KINH NGHIỆM TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ
CHỨC MÔI GIỚI CGCN VỀ KHCN Ở MỘT SỐ NƯỚC:
TRUNG QUỐC, HÀN QUỐC, THÁI LAN.
Mục lục
Mục lục............................................................................................................................................1
I. Tổng quan chuyển giao công nghệ và tư vấn môi giới chuyển giao công nghệ ở các nước trên
thế giới.............................................................................................................................................1
II. Kinh nghiệm ở Trung Quốc......................................................................................................11
III. Kinh nghiệm Thái Lan.............................................................................................................24
IV. Kinh nghiệm Hàn Quốc...........................................................................................................32
Kết Luận:.......................................................................................................................................40
Tài liệu tham khảo:........................................................................................................................43
I. Tổng quan chuyển giao công nghệ và tư vấn môi giới chuyển giao công
nghệ ở các nước trên thế giới
1.1.Tiếp cận các khái niệm:
Công nghệ (Technology), chuyển giao công nghệ (Transfer Technology –
TT) có rất nhiều định nghĩa về vấn đề này. Một cách hiểu thông thường của công
nghệ là phát triển và ứng dụng của dụng cụ, máy móc, nguyên vật liệu và quy trình
để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người. Với tư cách là hoạt động của
con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học. Lịch sử phát triển của xã hội
loài người đã chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa công nghệ và phát triển
bằng việc tăng cường áp dụng công nghệ, xã hội loài người đã từng bước chuyển
dịch vị thế của mình từ thế giới tự nhiên sang thế giới nhân đạo…công nghệ cũng
chính là yếu tố quyết định sự thịnh vượng hay suy vong của một quốc gia. Trong
xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên. Những tiến bộ như vũ
bão của KH-CN trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ
1
thông tin,công nghệ sinh học,công nghệ Nano, tự động hoá đã làm đảo lộn tư duy
nghệ là nơi trưng bày, giới thiệu, mua bán công nghệ, xúc tiến chuyển giao công nghệ và cung
cấp các dịch vụ khác về chuyển giao công nghệ.
8. Chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần
2
hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.
9. Chuyển giao công nghệ tại Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ giữa các tổ chức,
cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt Nam.
10. Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc tổ chức, cá nhân hoạt
động ở nước ngoài chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lãnh thổ Việt
Nam.
11. Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân hoạt
động trong lãnh thổ Việt Nam chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân hoạt động ở nước
ngoài.
12. Dịch vụ chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và
thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ.
13. Đánh giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, giá trị, hiệu quả kinh tế và tác
động kinh tế - xã hội, môi trường của công nghệ.
14. Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ.
15. Giám định công nghệ là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của công nghệ đã
được chuyển giao so với các chỉ tiêu của công nghệ được quy định trong hợp đồng chuyển giao
công nghệ.
16. Hoạt động chuyển giao công nghệ bao gồm chuyển giao công nghệ và dịch vụ
chuyển giao công nghệ.
17. Môi giới chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ bên có công nghệ, bên cần công
nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
18. Tư vấn chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công
nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ.
19. Ươm tạo công nghệ là hoạt động hỗ trợ nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ có triển
có rất ít công nghệ đã được thương mại hóa.
Năm 1963, Cố vấn khoa học của tổng thống John F. Kennedy 's, Jerome B.
Wiesner, nhận thấy cần thiết có một chính sách thống nhất hơn về sở hữu trí tuệ.
Trong mười năm tới, Sở Y tế, Giáo dục, và Phúc lợi và sau đó là Quỹ khoa học
quốc gia đã thống nhất thoả thuận bằng sáng chế cùng với một vài trường đại học.
Những hiệp định này là nền tảng cho chuyển giao công nghệ hiện đại.
Lần đầu tiên, các trường đại học được phép sở hữu sáng chế, họ được đưa ra
theo chính phủ tài trợ nghiên cứu. Điều này sở hữu và khả năng cấp giấy phép độc
quyền được nhạc trong sự sẵn lòng của ngành công nghiệp tư nhân để cấp phép và
phát triển công nghệ đại học. Các điều khoản và quy định của thỏa thuận đã dẫn
đến qua các năm 1980 của Luật 96-517, bằng sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá Luật
Sửa đổi Luật (Bayh-Dole Act-1980).Đạo luật này đã đây mạnh các hoạt động
chuyển giao công nghệ tại Mỹ, đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ từ các nghiên
cứu đuợc tài trợ bởi chính phủ.
