Thực trạng và Giải pháp thúc đẩy XK hàng thủ công Mỹ nghệ tại Cty XNK Tạp phẩm Hà Nội - Pdf 12


Đề tài : Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ tại Công ty xuất nhập khẩu Tạp phẩm Hà nội.
Lời nói đầu
Trong xu thế mở rộng giao lu, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, số lợng
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác ngày càng tăng. Xuất
khẩu hàng hoá ra nơc ngoài thờng phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh
tên thị trờng nội địa vì quy mô thị trờng rộng lớn khó kiểm soát, doanh
nghiệp khó nắm bắt thông hiểu một cách cặn kẽ, lại phải tuân thủ các tập
quán, luật lệ của các quốc gia... Nhng bù lại doanh nghiệp sẽ giải quyết đợc
tình trạng nhu cầu của thị trờng nhỏ bé, sức mua thấp hoặc cạnh tranh găy
gắt... và sẽ khai thác đợc tiềm năng tiêu thụ của thị trờng quốc tế rộng lớn
thu đợc ngoại tệ, tạo nguồn vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh.
Khi xuất khẩu ra thị trờng quốc tế bất cứ một doanh nghiệp nào cũng
phải chịu sự cạnh tranh găy gắt từ các đối thủ trong và ngoài nớc. Lúc đó,
bất kì một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải cạnh tranh,
phải tiến hành công tác phát triển thị trờng, xây dựng chiến lợc và kế hoạch
xuất khẩu. Đó là một yêu cầu thiết yếu trong kinh doanh bởi lẽ hoạt động
xuất khẩu đạt giá trị lớn thì sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp đạt đợc các mục
tiêu cơ bản trong kinh doanh nh lợi nhuận, thế lực, thơng hiệu...
Trong thực tế hiện nay mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đã chú trọng
đến hoạt động xuất khẩu nhng họ vẫn gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện.
Xác định đúng phơng hớng và giải pháp phát triển thị trờng phù hợp với
tình hình đã là điều không mấy dễ dàng huy động đầy đủ và phân bổ nguồn
lực để thực hiện kế hoạch lại là điều càng khó khăn hơn. các doanh nghiệp
sản xuất hàng hoá tiêu thụ và phải cạnh tranh rất nhiều hơn nữa không phù
hợp nhu cầu sử dụng của ngời tiêu dùng. Chính vì vậy các hoạt động thúc
đẩy xuất khẩu thực sự cần thiết cho các doanh nghiệp.
Là các mặt hàng thuộc các ngành nghề truyền thống, mang đậm các yếu
tố văn hoá dân tộc, hàng thủ công mỹ nghệ không chỉ đáp ứng nhu cầu ử
dụng trong cuộc sống hàng ngày mà còn là những vật phẩm phục vụ đời


Hà Nội ngày...
Sinh viên thực hiện.
Phạm Ngọc Huân

CHƯƠNG I:
Hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò
của xuất khẩu thủ công nghệ đối với tocontap.
I. vai trò của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ.
1. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của nó.
a, khái niệm xuất khẩu và phân loại
Xuất khẩu là một quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nớc thông qua
mua bán nhằm đạt đợc mức lợi nhuận cao nhất. Trao đổi hàng hoá là hình
thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa những ngời sản xuất kinh doanh hàng hóa riêng biệt của các quốc gia.
Xuất khẩu là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nớc tham
gia vào các phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giầu cho
đất nớc.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó
không phải là hành vi mua bán riêng lẽ mà là cả một hệ thống các quan hệ
mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi
nhuận, thúc đẩy xuất khẩu sản xuất hàng hoá phát triển, di chuyển cơ cấu
kinh tế ổn định và từng bớc nâng cao mức sống của nhân dân.
Xuất khẩu là hoạt động đã đem lại hiệu quả đột biến nhng có thể gây
thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài
mà các chủ thể trong nớc tham gia xuất khẩu không thể dễ dàng khống chế
đợc.
Trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, kinh doanh xuất khẩu sẽ mang
lại nhiều lợi ích, song có một điểm bất lợi. Muốn có hiệu quả cao phải phát
triển và hạn chế tác hại. Những thuận lợi của xuất khẩu mang lại có thể thấy

