ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC THỐNG KÊ ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG
Câu 1: Đối tượng nghiên cứu của thống kê đầu tư và xây dựng giao thông
1.Hạch toán thống kê
Là việc đăng ký có hệ thống các tài liệu ở một số lớn các đơn vị tổng thể nghiên cứu thuộc
các tổ chức xây lắp, nó cho ta các tài liệu, thông tin về các hiện tượng xảy ra trong quá
trình tạo nên tài sản cố định.
Khoa học thống kê xây dựng cơ bản hình thành trên cơ sở các kinh nghiệm của công tác
thống kê xây dựng cơ bản, nâng lên thành lý luận trên nền tảng của lý luận kinh tế - chính
trị - xã hội.
2. Đối tượng của thống kê xây dựng cơ bản
Nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất của các hiện tượng kinh tế
số lớn phát sinh trong lĩnh vực xdcb. Lượng hóa tính quy luật và sự phát triển của chúng
trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể.
Nó nghiên cứu phân tích những vấn đề cụ thể của kinh tế xây dựng bằng các chỉ tiêu và
phương pháp thống kê.
Đối tượng cụ thể: ( thể hiện ở 3 mặt hoạt động)
- Với hoạt động thiết kế: Thống kê nghiên cứu thành quả của hoạt động thiết kế,
thăm dò, thể hiện bằng hiện vật hoặc giá trị, nghiên cứu biểu hiện các yếu tố vật
chất được sử dụng để làm nên thành quả đó; nghiên cứu, phân tích ảnh hưởng của
việc thiết kế đến việc cấp vốn và thực hiện công trình.
- Với hoạt động đầu tư vốn: Thống kê nghiên cứu biểu hiện khối lượng vốn đầu tư,
mức độ hoàn thành và tốc độ phát triển của vốn đầu tư, trên cơ sở đó xác định hiệu
quả kinh tế của vốn đầu tư.
- Về hoạt động xây lắp: Thống kê nghiên cứu biểu hiện thành quả công tác xây lắp,
các yếu tố vật chất tạo nên thành quả đó, nghiên cứu tình hình hoàn thành và tốc độ
phát triển của khối lượng công tác xây lắp.
Các mặt trên trong đối tượng nghiên cứu của thống kê xây dựng cơ bản có liên hệ chặt chẽ
với nhau, bổ xung cho nhau để thể hiện đầy đủ và toàn diện toàn bộ hoạt động của xây
dựng cơ bản.
dựng giao thông
1.Hệ thống các chỉ tiêu
a)Xét về cấp độ:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê đầu tư & xây dựng gồm các loại hệ thống chỉ tiêu sau:
- Hệ chỉ tiêu thống kê đầu tư & xây dựng của thống kê nhà nước.
- Hệ chỉ tiêu thống kê đầu tư & xây dựng của các Bộ, Sở
- Hệ chỉ tiêu thống kê đầu tư & xây dựng của các DN.
b)Xét về nội dung: gồm các nhóm chỉ tiêu lớn sau:
- Nhóm chỉ tiêu TKĐT
- Nhóm chỉ tiêu TK thiết kế, dự toán
- Nhóm chỉ tiêu TK xây lắp, gồm:
+ Thống kê về số lượng, khối lượng sản phẩm xây lắp, thống kê về sx xây lắp
+ Thống kê về chất lượng của sx & sp xây lắp
+ Thống kê về lao động
+ Thống kê về thiết bị
+ Thống kê về giá thành xây lắp ( tài vụ)
2. Phương pháp nghiên cứu của thống kê đầu tư & xây dựng
Điều tra thống kê là tổ chức thu thập ghi chép các tài liệu của hiện tượng nghiên cứu 1
cách khoa học và có kế hoạch thống nhất dựa trên hệ thống chỉ tiêu đã xác định trước.
Điều tra thống kê là giai đoạn đầu tiên của quá trình nghiên cứu thống kê, là tiền đề, là căn
cứ cho mọi cuộc nghiên cứu.