Ngày nay, chuyển giao công nghê đã phát triển trên toàn thế giới. trong thời
kì bùng nổ thông tin và toàn cầu hóa. Lịch sử phát triển công nghệ, toàn cầu hóa vế
công nghệ , trong quá khứ và cùng hướng phát triển được tổng kết và dự đoán
theo các làn sóng đổi mới đối với từng thời kì công nghệ. Từ đầu thập niên 90 đến
đầu thế kỉ 21 hiện nay là làn sóng phát triển về công nghệ thông tin và , mạng viễn
4
thông nối tiếp là công nghệ sinh học. cac xu hướng này càng phát triển tiếp cận
những công nghệ tiên tiến đáp ứng nhu cầu càng tăng lên cùng xã hội loài người.
Các hoạt động chuyển giao công nghệ sẽ được đẩy mạnh xuyên quốc gia, biên giới
công nghệ ngày càng thu hẹp. Việc hợp tác nghiên cứu sẽ thuận lợi và dễ dàng hơn
trong tương lai phát triển nay
Một hoạt động chuyển giao công nghệ thông thường diễn ra như thế nào?
Quá trình chuyển giao công nghệ sẽ tóm tắt theo các bước , có thể các bước
khác nhau theo trình tự và tiến hành song song đồng thời
trung gian sẽ hướng dẫn người chủ công nghệ định hướng tới các công ty mở rông
hay các công ty thành lập mới.
5.
Bảo vệ
Trong quá trình phát triển chuyển giao công nghệ cho các đối tác. Bảo vệ
sáng chế, hình thức đã phổ biến trong luật pháp, băt đầu bằng việc nộp đơn cho
cho cơ quan sở hữu trí tuệ quốc gia hay các cơ quan sở hữu quốc tế, nước ngoài.
Tại Mỹ chí phí này vào khoảng vài nghìn USD.
5
Tổ chức trung gian sẽ giúp đỡ chủ sở hữu về các tư vấn hướng dẫn về bảo vệ
quyền tác giả, bảo vệ thương hiệu,…
6.
Maketing
Các chuyên gia nhiều kinh nghiệp của tổ chức trung gian sẽ cùng với người
có công nghệ định hướng và xac định các công ty có đủ nguồn lực cho hướng
chuyển giao công nghệ tới đó và cùng với mạng lưới doanh nghiệp để đưa công
nghệ vào thị trường công nghệ. Việc này có thể hương đến một công ty hiện tại
muốn mở rộng hoặc thay đôi công nghệ hoặc một doanh nghiệp mới được hình
thành
a . Khởi sự kinh doanh: Nếu việc tạo ra một khởi đầu kinh doanh là
một sự lựa chọn đúng đắn và tối ưu nhất thì tổ chức trung gian có thể tư vấn giúp
đỡ trong việc tìm kiếm các tài trợ cho khởi sự doanh nghiệp và các nguồn lực khác.
7.
6
Trên đây ta đã nghiên cứu một quá trình tương đối chuẩn về chuyển giao công
nghệ tại Mỹ. Tổ chức trung gian chuyêng giao công nghệ là văn phòng hợp tác
nghiên cứu (Office of Cooperative Research)
1.2. Vai trò của tổ chức trung gian trong chuyển giao công nghệ.
Tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp thường gặp
nhiều khó khăn. Đó chính là lý do cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài của các tổ chức tư
vấn, môi giới chuyển giao công nghệ.
Điều dễ nhận thấy nhất là khó khăn của doanh nghiệp trước sự phức tạp trong
chuyển giao công nghệ. Xung quanh vấn đề công nghệ, các học giả đã từng đưa ra
nhiều tranh luận. Chẳng hạn, các bàn thảo dai dẳng về những điều cơ bản như định
nghĩa về công nghệ và chuyển giao công nghệ (hàm chứa đằng sau là cách tiếp cận
khác nhau), đánh giá đóng góp của công nghệ vào tăng trưởng kinh tế, ... Các
doanh nghiệp có thể không quan tâm tới những gì mang tính học thuật, hoặc tác
động ở tầm vĩ mô, nhưng còn có cả những phức tạp khác liên quan trực tiếp đến
hoạt động chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp.
Có nhiều phương thức chuyển giao công nghệ khác nhau mà doanh nghiệp
phải lựa chọn: Mua thiết bị, hợp đồng chìa khoá trao tay, liên doanh, mua lixăng,...
Các phương thức này có liên quan tới lợi ích của các bên và đặc điểm công nghệ.
