phương hưóng và giải pháp cho phát triển hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam - Pdf 32

slời mở đầu
Trên chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Việt Nam có rất nhiều
cơ hội để giao lưu, mở rộng và phát triển kinh tế. Để đưa Việt Nam phát triển hơn
nữa, sánh vai các cường quốc năm châu trên thế giới thì đảng và nhà nước ta đã có
những chiến lược phát triển kinh tế đặc biệt quan tâm tới công nghiệp với hi vọng
năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành 1 nước công nghiệp hiện đại. “phát triển
nhanh ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh chiếm lĩnh thị
trường trong nước và xuất khẩu “ là 1 trong những chiến lược phát triển công
nghiệp quan trọng hiện nay. Vừa tận dụng được nguồn lao động dồi dào trong
nước có chi phí rẻ, đồng thời hàng thủ công mỹ nghệ chủ yếu sản xuất bằng nguồn
lực trong nước, phụ liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ 3-5% vì thế giá trị thực thu
được rất cao 95-97%. Việc Việt Nam gia nhập WTO đem lại rất nhiều tác động
khác nhau tới việc xuất khẩu hàng TCMN. Vì vậy cần có những nghiên cứu cụ thể,
những lợi thế, hạn chế cạnh tranh của ngành hàng trên từng thị trường xuất khẩu
chính. Tìm ra những tác động tích cực cũng như tiêu cực tới hoạt động sản xuất và
xuất khẩu hàng TCMN để từ đó có những giải pháp kịp thời và hợp lý. Chính vì
nhũng lý do trên mà em chọn đề :”phương hưóng và giải pháp cho phát triển hàng
thủ công mỹ nghệ Việt Nam”, với nội dung được chia làm 3 phần:
1. Tổng quan về hàng thủ công mỹ nghệ
2. Thực trạng sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
3. Phương hướng và giải pháp
Do lần đầu tiên viết đè tài nên không tránh khỏi những sai sót, kính mong
thầy sẽ tận tình chỉ bảo giúp đề tài của em được hoàn thiện hơn hữu ích hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN 1: VAI TRÒ CỦA HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
I. KHÁI NIỆM
Sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống ở Việt Nam rất phong phú
và đa dạng. Nhiều sản phẩm đã xuất hiện từ lâu đời, tại nhiều địa phươpng trong cả
nước. Thủ công mỹ nghệ có thể được hiểu là mặt hàng có quy trình sản xuất thủ
công là chủ yếu và được truyền từ đời này qua đời khác vừa có giá trị về mặt thẩm
mỹ vừa thể hiện nét đẹp văn hoá dân tộc. Chính vì thế nên có những mặt hàng thủ

động của người thợ. Đào tạo ra người thợ có tay nghề điêu luyện, khả năng sáng
tạo của cá nhân là yếu tố quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của nghề
TCMN. Có thể nói chính đặc điểm này đã đem lại sự quý hiếm cho các mặt hàng
TCMN, khác với các sản phẩm công nghiệp được sản xuất hàng loạt bằng máy
móc. Giá trị của hàng TCMN chính là ở lao động thủ công, ở tâm hồn và sự sáng
tạo của người thợ được thể hiện trong chính mỗi sản phẩm.
- Sử dụng hầu hết nguyên liệu tại chỗ hoặc trong nước chính đặc điểm này
đã khiến cho giá trị thực khi xuất khẩu hàng TCMN rất lớn. Khác với dệt may,
giầy dép tuy có giá tri kim ngạch xuất khẩu cao nhưng vì phải nhập nguyên vật liệu
từ nước ngoài nên giá trị ngoại tệ thực thu lại không cao.
- Độc đáo và tiêu biểu của Việt Nam. Đúng vậy 1 sản phẩm hàng TCMN là
1 tác phẩm vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ. Các tác phẩm là sự kết
hợp giữa phưong pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Hàng TCMN
truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Từ nét
trạm trổ trên các sản phẩm đồ gỗ, các hoạ tiết trên đồ gốm sứ…tất cả đều mang
vóc dáng dân tộc, quê hương và chứa đựng trong nó những ảnh hưởng tinh thần,
quan niệm nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc.
IV. VAI TRÒ CỦA HÀNG THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
1 . Phát triển hàng TCMN giúp chuyển dịch theo hướng CNH_HĐH
Trong quá trình phát triển, hoạt động sản xuất hàng TCMN đóng góp tích cực tỷ
trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và giảm bớt tỷ trọng nông nghiệp chuyển
lao động từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất phi nông nghiệp
Mặt khác có thể thấy sản xuất hàng TCMN ở các làng nghề cho thu nhập và giá
trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Do từng bước tiếp cận với
nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên, người lao động nhanh
chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành
mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ ở thị trường trong nước và thế giới.Sản xuất mặt
hàng này tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở làng nghề mở rộng quy mô. Sản xuất
trong các làng nghề là 1 quá trình liên tục đòi hỏi 1 sự thường xuyên cung ứng vật
liệu và tiêu thụ sản phẩm, do đó ngành dịch vụ ở nông thôn phát triển mạnh mẽ