* Có các hình thứ tổ chức điều tra như sau:
- Báo cáo thống kê định kỳ và điều tra chuyên môn
- Thống kê đầu tư & xd vận dụng các phương pháp của thống kê học như phương pháp
phân tổ, phương pháp chỉ số, phương pháp hồi quy tương quan, dãy số thời gian…
+ Phương pháp phân tổ thống kê: Là căn cứ vào 1 hoặc 1 số tiêu thức nào đó để phân chia
các đơn vị trong tổng thể thành các tổ, nhóm tổ, tiểu tổ có tính chất khác nhau đáp ứng
mục đích, yêu cầu nghiên cứu.
kiện đúc sẵn, trạm trộn…)
- Nó là đơn vị cơ sở chủ yếu thực hiện kế hoạch nhà nước về xây dựng cơ bản.
- Nó có cơ cấu tổ chức ổn định, có đội ngũ lao động tích lũy kinh nghiệm…có khả
năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật và thi công với quy mô lớn. Trong nó có thể là doanh
nghiệp xây dựng thông thường hoặc doanh nghiệp chuyên nghiệp.
Câu 4: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản (KN, phân loại, tính mức hoàn thành VĐT)
I.KN
Vốn đầu tư xây dựng là toàn bộ chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm chi phí cho
việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi
phí cho mua sắm, lắp đặt thiết bị và các chi phí ghi trong tổng dự toán.
Vốn đầu tư xây dựng là tổng số chi phí để tái sản xuất tài sản cố định
Hay vốn đầu tư xây dựng là sự biểu hiện thống nhất từng khối lượng xây dựng được tính
bằng tiền
II.Phân loại vốn đâu tư xây dựng
Phân loại vốn đầu tư xây dựng là phân chia tổng mức đầu tư xây dựng thành những tổ,
nhóm, theo những tiêu thức nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu vốn đầu tư xây
dựng.
1.Phân loại vốn đầu tư xây dựng theo công dụng
Căn cứ vào mục đích sử dụng của từng đối tượng xây dựng (công dụng) vốn đầu tư xây
dựng được chia thành hai nhóm:
a) Đầu tư cho khu vực sản xuất vật chất (cho công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản,
giao thông vận tải…cho các ngành sản xuất vật chất khác)
b) Đầu tư cho khu vực không sản xuất vật chất ( cho y tế, giáo dục, thể dục thể thao, bảo
hiểm, nhà ở, nghiên cứu khoa học…)
Cách phân loại này mang những ý nghĩa như:
- Giúp ta nghiên cứu được sự phát triển của hai lĩnh vực ( sản xuất và chi phí sản xuất
vật chất) và ảnh hưởng của đầu tư xây dựng đến sự phát triển đó.
- Thấy được cả quá trình tái sản xuất tài sản cố định qua số vốn đầu tư cho khu vực
- Cho ta phương hướng đầu tư cho các ngành một cách hợp lý ( nếu là ngành công
nghiệp thì tỷ trọng vốn đầu tư cho mua sắm phải lớn, nếu là ngành giao thông vận
tải và ngành sản xuất phi vật chất thì tỷ trọng cho xây dựng phải lớn).
- Cho ta phương hướng hạ giá thành công trình xây dựng thích hợp cho từng ngành
( với xây dựng giaio thông: thì hạ giá thành chủ yếu do khoản vật liệu, với công
trình công nghiệp thì chủ yếu hạ giá thành trong khoản nhân công ( lắp nhiều))
3. Phân loại vốn đầu tư xây dựng theo hình thức xây dựng:
Căn cứ vào kết quả hoạt động đầu tư vốn, vốn đầu tư xây dựng được chia ra làm 3
nhóm:
a) Đầu tư xây dựng mới: Vốn để xây dựng và trang bị những công trình mới mà từ
trước đến nay chưa có trong nền kinh tế quốc dân, làm cho tài sản cố định tăng cả
số lượng lẫn công suất.
b) Đầu tư mở rộng và cải tạo: Vốn để xây dựng thêm bộ phận gắn liền với hệ thống
đang hoạt động. Vốn để đổi mới từng phần hay toàn bộ thiết bị công nghệ, vó thể là
vốn để nâng cấp đường, mở rộng khẩu độ đường sắt trong xây dựng giaio thông,
tăng công suất của tài sản cố định
c) Đầu tư khôi phục: Vốn để phục hồi tài sản cố định đang bị ngừng hoạt động do
thiên tai, dịch họa làm hư hỏng, khôi phục lại năng lực như cũ.