Thông thường, người bán thích được tham gia cổ phần để có thể giám sát được
nhiều hơn đối với người mua công nghệ, nhất là đối với những công nghệ quan
trọng, hoặc đang ở giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm. Trái lại, nếu công nghệ
thuộc loại không quan trọng, hoặc ở vào giai đoạn cuối của vòng thì người bán
thích phương thức bán lixăng. Về phía người mua, quyết định lựa chọn phương
thức chuyển giao nào phụ thuộc chủ yếu bởi năng lực công nghệ và các nguồn lực
hiện có. Nếu công nghệ định mua đòi hỏi nguồn lực quá cao, người mua thích
phương thức liên doanh; nếu người mua có năng lực công nghệ cao, họ không
thích việc tham gia cổ phần, trừ khi có những lý do như để tiếp cận thị trường. Lựa
hiện sự phức tạp, mà còn liên quan tới một số vấn đề khá xa lạ đối với doanh
nghiệp, loại hình tổ chức vốn quen với hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản
phẩm và dịch vụ thông thường. Đó là cảnh báo công nghệ Cảnh báo công nghệ
(Veille Technologique) là một nội dung của đánh giá công nghệ nhằm thấy trước
mặt lợi, mặt hại để từ đó ngăn ngừa, đối phó với những hậu quản tiêu cực có thể có
do một công nghệ cụ thể, hay một thế hệ công nghệ (dòng công nghệ) hoặc một
công nghệ mới gây ra cho sản xuất, đời sống và xã hội., đánh giá công nghệ, môi
trường pháp lý liên quan tới chuyển giao công nghệ, chính sách phát triển công
nghệ và chuyển giao công nghệ của nước xuất và nhập công nghệ... Chuyển giao
công nghệ đòi hỏi phải có hiểu biết sâu sắc, hệ thống về công nghệ và môi trường
pháp lý để có những quyết sách chính xác, kịp thời. Lấy ví dụ, thông thường, cơ
quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia (hệ thống hành chính hoặc hệ thống toà án)
đều được phép tự do hành động với một phạm vi rất rộng trong việc xem xét tính
hợp pháp của các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Nếu hợp đồng có các điều
khoản thương mại không lành mạnh thì sẽ bị coi là vô hiệu. Hậu quả tất yếu là
không thể tiến hành việc thanh toán ngoại hối, không có sự bồi thường về mặt
8
pháp lý, một rủi ro mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải biết để phòng xa khi
tham gia các hợp đồng chuyển giao công nghệ với các đối tác nước ngoài.
Không thể phủ nhận rằng, hiện nay đã có những doanh nghiệp chú trọng phát
triển hoạt động NC&PT, tăng cường thu lượm thông tin công nghệ. Tuy nhiên,
thực tế cũng cho thấy những nỗ lực đồng thời hướng vào các lĩnh vực khác nhau
đang đặt các doanh nghiệp trước mâu thuẫn. Nổi bật là mâu thuẫn giữa chú trọng
kế hoạch hoá quá trình sản xuất ngắn hạn, bám sát vào thực tại và đi vào giải quyết
những sự cố kỹ thuật cụ thể, với phải tiếp cận được với kiến thức khoa học của
những tổ chức KH&CN hàng đầu, phải có khả năng tiến hành những nghiên cứu
giầu trí tưởng tượng (thoát ly khỏi thực tế hiện tại) và phải tạo ra một môi trường
thuận lợi cho sự đổi mới, sáng tạo... Như vậy, thay vì phải tự mình đơn độc, sự hỗ
và không dễ nhận biết trực tiếp các thuộc tính KH&CN. Trong khi người bán biết
rõ hàng hoá của mình, thì người mua thường có rất ít thông tin về chất lượng thực
của hàng hoá được mang trao đổi. Giá trị sử dụng của công nghệ chỉ thực sự bộc lộ
trong quá trình sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ. Trước một đối
tượng khá bí ẩn, quan hệ tin tưởng lẫn nhau có ý nghĩa quan trọng giúp chuyển
giao diễn ra trôi chảy.
Chuyển giao công nghệ bao hàm cả việc chuyển giao, hấp thụ kiến thức mới
của phía tiếp nhận. Sau hành vi mua bán còn có cả những hoạt động thiếp theo như
đào tạo, sửa chữa,... thể hiện mối quan hệ gắn bó lâu dài của những người tham
gia. Trường hợp người tiếp nhận tiếp tục cải tiến, phát triển công nghệ được
chuyển giao và cần sự hợp tác từ phía chuyển giao, quan hệ giữa các bên càng
phải bền chặt.
