hoạt động.

kiện, thiết bị, đặc quyền kinh doanh, tên nhãn hàng, các dịch vụ chuyên môn...;
Trong chuyển giao công nghệ, các bên thường có động cơ và chiến lược riêng
của mình. Do công nghệ là vũ khí cạnh tranh tiềm tàng quan trọng, nên nhiều
khi nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm liên quan tới công nghệ
chuyển giao cũng là nội dung được chú ý trong đàm phán; Khoảng cách sẽ càng
rõ nét khi chuyển giao công nghệ diễn ra giữa giới khoa học và giới kinh doanh,
bởi các nhà khoa học thường đánh giá quá cao sản phẩm nghiên cứu và họ còn
có xu hướng muốn phổ biến kết quả khoa học do mình tạo ra.
Chuyển giao công nghệ không phải chỉ có nhiều thông tin phải xử lý và thể
hiện sự phức tạp, mà còn liên quan tới một số vấn đề khá xa lạ đối với doanh
13


nghiệp, loại hình tổ chức vốn quen với hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản
phẩm và dịch vụ thông thường. Đó là cảnh báo công nghệ Cảnh báo công nghệ
(Veille Technologique) là một nội dung của đánh giá công nghệ nhằm thấy
trước mặt lợi, mặt hại để từ đó ngăn ngừa, đối phó với những hậu quản tiêu cực
có thể có do một công nghệ cụ thể, hay một thế hệ công nghệ (dòng công nghệ)
hoặc một công nghệ mới gây ra cho sản xuất, đời sống và xã hội., đánh giá
công nghệ, môi trường pháp lý liên quan tới chuyển giao công nghệ, chính sách
phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ của nước xuất và nhập công
nghệ... Chuyển giao công nghệ đòi hỏi phải có hiểu biết sâu sắc, hệ thống về
công nghệ và môi trường pháp lý để có những quyết sách chính xác, kịp thời.
Lấy ví dụ, thông thường, cơ quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia (hệ thống
hành chính hoặc hệ thống toà án) đều được phép tự do hành động với một phạm
vi rất rộng trong việc xem xét tính hợp pháp của các hợp đồng chuyển giao công
nghệ. Nếu hợp đồng có các điều khoản thương mại không lành mạnh thì sẽ bị
coi là vô hiệu. Hậu quả tất yếu là không thể tiến hành việc thanh toán ngoại hối,
không có sự bồi thường về mặt pháp lý, một rủi ro mà bất kỳ doanh nghiệp nào
cũng phải biết để phòng xa khi tham gia các hợp đồng chuyển giao công nghệ

Định giá công nghệ: Định giá theo số liệu



Định giá công nghệ: Định giá theo chi phí



Định giá công nghệ: Phương pháp chia sẻ lợi nhuận



Định giá công nghệ: Định giá theo thị trường

Để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt trong xu thế hội nhập
thì việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm là xu thế tất yếu. Muốn vậy
phải đổi mới công nghệ. Để đổi mới công nghệ, một trong những vấn đề doanh
nghiệp quan tâm là giá thành công nghệ cần được chuyển giao. Tuy nhiên, hoạt
động định giá công nghệ ở Việt Nam mới được đề cập trong thời gian gần đây
và đang chuẩn bị cho những bước đi đầu tiên
Ở các nước phát triển, đặc biệt là các nước thuộc nhóm G7, thị trường
công nghệ đã có từ lâu nên hoạt động định giá công nghệ rất phát triển. Một số
nước như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc... hoạt động này cũng
rất phát triển. Theo thống kê, Hàn Quốc đã nhanh chóng trở thành nước công
nghiệp mới phát triển nhờ việc đổi mới công nghệ. Trong vòng 17 năm (từ 1962
đến 1979), có trên 1.500 hợp đồng chuyển giao công nghệ (CGCN) mới nhập
vào với nhịp độ ngày càng gia tăng. Từ năm 1962 đến 1966 có 31 hợp đồng
CGCN; từ năm 1967 đến 1972 có 325 hợp đồng CGCN; từ năm 1973 đến 1977
15