Cách phân loại này có ý nghĩa như sau:
- Cho biết phương hướng xây dựng trong từng thời kỳ có đúng đường lối phát triển
kinh tế của Đảng hay không?
- Cho biết tác dụng của từng hình thức xây dựng đến việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật của nền kinh tế quốc dân.
- Cho ta nghiên cứu hiệu quả kinh tế của từng hình thức xây dựng trong từng nơi,
từng lúc.
- Cho ta nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều
sâu.
4. Phân loại vốn đầu tư xây dựng theo nguồn vốn
giá dự toán quy định của nhà nước và phải xác định được mức độ hoàn thành về mặt hiện
vật của sản phẩm
Mức độ hoàn thành về mặt hiện vật của sản phẩm cần phải xác định thông qua đối tượng
tính toán như sau:
- Nếu lấy thành phẩm xây dựng để tính toán thì do sản xuất xây dựng có chu kỳ sản
xuất rất dài, trong một kì nào đó có thể chưa có thành phẩm, tức là mức hoàn thành
vốn đầu tư về xây dựng là bằng không, điều này không phản ánh đúng kết quả hoạt
động của đơn vị trong kì ấy.
- Nếu lấy khối lượng công việc trong đó có khối lượng xây dựng dở dang để làm đối
tượng tính toán thì nó sẽ biểu hiện được hết kết quả hoạt động của đơn vị, nhưng
như vậy lại coi như đã thừa nhận hiện tượng phân tán vốn, không khuyến khích
được đơn vị đẩy mạnh tiến độ, thi công dứt điểm, kết thúc sớm xây dựng công
trình. Mặt khác trong quá trình trở thành sản phẩm, sản phẩm dở dang rất có thể
phải phá đi làm lại hoặc là phải sửa chữa thêm…cho nên nếu đã tính vào mức hoàn
thành rồi là không chính xác.
Cho nên cần phải có một quy định tiêu chuẩn sản phẩm được tính vào mức hoàn thành
vốn đầu tư sao cho vừa phản ánh được thành quả hoạt động của đơn vị vừa đáp ứng được
yêu cầu của lãnh đạo sản xuất, quản lý tốt vốn đầu tư và dễ dàng cho việc tính toán. Tiêu
chuẩn được quy định như sau:
- Phần việc ( khối lượng công tác) đó có ghi ttrong hợp đồng ký kết giữa hai bên A
và B
- Phần việc đó đã có thể xác định được số lượng và chất lượng theo thiết kế, hoàn
thành đến giai đoạn cuối cùng của đơn giá dự toán, phù hợp với điểm dừng kỹ thuật
lý.
- Phần việc đó đã cấu tạo nên thực tế công trình và phù hợp với tổng tiến độ thi công.
Công thức tính:
Mức hoàn
thành vốn
C: Chi phí chung là những chi phí chưa được tính vào đơn giá, gồm trực tiếp khác, chi phí
quản lý, chi phí phục vụ công nhân, phục vụ thi công…có quy định tỷ lệ cụ thể theo từng
loại công trình
TL: thuế và lãi gồm thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng được quy định tỷ
lệ cụ thể theo loại công trình.
2.Tính mức hoàn thành vốn đầu tư về lắp đặt thiết bị máy móc
Phương pháp và công thức tính giống như phần xây dựng ( xét về tính chất công tác là
giống nhau, đều là sản xuất). Nhưng cụ thể trong các thành phần của công thức có những
điểm khác với phần xây dựng:
a)Khối lượng công tác hoàn thành (Q):
Tiêu chuẩn tính có phân biệt theo từng loại máy móc thiết bị và theo từng phương thức lắp
khác nhau.