Chắc hẳn ai cũng biết các sản phẩm TCMN không chỉ có giá trị sử dụng mà còn
ẩn chứa giá trị nghệ thuật và văn hoá sâu sắc. Mỗi sản phẩm TCMN đã thực sự trở
thành nghệ thuật, là kết tinh tài năng, óc sáng tạo củ người thợ dựa trên bề dày văn
hoá nghìn năm của dân tộc. Nhiều sản phẩm đã vượt qua giá trị hàng hoá đơn
thuần trở thành những bảo vật được coi là biểu tượng đẹp đẽ của truyền thống dân
tộc Việt Nam. Đây cũng là 1 đặc trưng quan trọng của sản phẩm TCMN tạo ra sức
hấp dẫn riêng đối với du khác nước ngoài. Tìm đến sản phẩm là cách tiếp cận và
khám phá văn hoá Việt Nam hay nói cách khác đi đẩy mạnh xuất khẩu TCMN sẽ
góp phần giới thiệu và quảng bá văn hoá Việt Nam tới bè bạn quốc tế.
4. Xuất khẩu hàng TCMN góp phần đẩy mạnh XK tăng ngoại tệ cho đất
nước.
Trong những năm gần đây mặt hàng TCMN đã trở thành mặt hàng chủ lực xuất
khẩu ở nước ta. Hàng TCMN của Việt Nam đã có mặt và được ưa chuộng ở 100
nước trên thế giới với 3 thị trường mục tiêu là Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU. Trong
những năm gần đây thì kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nay không ngừng tăng.
Nhưng điều đáng chú ý là hiệu quả của việc xuất khẩu TCMN rất cao, thể hiện ở tỷ
lệ thu ngoại tệ. Nếu như nhiều mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn như dệt may,
giày dép nhưng tỷ lệ thu ngoại tệ thực lại rất thấp bởi phải nhập nguồn nguyên liệu
để sản xuất. Hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sãn có trong
nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ,khoảng 3 -5%. Vì vậy giá trị
thực thu được từ xuất khẩu cho mặt hàng này trên thực tế rất cao từ 95-97%. Có
thể so sánh với 235 triệu USD xuất khẩu vào năm 2000 gía trị thực thu được từ
hàng TCMN tương đương với giá trị xuất khẩu 143 triệu USD hàng dệt may, xấp
xỉ 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Điều này có thể hiểu là nếu tăng giá
trị xuất khẩu lên 1 triệu USD hàng TCMN tương đương với xuất khẩu 4,7 triệu
USD. Đó là chưa kể đầu tư đối với hàng TCMN thấp hơn rất nhiều do sản phẩm
này không đòi hỏi đầu tư máy móc thiết bị.
Sản xuất và xuất khẩu mặt hàng TCMN sẽ phát huy được lợi thế so sánh và tạo
lợi thế cạnh tranh. Phát triển mặt hàng này không những có ý nghĩa kinh tế mà góp
phần giải quyêt các vấn đề xã hội. Chính vì thế mà TCMN đang là mối quan tâm