Ở Việt Nam trước đây, khi phê duyệt hợp đồng CGCN đều thực hiện theo
Nghị định số 45/1998/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về CGCN, trong
đó giá công nghệ luôn bị khống chế bởi "giá trần" là 5% giá bán tịnh; trường
hợp đặc biệt có thể lên đến 8% (giá bán tịnh là tổng giá bán sản phẩm hoặc dịch
vụ, tính theo hóa đơn bán hàng, trừ các khoản: thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc
biệt, thuế giá trị gia tăng, chiết khấu thương mại, chi phí cho việc mua các linh
kiện, chi tiết...). Tuy nhiên, đến nay Nghị định 45/1998/NĐ-CP được thay thế
bởi Nghị định số 11/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về CGCN
(sửa đổi). Theo quy định tại Nghị định này, Chính phủ không quy định "giá
trần" nữa, mà giá của công nghệ khi chuyển giao do các bên thỏa thuận.
Định giá công nghệ là hoạt động phức tạp và tốn kém, bởi công nghệ là
tài sản vô hình. Hơn nữa, chi phí để tạo ra công nghệ chưa chắc đã phản ánh
hoàn toàn đúng với giá trị của công nghệ. Vì vậy, theo tính toán của các chuyên
gia nước ngoài, chi phí cho việc định giá công nghệ rất tốn kém, trung bình
khoảng 20 - 30.000USD. Như vậy, không nên và không thể định giá công nghệ
tràn lan, phải có mục đích và địa chỉ áp dụng cụ thể. Hơn nữa, giá cả công nghệ
trong các hợp đồng CGCN do bên mua và bên bán thỏa thuận. Việc định giá
công nghệ chỉ mang tính tham khảo cho các bên. Mặc dù vậy, cá nhân, tổ chức
tiến hành định giá công nghệ phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của
mình. Nhưng để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ thì việc hình thành các
tổ chức định giá công nghệ mang tính chuyên sâu, đặc biệt là tổ chức môi giới
CGCN là rất cần thiết và cần có sự quản lí thống nhất trong toàn quốc về hoạt
động định giá để hoạt động này thực sự thúc đẩy CGCN và phát triển thị trường
công nghệ của Việt nam trong tương lai.
Vai trò của giám định công nghệ trong thành công của hoạt động chuyển
giao công nghệ

17



như để tiếp cận thị trường. Lựa chọn đúng phương thức chuyển giao công nghệ
có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp.
Có những giai đoạn khác nhau của quá trình chuyển giao công nghệ mà
doanh nghiệp phải trải qua. Trong giai đoạn tìm kiếm cơ hội, doanh nghiệp cần
nhận biết được các nhu cầu và lập luận chứng cho việc giao dịch. Giai đoạn lựa
chọn đối tác bao gồm việc tìm đối tác, đánh giá và chọn đối tác. Giai đoạn tiếp
theo là hoàn thiện phương thức giao dịch với nội dung nhận dạng phương thức
chuyển giao công nghệ khả thi và chọn phương thức giao dịch. Tiếp đến là giai
đoạn đàm phán, doanh nghiệp tiến hành đàm phán các điều khoản của hợp đồng,
đồng thời hoàn tất các khía cạnh về pháp lý, nguồn lực và hậu cần. Song song
với các quá trình đó là việc giám định công nghệ cần chuyển giao
Khác với mua bán hàng hoá thông thường, chuyển giao công nghệ đòi hỏi
những quan hệ sâu sắc, lâu dài giữa các bên chuyển giao và tiếp nhận.
Độ tin cậy của hàng hoá công nghệ không cao do người ta không thể sờ
mó và không dễ nhận biết trực tiếp các thuộc tính KH&CN. Trong khi người
bán biết rõ hàng hoá của mình, thì người mua thường có rất ít thông tin về chất
lượng thực của hàng hoá được mang trao đổi. Giá trị sử dụng của công nghệ chỉ
thực sự bộc lộ trong quá trình sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ.
Trước một đối tượng khá bí ẩn, quan hệ tin tưởng lẫn nhau có ý nghĩa quan
trọng giúp chuyển giao diễn ra trôi chảy.
Chuyển giao công nghệ bao hàm cả việc chuyển giao, hấp thụ kiến thức
mới của phía tiếp nhận. Sau hành vi mua bán còn có cả những hoạt động thiếp
theo như đào tạo, sửa chữa,... thể hiện mối quan hệ gắn bó lâu dài của những
người tham gia. Trường hợp người tiếp nhận tiếp tục cải tiến, phát triển công
nghệ được chuyển giao và cần sự hợp tác từ phía chuyển giao, quan hệ giữa các
bên càng phải bền chặt.
19


Chuyển giao công nghệ chứa đựng nhiều rủi ro. Người bán khó biết được

kèm theo đầu tư FDI dưới dạng máy móc thiết bị hoàn thiện không thúc đẩy
được việc phát triển nghiên cứu công nghệ trong nước. Mặc dù yêu cầu khá bức
thiết là việc đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ trong nước đi kèm với nó là
phát triển ứng dụng công nghệ trong nước thúc đẩy phát triển nghiên cứu công
nghệ.
Chuyển giao công nghệ thông qua thương mại hàng hóa buôn bán thiết bị
công nghệ:
Công nghệ không chỉ bao gồm những yếu tố “phần cứng” như máy móc
và thiết bị trong khâu sản xuất, mà còn cả những yếu tố “phần mềm”, bao gồm
kiến thức khoa học và công nghệ, kỹ năng, bí quyết và các cách bố trí về mặt tổ
chức và thể chế tạo thành có liên quan, cũng như hàng hóa và dịch vụ được tạo
ra từ quá trình sản xuất. Khi những yếu tố này được mua và bán ra ngoài ranh
giới công ty, thì chúng tượng trưng cho dòng công nghệ thông qua hàng hóa và
dịch vụ.
22