- Nếu thiết bị có kỹ thuật lắp đơn giản và theo phương thức lắp từng chiếc, thì khi lắp
xong toàn bộ mới được coi là hoàn thành.
- Nếu thiết bị lắp theo phương thức song song, hàng loạt nhiều cái một lần thì tính
vào khối lượng hoàn thành khi lắp xong từng bước theo quy định của kỹ thuật.
- Nếu thiết bị có kỹ thuật lắp phức tạp, thì thời gian lắp dài, phải tiến hành từng bộ
phận hoặc có khi phải chia mỗi bộ phận thành các giai đoạn thì bộ phận nào giai
đoạn nào làm xong mới được tính vào khối lượng hoàn thành.
- P: Đơn giá, lắp một lần máy quy ước ( tùy theo từng loại máy). Trong nó chủ yếu là
chi phí công nhân, vì chi phí vật liệu ( rẻ lau, dầu mỡ) là không đáng kể.
3.Tính mức hoàn thành vốn đầu tư về mua sắm máy móc thiết bị
Đây chính là giá của máy móc thiết bị đến thời điểm trước khi giao lắp, nó gồm:
- Giá gốc, giá mua máy móc, thiết bị
- Chi phí vận chuyển đến nơi giao nhận
- Chi phí bảo quản khác cho đến khi giao lắp
+ Với thiết bị không cần lắp thì tính v ào mức hoàn thành vốn đầu tư khi đã chuyển
về đến kho và làm xong thủ tục
- Sản phẩm xây lắp có khối lượng rất lớn và đặc biệt trong xây dựng giao thông, sản
phẩm là những con đường còn chạy dài theo tuyến điều này làm cho quá trình sản
xuất chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố khí hậu tự nhiên, xã hội, kinh tế….nơi
xây dựng, và phải huy động một khối lượng rất lớn nhân tài vật lực trong một thời
gian dài.
- Sản phẩm xây lắp tồn tại lâu dài, sự hao mòn của nó rất ít, cho nên trong thực tế
không tính khấu hao cơ bản cho loại tài sản cố định này, mà chỉ tính khấu hao sửa
chữa lớn và hiện đại hóa ( đối với những công trình: sông, đào, bến tàu, cầu cống,
đường dây…)
Các đặc điểm nêu trên của sản phẩm xây lắp sẽ chi phối các phương pháp nghiên cứu của
thống kê sau này.
3. Phân loại sản phẩm xây lắp
Theo mức độ hoàn thành của sản phẩm, thì sản phẩm xây lắp được phân thành 3 loại:
- Thành phẩm: trong đó công trình hay hạng mục công trình đã thi công xong, có giá
trị sử dụng hoàn chỉnh và được đưa vào sử dụng, giá trị của nó là giá trị tài sản cố
định mới tăng cho nền kinh tế quốc dân.
- Khối lượng thi công xong ( đây là thành phẩm qui ước của đơn vị xây lắp ( bên B) )
đó là những khối lượng thi công đến giai đoạn quy ước theo thiết kế:
+ Sơ bộ kiểm tra được số lượng và chất lượng
+ Đã cấu tạo nên thực thể công trình
+ Đã thi công đến phân việc cuối cùng trong đơn giá dự toán.
- Khối lượng thi công dở dang: đay là những khối lượng đang thi công, chưa đạt yêu
cầu theo thiết kế và chưa đạt các tiêu chuẩn như ở khối lượng thi công xong.
Câu 6. Tổng sản lượng xây lắp ( KN, nguyên tắc tính, phương pháp tính SPXL hoàn
thành)
1.Khái niệm
Giá trị tổng sản lượng xây lắp là một chỉ tiêu tổng hợp khối lượng sản phẩm xây lắp tính
bằng tiền theo giá dự toán. Nó phản ánh toàn bộ thành quả lao động của hoạt động xây lắp
TL: thuế và lãi ( % của ∑ P.q+c)
3. Phương pháp tính giá trị tổng sản lượng xây lắp
Tinh theo yếu tố cấu thành
* Tính giá trị khối lượng công tác xây dựng
Giá trị khối lượng công tác xây dựng trong kì báo cáo gồm giá trị khối lượng xây dựng
hoàn thành và giá trị khối lượng xây dựng dở dang.