Chuyển giao công nghệ chứa đựng nhiều rủi ro. Người bán khó biết được
người mua có giữ cam kết trong hợp đồng sau khi đã làm chủ được tri thức hay
không. Người có hàng hoá KH&CN dễ bị tổn thương về mặt sở hữu và lợi ích. Tri
thức KH&CN có những điểm khác với hàng hoá truyền thống. Việc một người sử
10
dụng một khối lượng tri thức nhất định không ngăn ngừa được người khác sử dụng
cũng những khối lượng tri thức đó. Đồng thời, khi tri thức đã bộc lộ ra ngoài xã
hội, thì người tạo ra nó rất khó ngăn không cho người khác dùng. Tính chất "không
loại trừ" và "không thể bị loại trừ" theo cách gọi của các nhà kinh tế, thường làm
tách rời giữa quyền sở hữu pháp lý và quyền sở hữu thực tế.
Chính vì vậy, trong chuyển giao công nghệ, người ta nhấn mạnh thuật ngữ
''Đối tác" với ý nghĩa là mua bán công nghệ cần quan hệ mật thiết hơn nhiều so với
"mua đứt - bán đoạn", một sự hợp tác trên cơ sở bền vững. Việc hình thành quan
hệ hợp tác bền vững rất cần trợ giúp từ tổ chức tư vấn, môi giới chuyển giao công
nghệ giống như những "bà mối". Bà mối là người có điều kiện đi sâu tìm hiểu các
bên, là người làm chứng và bảo lãnh uy tín của các bên tham gia chuyển giao công
dẫn đến sự “bùng nổ” về nhập khẩu công nghệ lần thứ nhất trong thập kỷ 50.
Từ năm 1950 đến 1959, chỉ có 150 quy trình công nghệ viện trợ từ Liên Xô
cũ (thường nói là 156 quy trình) nhưng trên thực tế chỉ có 150 quy trình được tiến
hành), bao gồm từ 400-500 hạng mục công nghệ, chi phí khoảng 2,7 tỷ USD. Tất
cả những khoản mục công nghệ đó đều rất quan trọng. Những công nghệ trọng
điểm được đưa vào là động lực, cơ khí và đồ dùng cho quân sự. Viện trợ công
nghệ của nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa là đường dây nhập khẩu công nghệ
quan trọng nhất của Trung Quốc vào thập kỷ 50. Thời đó các nước Tây Âu thực
hiện chính sách cấm xuất nhập khẩu đối với Trung Quốc cho nên chỉ có thể nhập
khẩu công nghệ từ Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.
Những công nghệ được đưa vào là những công cụ quan trọng phục vụ sản
xuất, không chỉ trực tiếp tăng cường sức mạnh công nghiệp của Trung Quốc mà
còn là nền tảng để phát triển công nghệ. Trên cơ sở nhập khẩu những công nghệ
này, ở một trình độ nhất định Trung Quốc đã thành công trong việc nâng cao năng
lực công nghệ, đó là cơ sở quan trọng chủ đạo để tạo ra nền tảng công nghiệp hóa
sau này.
Nguồn du nhập
Loại thiết bị
Liên Xô cũ
Thiết bị sơ cấp
Quy trình đơn lẻ
Thiết bị sơ cấp
Máy móc đơn lẻ
Các nước Đông Âu
Số lượng duSố lượng đưaHợp đồng hủyTự triển khai
đưa vào trong giai đoạn này, với kim ngạch 300 triệu USD. Quy mô không lớn như
lần trước nhưng những hạng mục được nhập khẩu là những thiết bị, công nghệ tiên
tiến, đóng vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực sản xuất và tích lũy
công nghệ của Trung Quốc vào thời điểm đó. Giai đoạn này, Trung Quốc xúc tiến
tích lũy công nghệ mô phỏng, thành công trong sản xuất một phần thiết bị, công
nghệ mũi nhọn. Do ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Văn hóa năm 1966, Trung
Quốc đã ngừng nhập khẩu công nghệ thời kỳ này. Cuộc Cách mạng Văn hóa đã tác
động mạnh đến việc nhập khẩu công nghệ, trong danh mục được nhập trước đây,
nhiều hạng mục phá sản. Từ 1966 đến 1972, Trung Quốc bị cô lập hoàn toàn khỏi
dòng chảy phát triển công nghệ của thế giới, việc nhập khẩu công nghệ mới cũng
rơi vào tình trạng ngừng trệ. Sau năm 1972, Trung Quốc được thừa nhận tham gia
vào tổ chức của Liên Hiệp Quốc, quan hệ Trung Quốc với Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu
được cải thiện. Chính phủ Trung Quốc đầu tư 4,3 tỷ USD để nhập khẩu thiết bị,
công nghệ mới.