triệu đồng > 20-30 triệu đồng khi xây dựng lò than nhưng chi phí sản xuất cuối
cùng vẫn rẻ hơn do chi phí lao động và chi phí liên quan khác thấp hơn. Ngoài ra
việc sư dụng lò ga còn cải thiện đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường vì đến nay
đã có 200 lò nung bằng ga trong tổng 1100 lò đang hoạt động. Tuy nhiên chi phí
đầu tư ban đầu quá lớn nên nhiều hộ gia đình không có đủ tiền để mua và chuyến
sang sử dụng lò ga. Do đó nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ vay vốn cho
các doang nghiệp và các hộ gia đình.
4. Nguyên vật liệu
Khối lượng nguyên vật liệu cho các làng nghề sử dụng khá lớn. Tuy nhiên công
tác quy hoạch vùng nuôi trồng, khai thác và quản lý nguyên vật liệu phục vụ cho
sản xuất chưa được quan tâm thực sự. Việc vung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất
ở các làng nghề chủ yếu do tư thương đảm nhận. Các cơ sở sản xuất tại các làng
nghề đang gặp phải khó khăn lớn về nguyên liệu. Hiện nay hầu hết các cơ sở đều
phải đi mua nguyên vật liệu từ bên ngoài chỉ có 1 số ít các cơ sở sản xuất tự cung
tự cấp. Như ở làng nghề An Tịnh(Tây Ninh), Thái Mỹ (tpHCM), sử dụng tre trúc
trồng quanh nhà để sản xuất. Miền Đông Nam Bộ có 248 cơ sở sản xuất(87%) mua
nguyên vật liệu từ bên ngoài 90-100%, 22 cơ sở sản xuất(7,7%) mua từ bên ngoài
80-90%, số lượng cơ sở sản xuất mua bên ngoài dưới 80% chiếm tỷ lệ không đáng
kể. Thị trường cung ứng nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu do tư thương
đảm nhận vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ và thiếu ổn định chưa đảm bảo cho việc phát
triển bền vững của làng nghề trong dài hạn. Rõ ràng ở nước ta chưa quy hoạch
được vùng nuôi trồng nguyên vật liệu lớn ổn định cho các làng nghề. Vì vậy cơ
quan quản lý làng nghề cần sớm có chiến lược quy hoạch vùng trồng nguyên vật
liệu lớn ổn định đảm bảo cho sản xuất diễn ra liên tục.
5. Môi trường
Vấn đề nhức nhối nhất ở các làng nghề là tình trạng ô nhiễm môi trường sản xuất
và môi trường sinh hoạt. Đối với làng nghề Bát Tràng lượng khói bụi từ hàng ngàn
lò nung gốm toả ra làm không khí bị nóng và ô nhiễm. Làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ ở
Bắc Ninh, Nam Định lại bị ô nhiễm bởi tiếng ồn, bụi của hàng loạt máy cưa xẻ,
đục, chạm khảm liên tục, bụi gỗ, chất thải của các loại xe kéo than…

2
123.480 135.860 154.600 255.300 274.300
4 tốc độ tăng
(%)
8 5,5 10 9 65,1 7,4
5 Sơn mài,
mỹ nghệ
36.219 34.043 50.996 59.612 89.673
6 tốc độ tăng
(%)
-6 50 17 50
7 Thêu 50.463 54.735 52.673 60.615 65.374
8 tốc độ tăng
(%)
8 -4 15 8
9 sản phẩm
đá và kim
loại quý
132.000 164.530
10 tốc độ tăng
(%)
24,6
11 Tông giá trị 287.60
0
308.900 340.40
0
397.300 515.800 569.000 630.400
12 tốc độ tăng
(%)
7,6 10,2 16,7 29,8 12 10,8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status