- Giá trị khối lượng công tác xây dựng hoàn thành là giá trị được tính bằng tiền theo
dự toán của các đối tượng đã thi công đến một giai đoạn quy ước nhất định ( tính
toàn bộ giá trị)
( Giá trị của công tác xây dựng mới, mở rộng, khôi phục cải tạo nhà cửa và vật kiến
trúc).
Gồm cả:
+ Giá trị các thiết bị vệ sinh, thông gió, chiếu sáng, cấp thoát nước cho công trình.
+ Giá trị đặt nền móng, vật chống đỡ thiết bị, máy móc.
+ Giá trị tháo dỡ, dọn dẹp, trồng cây sau khi xây dựng.
- Giá trị khối lượng xây dựng dở dang: Đây là giá trị khối lượng đã làm trong kì
nhưng chưa hoàn thành đến giai đoạn quy ước, chưa đủ điều kiện để nghiệm thu
Cách tính: Qdd=∑q.h
Qdd: Giá trị khối lượng công tác xây dựng dở dang.
q: khối lượng hiện vật ( dở dang) ở từng giai đoạn
h: tỉ trọng giai đoạn so với toàn bộ ( bằng thời gian định mức từng giai đoạn so với
thời gian định mức toàn bộ)
*Tính giá trị khối lượng lắp máy
Lắp đặt thiết bị máy móc là quá trình lắp đặt các thiết bị máy móc cần lắp lên trên nền, bệ
để máy hoạt động ( nó không làm biến đổi hình thái của đối tượng lao động và không tạo
ra sản phẩm mới như sản phẩm xây dựng) nó chỉ có tính chất gia công của sản phẩm đã
có, làm tăng thêm giá trị.
Nó cũng gồm giá trị khối lượng lắp xong và giá trị khối lượng lắp dở dang.
xây lắp
A.Phân tích tình hình hoàn thành toàn bộ kế hoạch thi công trong kì
1.Phân tích chung
Nhằm đánh giá tổng quát, nó chưa nghiên cứu cụ thể từng yếu tố kết cấu khối lượng, chưa
nghiên cứu tính cân đối theo các mặt của sản xuất.
∑ q1Pn
Iq= ∑ q Pn .100% = %
0
q0, q1 : Khối lượng kế hoạch và thực tế
Pn: Giá dự toán đơn vị khối lượng
Hoặc Giá trị khối lượng thực hiện/Giá trị khối lượng kế hoạch
(tháng quý năm)
Hoặc Giá trị khối lượng thực hiện từ đầu quý đến tháng này/ Giá trị khối lượng kế hoạch
quý
Chỉ tiêu này cho ta biết tiến độ thực hiện kế hoạch quý.
Hoặc giá trị khối lượng thực hiện từ đầu năm đến tháng này/ Giá trị khối lượng kế hoạch
năm
Chỉ tiêu này cho ta biết tiến độ và xu hướng thực hiện kế hoạch năm
2.Phân tích cân đối trong thi công
Thi công cân đối là điều kiện quyết định để hoàn thành toàn diện kế hoạch sản xuất, tránh
hiện tượng làm đuối kế hoạch, tăng thêm phí tổn trong giá thành ( thêm ca, thêm giờ…)
làm ảnh hưởng sức khỏe, người lao động, ảnh hưởng đến chất lượng công trình và không
an toàn trong sản xuất.