Bước vào thập kỷ 90, tại Trung Quốc, đầu tư ngoại tệ trực tiếp tăng nhanh,
nên có nhiều thuận lợi trong việc nhập khẩu công nghệ quan trọng. Cho đến nay,
hình thái du nhập công nghệ của Trung Quốc đã chuyển sang một hình thức mới,
những công ty lớn buôn bán công nghệ trên thế giới như AT&T, MOTOROLA,
Matsushita… đều đã thành lập những căn cứ và các cơ sở R&D tại Trung Quốc và
các công ty này có khả năng đáp ứng nhu cầu công nghệ của nước này.
Nhờ những chính sách hợp lý về nhập khẩu công nghệ, năng lực làm chủ
công nghệ nhập và truyền thống sáng tạo, tự cường của người Trung Quốc nên
ngày nay Trung Quốc đã xuất khẩu công nghệ và địa bàn xuất khẩu mới chỉ tập
13
trung vào các nước đang phát triển. Kim ngạch xuất khẩu công nghệ của Trung
Quốc tăng rất nhanh: Năm 1989 là 880 triệu USD, năm 1990 là 990 triệu USD,
năm 1991 là 1.280 triệu USD, năm 1993 là 2,170 tỷ USD, năm 1995 là 1,510 tỷ
USD. Có thể khẳng định rằng việc du nhập công nghệ từ nước ngoài đã tạo ra sự
• Không tạo được sự phối hợp cần thiết giữa những người tham gia vào
các kế hoạch hoạt động phát triển KH&CN.
• Hạn chế sự phổ biến những công nghệ đã được tạo ra.
Phân tích các thất bại của chủ chương đẩy mạnh kế hoạch hóa hoạt động
KH&CN, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đề ra Nghị quyết về cải cách hệ thống
quản lý KH&CN (năm 1985) với tinh thần chính là thương mại hóa hoạt động
KH&CN và tạo ra thị trường công nghệ.
Tính chất phức tạp của thương mại hóa hoạt động KH&CN.
Là quá trình tất yếu khách quan, nhưng đồng thời, thương mại hóa cũng là
một quá trình phức tạp, lâu dài. Thực tế đã xuất hiện rất nhiều vấn đề mà trước đó
không thể lường trước. Các vấn đề này thực sự là những vật cản và thách thức đối
với mọi sự mong muốn đạt được thương mại hóa một cách nhanh chóng và dễ
dàng. Có thể kể ra các thí dụ gây trở ngại đối với chính sách thương mại hóa của
Trung Quốc:
• Sự không chắc chắn trong giao dịch mua bán công nghệ của những
người bán công nghệ trong nước do sự cạnh tranh gay gắt của các nhà
cung cấp công nghệ nước ngoài.
• Sự thiếu kinh nghiệm của người mua, vốn là những người đã quen nhận
công nghệ một cách thụ động.
• Năng lực của các đơn vị R&D còn bất cập với nhiều đòi hỏi của phía
sản xuất.
• Thiếu định chế và các thể chế trung gian là cầu nối giữa người mua và
người bán do đó giữa người cần công nghệ và người cung công nghệ
khó có cơ hội gặp nhau và khó đạt được một thỏa thuận chuyển giao
công nghệ.
Tính chất phức tạp của thương mại hóa đòi hỏi phải có phương pháp tiến hành
thích hợp. Đó là:
Thứ nhất: Kiên trì chủ trương cải cách hệ thống KH&CN theo hướng thương
mại hóa. Thành tựu hiện nay Trung Quốc có được chính là nhờ quyết tâm vượt qua
thống. Nhận thấy tác dụng tích cực của NTE, đồng thời nhằm giúp cho việc hình
thành và khả năng đứng vững của NTE. Nhà nước Trung Quốc đã xúc tiến chương
trình Bó đuốc vào năm 1988 và phê chuẩn thành lập một loạt các Khu công nghệ
cao nhằm tạo môi trường phát triển công nghiệp công nghệ cao.
Tính hai mặt của thương mại hóa hoạt động KH&CN.
Thương mại hóa mang lại những lợi ích to lớn, nhưng mặt khác, nó cũng đòi
hỏi phải trả một số giá nhất định. Tổng kết 10 năm cải cách chính sách KH&CN ở
Trung Quốc, Đoàn chuyên gia quốc tế IDRC đã nêu ra rất xác đáng "cái được" và
"cái phải trả" của thương mại hóa đối với các cơ quan nghiên cứu.
Lợi ích thu được bao gồm:
16
•Cung cấp cơ chế cho phép các nhà công nghệ giỏi tập trung vào nghiên cứu
và cho phép những người khác có công việc làm ăn trong các Xí nghiệp phụ (Spin
- offs).