Chuyển giao công nghệ thông qua hàng hóa và dịch vụ thường liên kết
với nhau theo nhiều cách. Ở một mức độ đơn giản, một bộ phận của phần cứng
thường không dễ thích ứng nếu không có sách hướng dẫn kèm theo hoặc đào tạo
nhân sự, và tương tự, việc đào tạo trong các quy trình công nghiệp thường kèm
theo một số phương thức tiếp cận đến phần cứng. Có bốn phương thức khác
nhau cho việc chuyển giao công nghệ thông qua thương mại được vạch ra thông
qua các ví dụ ở bảng dưới đây. Các ví dụ này cũng chứng tỏ tầm quan trọng của
những mối quan hệ giữa hàng hóa và dịch vụ.
Làm thế nào để tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ mang lại lợi
ích cho việc chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường?
Những khó khăn trong việc xác định công nghệ thân thiện môi trường đã
chồng lên những khó khăn về việc xác định hàng hóa và dịch vụ môi trường. Ví
dụ, một trong những vấn đề đó là động lực kép vốn là bản chất của nhiều loại

thiết bị cơ bản được nhập khẩu từ
Nhật Bản. Quá trình đó có thể
được thích ứng với những lò hơi
sẵn có nhờ việc tập huấn đầy đủ
và tiếp cận tới thiết bị cơ bản
(IPCC, 2000).

Chuyển
giao thiết
kế và mô
hình

Dưới những chính sách tài chính
ưu đãi, Công ty Totalgaz đã xuất
Bộ Lâm nghiệp và Môi trường
khẩu 6kg chai làm bằng butan và
Ấn Độ, với kinh phí một phần từ lò hơi cho Sê-nê-gan và nước này
viện trợ của Đức và Thụy Sỹ, đã nhờ đó đã giảm bớt việc phá rừng
mua trang thiết bị cơ bản nhằm
cũng như sử dụng than củi. Lò
chế tạo tủ lạnh không gây hại
hơi ở đây được thiết kế để đáp
cho tầng ôzôn trong dự án
ứng nhu cầu địa phương nhờ sự
“Ecofrid”. Các trang thiết bị này hợp tác chặt chẽ giữa kỹ sư nước
được miễn các loại thuế và hải
ngoài của công ty Total và nhà
quan (IPCC, 2000).
cung cấp trong nước, từ đó hỗ trợ
cho thị trường của Total (IPCC,

trợ kỹ thuật của các công ty cung
cấp nhiệt tại vùng Baltic, đang
tìm nguồn thay thế năng lượng
nhiên liệu sinh học được sản xuất
trong nước. Việc hỗ trợ về mặt kỹ
thuật bao gồm đào tạo các công ty
về cách bỏ thầu, định giá thầu,
thương lượng các hợp đồng cung
cấp nhiên liệu sinh học và vận
hành nồi hơi đã sửa đổi (IPCC,
2000).

Chia sẻ
các kết
quả
nghiên
cứu

Công ty xi-măng Taiheyo của
Nhật Bản đã thực hiện nghiên cứu
về sợi tre nhằm gia cố cho ximăng để thay thế khoáng chất và
sợi tổng hợp bằng chất liệu tự

Ủy ban châu Âu cùng chương
trình ASEAN COGEN đã liên
kết những ngành công nghiệp
của các nước Đông Nam Á với
những nhà cung cấp thiết bị đồng
24



Chương trình nghị sự số 21 nhấn mạnh rằng chuyển giao công nghệ
không chỉ liên quan đến trang thiết bị hay “phần cứng”, mà còn liên quan đến
toàn bộ hệ thống cũng như các thành phần của nó, bao gồm bí quyết, hàng hóa
và dịch vụ, trang thiết bị và các quy trình tổ chức và quản lý. Việc tự do hóa nền
kinh tế thế giới mang lại cả thời cơ cũng như thách thức cho những ai muốn
khuyến khích chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường tới các nước đang
phát triển. Mức độ linh hoạt hơn cũng có thể có đối với việc thuê khoán nguồn
tri thức và hỗ trợ tài chính, cùng với những lộ trình khác nhau cho công nghệ
cũng sẵn có hơn khi mà rào cản kinh doanh hàng hóa và dịch vụ được hạ thấp
hơn. Tự do hóa thương mại có thể giúp dỡ bỏ những hàng rào cản trở việc
chuyển giao công nghệ thân thiện môi trường. Điển hình là thuế đánh vào hàng
hóa về môi trường hay những hạn chế về phương thức cung cấp dịch vụ của
nước ngoài. Nói một cách gián tiếp thì tự do hóa có thể mang lại một môi trường
cạnh tranh đặc trưng tại một nền kinh tế nhất định. Các rào cản cho việc cung
cấp dịch vụ có thể tạo ra những rào cản đáng kể trong chuyển giao công nghệ, vì
luồng hàng hóa, dịch vụ và công nghệ có liên quan lẫn nhau. UNCTAD chỉ ra
25


Trích đoạn Thực trạng phát triển các nguồn công nghệ nghệ tại Việt Nam Giải pháp phát triển nguồn công nghệ từ Khối Viện, Trường: Cách thức tìm kiếm thông tin các doanh nghiệp có nhu cầu mua công nghệ mới Hình thức quảng bá và làm marketing thị trường và các dịch vụ hậu mãi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status