a)Cân đối giữa các kì
Quan sát mức hoàn thành kế hoạch của từng tháng so với mức hoàn thành của từng quý và
so mức hoàn thành kế hoạch của năm. Nếu chúng xấp xỉ nhau tức là sản xuất đảm bảo cân
đối giữa các kì
chú trọng và bộ phận pháp lệnh hay không? Vì đảm bảo hoàn thành bộ phận này chứng tỏ
việc chấp hành nhiệm vụ nhà nước giao của doanh nghiệp
e)Cân đối giữa khối lượng tự làm và cho thầu lại
Hiện nay các công ty xây dựng có quyền tham gia đấu thầu, nhận thầu, chi thầu lại và
nhận thầu lại
Đảm baỏ cân đối giữa tự làm và cho thầu lại nhằm xác định rõ không hoàn thành kế hoạch
thuộc về ai, về bản thân doanh nghiệp xây lắp hay do đơn vị nhận thầu lại, mặt khác ta có
thể đánh giá được đơn vị có làm đúng chức năng sản xuất hay không? Vì nều tỉ lệ cho
thầu lại quá lớn thì đơn vị có xu hướng trở thành những “cai đầu dài”” trong xây dựng, mà
không chú trọng đến sản xuất và đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động trong đơn
vị
B.Phân tích tình hình bàn giao công trình ( báo cáo quỹ)
Công trình: Tổng hợp những đối tượng xây dựng cùng chung một bảng thiết kế và một
tổng dự toán, công trình có thể gồm một hoặc nhiều hạng mục nằm trong một dây chuyền
công nghệ đồng bộ, có thể là một ngôi nhà, một chiếc cầu, một nhà ga, một đoạn tuyến
( đường).
Hạng mục công trình: là một bộ phận của công trình, có thể huy động năng lực độc lập
phục vụ cho việc huy động năng lực tổng hợp chung của công trình, trong điều kiện
chuyên môn hóa cao, một công trình có thể có nhiều đơn vị thi công, nếu thực hiện trọn
vẹn hợp đồng đã kí và làm xong thủ tục bàn giao thì được tính vào chỉ tiêu danh mục và
hạng mục công trình hoàn thành bàn giao.
Phương pháp nghiên cứu:
- Tính bình quân về thời gian vượt ( hụt) chung cho các công trình, sau đó quan sát
riêng cho từng công trình.
- So sánh về mặt số lượng công trình hoàn thành bàn giao so với tổng số phải hoàn
thành bàn giao ( đồng thời theo dõi tiến độ đối với các công trình chưa hoàn thành).
- Nguyên nhâm chậm:
+ Thiết kế chậm ( không đảm bảo)
công ty và kế toán trưởng
- Lao động hợp đồng ( hợp đồng dài hạn và hợp đồng ngắn hạn): Đây là toàn bộ
những người lao động còn lại của công ty. Theo tính chất công việc lao động của
doanh nghiệp bao gồm các loại sau:
a) Lao động trong sản xuất xây lắp:
Là toàn bộ những người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất xây lắp ( sản xuât chính)
của doanh nghiệp xây dựng
- Công nhân xây lắp: Thợ nề, mộc, bê tông, điều khiển máy thi công, vận chuyển vật
liệu, đo đạc thăm dò ở công trường trong phạm vi thi công
- Học nghề: vừa học vừa làm
- Nhân viên kỹ thuật: Những người có trình độ kỹ thuật được công nhận, họ trực tiếp
làm công tác kỹ thuật, chế tạo kỹ thuật, hướng theo thang lương kỹ thuật.
- Nhân viên quản lý kinh tế: Làm công tác quản lý sản xuất kinh doanh: Giám đốc,
phó giám đốc, chỉ huy công trường, các nhân viên ở các phòng ban như: tổ chức, kế
hoạch, tài vụ, vật tư
- Nhân viên quản lý hành chính: Là những người làm công tác hành chính quản trị,
văn thư, đánh máy, phụ trách đời sống, bảo vệ, lái xe con, tạp vụ
b) Lao động trong sản xuất kinh doanh khác
Gồm những n gười làm việc trong các hoạt động không phải là hoạt động chính,
hoạt động xây lắp của doanh nghiệp xây lắp, mà chỉ phục vụ cho sản xuất xây lắp
mà thôi, như:
- Lao động trong sản xuất phụ, phụ trợ: Xưởng sản xuất bê tông, đá, cát....hoạt động
công nghiệp.