•Làm tăng tính chủ động của các nhà nghiên cứu, cho phép việc thu hút được
các nhà khoa học giỏi.
•Đòi hỏi các cơ quan tìm ra những con đường mới liên kết công việc của họ
với nhu cầu xã hội.
•Cung cấp cơ chế đánh giá khách quan đối với việc tập trung nguồn lực cho
những nhóm tốt nhất.
•Thúc đẩy việc ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn nền kinh tế nhằm
mang lại lợi ích cho xã hội.
•Nhấn mạnh đến việc cổ vũ những nhà khoa học trẻ có tài năng.
•Cung cấp nhiều cơ hội hơn để các nhà khoa học hồi hương trở về.
Cái giá phải trả bao gồm:
•Làm cho các nhà khoa học không có trình độ về thương mại cũng cố gắng
trở thành nhà doanh nghiệp và nhà quản lý Xí nghiệp, tất nhiên, sẽ có nhiều sai sót
trong kinh doanh.
1 tỷ Nhân dân tệ một năm, hay bằng 1/10 toàn bộ ngân sách Chính phủ dành cho
KH&CN trong năm 1985
Cùng với việc hủy bỏ sự cấp phát của Chính phủ nhằm gây áp lực bắt các viện
R&D phải quay về với những nhu cầu thực tại của cuộc sống, các biện pháp tạo
điều kiện cho các viện R&D hướng vào thị trường cũng được áp dụng.
•Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động mua bán công nghệ bằng cách cho
phép ký kết hợp đồng công nghệ (Luật hợp đòng công nghệ được ban hành vào
năm 1987); Thành lập các cơ quan hỗ trợ mua bán công nghệ (sau một vài năm thử
nghiệm, cuối cùng các cơ quan này được xác định là: "Các cơ quan hoạt động
không có lãi, chịu trách nhiệm về đăng ký các hợp đồng công nghệ"); cho phép
thực hiện một loạt các giao dịch có liên quan đến công nghệ (phát triển công nghệ
theo hợp đồng, chuyển giao công nghệ, tư vấn công nghệ, dịch vụ công nghệ).
•Tăng quyền độc lập cho các viện R&D để có thể liên hệ với thị trường công
nghệ mới được tạo ra. Cụ thể, giám đốc các viện R&D đã được chuyển giao các
quyền trong những lĩnh vực: quyết định các hoạt động nghiên cứu khoa học và
triển khai công nghệ theo hợp đồng, đăng ký liên doanh với các xí nghiệp và đơn
vị thiết kế cũng như với các viện của hệ đại học, quyết định những việc về nhân sự
và tổ chức nội bộ trong viện, quyết định về thu nhập từ các hợp đồng, chủ động
liên kết hợp tác quốc tế và giữ lại phần ngoại tệ đơn vị có được phù hợp với các
quy định của Nhà nước.
•Mềm hóa trong công tác cán bộ: cho phép cán bộ KH&CN làm thêm công
việc thứ hai, với điều kiện họ thực hiện tốt nhiệm vụ chính được giao; áp dụng chế
18
độ "nghỉ không lương nhưng biên chế vẫn được giữ"; cho phép thu nhận những
cán bộ KH&CN đã nghỉ hưu.
•Khuyến khích và ưu đãi đối với các NTE. Đương nhiên, Chính phủ cũng nêu
rõ những tiêu chuẩn để chỉ đạo việc cấp giấy phép cho NTE là:
+ Công nghệ làm nền tảng cho các hoạt động của Xí nghiệp phải thuộc các
Bên cạnh đó, thực tế cũng tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết như:
•Vẫn còn quá nhiều viện nghiên cứu của Chính phủ, trong số đó có nhiều
viện thừa biên chế và tồn tại quá nhiều cơ quan R&D phụ thuộc vào tài trợ của
Chính phủ
•Sự trùng lặp lớn và thiếu phối hợp của các cơ quan R&D gây tiêu cực đến
thị trường hoạt động KH&CN
•Ở các NTE, khoảng 1 hay nhiều nhất là 2 trên 10 là thành công, 2 hoặc 3 có
thể tồn tại trong thời gian dài, và số còn lại là thất bại. Tuy nhiên, chính sách hiện
hành ở Trung Quốc không cho phép các Xí nghiệp thất bại này rời khỏi kinh doanh
vì sợ tạo ra những vấn đề liên quan đến phúc lợi xã hội của cán bộ công nhân viên
Đó là những thách thức cần tiếp tục vượt qua và Trung Quốc đã sẵn sàng cho
sự vượt qua này bằng cách chủ trương: thúc đẩy cơ quan nghiên cứu loại hình ứng
dụng và đơn vị thiết kế, ra sức thúc đẩy phát triển Xí nghiệp loại hình KH&CN,...
(xem nghị quyết của TƯ Đảng, Quốc vụ viện về tăng cường đổi mới công nghệ,
phát triển công nghệ cao thực hiện việc tạo ra các ngành nghề công nghiệp 28/8/1999).
Trước tình hình thiếu năng động của cơ quan R&D thuộc Nhà nước, sự trống
vắng của hoạt động thương mại hóa trên nhiều địa bàn và lĩnh vực, sự tự phát ra
đời của các cơ quan R&D phi Nhà nước, Trung Quốc đã chủ động khuyến khích
phát triển Xí nghiệp loại hình khoa học kỹ thuật dân doanh. Chính sách này được
thể hiện trong "Quyết định về một loạt vấn đề đối với phát triển mạnh mẽ Xí
nghiệp loại hình khoa học kỹ thuật dân doanh" do ủy ban KHKT Nhà nước và
ủy ban cải cách thể chế Nhà nước ban bố:
•Phát triển Xí nghiệp loại hình KHKT dân doanh phải tiếp tục kiên trì
phương châm lấy chế độ công hữu làm chủ thể, cùng tồn tại nhiều thành phần kinh
tế.
•Đẩy nhanh các bước đi, tăng cường cường độ, tích cực phát triển Xí nghiệp
loại hình KHKT dân doanh, từng bước tổ chức và động viên nhiều hơn nữa số cán
bộ KHKT đi vào xã hội.
•Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, phát triển có trọng điểm Xí nghiệp loại
công nghệ vào thời điểm họ vừa bước vào thị trường công nghệ.
•Nhiều doanh nghiệp không muốn chi trả cho công nghệ mà trước đây họ
được nhận không mất tiền, hoặc chi trả cho các công nghệ đó với giá rất thấp.
•Còn có khác biệt lớn giữa doanh nghiệp nông nghiệp và doanh nghiệp công
nghiệp. Nhìn chung doanh nghiệp nông nghiệp còn chưa tích cực tham gia mạnh
mẽ vào thương mại hóa hoạt động KH&CN.
•Các doanh nghiệp công nghiệp lớn và vừa của Trung Quốc lấy phương thức
tự mình tiến hành triển khai hoạt động sáng tạo kỹ thuật làm phương thức chủ yếu.
21
Nhằm tháo gỡ những vấn đề trên, trước mắt Trung Quốc đang chú trọng đến
các giải pháp như:
•Thúc đẩy doanh nghiệp trở thành chủ thể đổi mới công nghệ, nâng cao toàn
diện năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
•Tăng cường hợp tác liên kết giữa Xí nghiệp và trường đại học và viện
nghiên cứu: xây dựng cơ chế hợp tác song phương, đa phương thông qua hình thức
như kiêm nhiệm tương hỗ, bồi dưỡng huấn luyện... kinh phí phát triển công nghệ
của Xí nghiệp phải được sử dụng thường xuyên trong hợp tác giữa sản xuất trường đại học - cơ quan R&D.
2.2. Phát triển các tổ chức môi giới trung gian chuyển giao công nghệ:
Nhằm gắn kết giữa hai đầu cơ quan KH&CN và doanh nghiệp như là hai cực
"cung" và "cầu" của hàng hóa sản phẩm khoa học công nghệ và cũng nhằm hạn
chế tình trạng mua bán tự phát, tản mạn trên thị trường công nghệ, Trung Quốc đã
phát triển mạnh mẽ các tổ chức và hình thức giao dịch công nghệ.
Các hình thức khác nhau của các tổ chức trung gian chuyển giao công nghệ
được hình thành trong 10 năm gần đây:
Sở hữu nhà nước
Thuộc các trường đại học
Dưới sự hỗ trợ của chính phủ
Theo các định hướng thị trường
nghiệp; đổi mới phương thức dịch vụ của cơ quan, dịch vụ trung gian phục vụ
nông nghiệp, nông thôn (XI).
Tăng cường các thiết chế làm cơ sở cho thương mại hóa hoạt động KH&CN.