- Lao động trong vận tải, tiếp liệu, thủ kho, y tế, thể thao, giáo dục, cấp dưỡng, lái xe
chở công nhân đi làm, phục vụ công nhân, dịch vụ
- Những người cử đi học, ốm trên 6 tháng
2. Lao động ngoài danh sách
-
y=
Tổng số người có từng ngày trong
tháng
Số ngày theo dương lịch của tháng
(Ngày chủ nhật và ngày lễ, lấy số liệu ngày hôm trước nếu đơn vị hoạt động không đủ
tháng, khi tính vẫn phải chia cho số ngày dương lịch của tháng)
Nếu doanh nghiệp có số lao động tương đối ổn định ( ít biến động) thì có thể tính như sau:
Lao
động
bình
quân
Lao động hiện có
Lao động hiện
= ngày đầu tháng
+ có ngày cuối
tháng
2
b)Tính số người bình quân quý
Nhằm xem trong quý trung bình mỗi ngày có bao nhiêu người
=
Tổng số người có từng ngày
trong quý
Số ngày theo lịch của quý
y=
y1 / 2 + y2 + y3 + ... + yn / 2
n −1
y1, y2,…,yn: số người có ở ngày đầu các tháng
n
: số thời điểm
*Nếu có số người ở các thời điểm bất kì thì tính số người bình quân theo công thức:
−
y=
∑yt
∑t
i i
i
−
y : số người bình quân trong kỳ
yi: số người có ở các thời điểm
ti: khoảng cách thời gian giữa các thời điểm có số liệu
2. Tính số người bình quân đối với các loại lao động nghĩa vụ ( tính đổi, quy ra số người
bình quân kì báo cáo)
: Số ngày làm việc theo chế độ
một người của công ty
Tiền công một ngày quy
định ở công ty
Sau khi đã quy đổi được đối với các loại lao động nghĩa vụ, ta cộng với số lao động bình
quân của doanh nghiệp, ta sẽ được số lao động bình quân đã dùng trong kì nghiên cứu.
3. Thống kê tình hình sử dụng số lượng lao động
Dùng phương pháp chỉ số, so sánh trực tiếp số lao động thực tế đã dùng và số lao động kế
hoạch yêu cầu
IT =
T1
.100 = %
T0
∆T = T1-T0 = ± ( người)
T1, T0 : Số người lao động bình quân thực tế và kế hoạch
IT : Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số lượng lao động
∆T: sự tăng (giảm) số người do kế hoạch
Kết quả: đánh giá chung tình hình sử dụng
Lao động: chỉ cho biết là tăng hay giảm bao nhiêu chứ chưa kết luận được như vậy là tốt
hay xấu.
Trường hợp thực hiện kế hoạch sản xuất có sự thay đổi ( tăng hoặc giảm) thì số lượng lao
động sử dụng cũng được phép tăng hoặc giảm tương ứng.
Nếu kiểm tra sử dụng số lượng lao động theo công thức:
IT =
T1
.100 = %
-
Trực tiếp so tổng số
Gián tiếp so tổng số
Cán bộ quản lý so tổng số
Công nhân xây lắp so tổng số
Phương pháp:
d1
d0
Tỷ trọng từng loại lao động kỳ thực
tế
Tỷ trọng từng loại lao động kỳ kế
hoạch
Với cách tình tỷ trọng:
di =
Ti
∑ Ti
Ti : Số lượng từng loại lao động
∑Ti : Tổng số lao động
Xu hướng của kết cấu hợp lý là tăng tỷ trọng trực tiếp, giảm tỷ trọng lao động gián tiếp,
giảm tỷ trọng lao động quản lý.
5. Thống kê sử dụng chất lượng lao động
Chất lượng lao động có thể thể hiện ở rất nhiều chỉ tiêu, nhưng rõ hơn cả là thể hiện ở
giá thành
IR