Các thiết chế làm cơ sở cho thương mại hóa hoạt động KH&CN đã được chú
ý đến rất sớm ở Trung Quốc, đồng thời chúng được liên tục bổ sung. Luật Hợp
đồng công nghệ được ban hành vào năm 1987 là cơ sở để giải quyết các tranh chấp
trong thực hiện hợp đồng có liên quan đến KH&CN. Năm 1990, ủy ban KH&CN,
Nhà nước Trung Quốc đã ban hành các văn bản pháp quy như: Quy định về quản
lý hợp đồng công nghệ, Quy định về thẩm định hợp đồng công nghệ, Biện pháp
quản lý hội dịch vụ công nghệ, Quy định về quản lý các cơ quan và trọng tài hợp
đồng công nghệ... Năm 1993, Trung Quốc đã thông qua Luật Tiến bộ KH&CN.
Tiếp đó, hàng loạt các văn bản khác đã ra đời như: Luật Sáng chế, Luật bản quyền
tác giả, Luật Hợp đồng kỹ thuật, Luật xúc tiến chuyển hóa thành quả KH&CN....
23
cùng với các văn bản pháp quy, hệ thống cơ quan có trách nhiệm theo dõi, thực thi
các văn bản đó cũng phát triển mạnh mẽ. Chẳng hạn, số lượng các cơ quan phụ
trách quản lý thị trường công nghệ đã tăng từ 9.649 năm 1987 lên 21.132 năm
1991; số lượng cán bộ khoa học và kỹ sư do cơ quan này thuê làm chính thức đã
lên tới 124.000 người vào năm 1991
Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn còn có một số hiện tượng nổi cộm như: không
chịu trách nhiệm trong việc vi phạm hợp đồng công nghệ; khó khăn trong việc
định các giá trị của tri thức kỹ thuật; tình trạng không rõ ràng trong việc trao quyền
sở hữu đối với các phát minh, sáng chế; những thủ tục khó khăn gây cản trở cho
những người chủ sở hữu tri thức muốn chuyển các kết quả nghiên cứu đến áp dụng
tại các cơ sở sản xuất. Các vấn đề này đã được chú trọng xem xét nhằm tìm kiếm
biện pháp khắc phục. Trước mắt, Trung Quốc đang tập trung vào một số biện pháp
sau:
•Yêu cầu cơ quan quản lý thị trường công nghệ các cấp phải nhanh chóng
Ngành sản xuất điện tử:
Thời kỳ thay thế hàng nhập khẩu (1960-1970):
Từ nửa đầu của thời kỳ này, 50% đầu tư vào ngành sản xuất điện tử là từ
Nhật Bản. Nhờ chính sách thay thế hàng nhập khẩu và quy chế khuyến khích đầu
tư của Chính phủ Thái Lan nên 10 công ty được thành lập trong thời kỳ này, trong
đó có 5 công ty liên doanh với Nhật Bản chi phối phần lớn sản phẩm điện-điện tử.
Năm công ty đó là Công ty Điện máy SANYO-Yunibasaru (Công ty Điện tử
Sanyo), National Thailand (Công ty Điện tử Matsushita), Công ty Điện tử
Kanyong (Mitsubishi), Công ty Điện tử Toshiba Thai Ltd (Toshiba) và Công ty
Điện tử Hitachi Consuma Product (Công ty Hitachi). Điều đó chứng tỏ đầu tư của
Nhật Bản chiếm một vị trí rất quan trọng nên ngành công nghiệp đó của Thái Lan
trong thời kỳ này phát triển rất mạnh. Thứ nhất, là do thị trường Thái Lan rộng lớn
đang được bảo hộ. Thứ hai, là Chính phủ khuyến khích tuyên truyền, quảng cáo rất
mạnh. Thứ ba, thực tế trong thời kỳ này Tivi đen trắng và đài bán dẫn là những sản
phẩm mới đang bán chạy ở thị trường Thái Lan.
Thời kỳ chuyển tiếp (1971-1980):
Thời kỳ này Chính phủ Thái Lan khuyến khích xuất khẩu nhằm chuyển
hướng nền kinh tế từ sản xuất thay thế nhập khẩu sang sản xuất hướng về xuất
khẩu. Thời kỳ này có 3 công ty của Mỹ đầu tư vào lĩnh vực IC để xuất khẩu sản
phẩm. Năm 1974, nhiều công ty đa quốc gia của Mỹ đã được thành lập ở Thái Lan
như Công ty Noshonal, Semicontactor, Shikunetiks, Deta General. Nhờ có các
công ty này sản xuất xuất khẩu IC với kim ngạch lớn nên việc sản xuất các mặt
hàng lắp ráp tiêu dùng trong nước được chuyển sang sản xuất hàng điện tử xuất
khẩu. Đây là bước nhảy vọt quan trọng trong ngành chế tạo ở Thái Lan lần thứ hai,
dựa chủ yếu vào các công ty Mỹ.
Thời kỳ khuyến khích xuất khẩu (1981-1985):
25