nghiệp, kinh doanh xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở nghiên cứu thi trờng trong
và ngoài nớc, tính toán đầy đủ chi phí, bảo đảm kinh doanh xuất khẩu có
lãi, đúng trong phơng hớng, chính sách pháp luật quốc gia cũng nhu quốc
tế.
Trong xuất khẩu tự doanh thì doanh nghiệp phải đứng mũi chịu sào tắt
cả. Đây là hoạt động xuất khẩu đợc xem xét một cách kỹ càng từ việc
nghiên cứu thị trờng đến việc ký kết hợp đồng bởi doanh nghiệp phảI tự bỏ
vốn của mình ra, chịu mọi chi phí giao dịch, nghiên cứu, thăm viếng, giao
nhận lu kho cho tới chi phí phải giao nhận hàng hoá, chịu thuế doanh thu.
Khi xuất khẩu tự doạnh thì doanh nghiệp xuất khẩu đợc tính kim ngạch
xuất nhập khẩu và khi tiêu thụ đợc số hàng xuất khẩu thì đợc tính doanh số,
do đó phải chịu thuế doanh thu.
Đây là hình thức xuất khẩu phức tạp nhất, khó khăn nhất và tự chủ nhất
trong các hình thức. Các bộ kinh doanh phải tự nghiên cứu, thực hiện các b-
ớc xuất khẩu sao cho tận dụng đợc mọi sự biến động của thị trờng, mua đợc
rẻ nhất, bán đợc đắt nhất và thời gian ngắn nhất.
- Xuất khẩu uỷ thác:
Xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong
nớc có hàng hoá và có nhu cầu khuất khẩu một số hàng hoá nhng không có
quyền tham gia nhng không có quyền quan hệ trực tiếp, đã uỷ thác cho một
doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thơng tiến hành xuất
nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình để làm thủ tục xuất khẩu hàng
hoá thêo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một khoản thù lao gọi là phí
uỷ thác.
Trong hoạt động xuất khẩu này, doanh nghiệp xuất khẩu (nhân uỷ thác)
không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có) không phải nghiên
cứ thị trờng tiêu thà chỉ đứng ra thay mặt cho bên uỷ thác để tìm và giao
dịch với bạn hàng nớc ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu
hang hoá cũng nh thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thờng với bên nớc
ngoài khi tổn thất. Khi tiến hành xuất khẩu uỷ thác thì tại các doanh nghiệp

khắc phục khó khăn cho nhau, cùng tiến hành xuất khẩu hàng hoá. Thờng
thì do phòng kinh doanh có nhiệm vụ, có kinh nghiệm, có bạn giao dịch và
đợc quyền xuất nhập khẩu trực tiếp đứng ra tiến hành các bớc giao dịch ký
kết hợp đồng với nớc ngoài còn phía ban liên doanh thờng góp vốn và đảm
bảo hàng hoá.
- Xuất khẩu đổi hàng:
Nhập đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại chủ yếu của buôn
bán đối lu, nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu. Thanh toán
trong hợp đồng này không phải dùng tiền mà chính bằng hàng hoá. ở đây
mục đích xuất hàng không chỉ để thu lãi từ hoạt động nhập mà còn nhằm để
xuất đợc hàng.
Hoạt động này rất có lợi bởi cùng một hợp đồng có thể tiến hành cung
một lúc hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu do đó thu lãi từ hoạt động xuất
và nhập khẩu này. Hàng hoá xuất và nhập khẩu tơng đơng về giá trị, cân
bằng về giá cả, nếu có sự chênh lệch sẽ đợc thanh toán bù trừ tuỳ theo thoả
thuận giữa hai bên.Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp đợc tính cả kim
ngạch xuất và kim ngạch nhập. Nhận doanh thu tiêu thụ hàng xuất và hàng
nhập nên chịu thuế doanh thu cả hàng xuất và hàng nhập.
Trong xuất khẩu đổi hàng, biên pháp đảm bảo thực hiện hợp dồng là:
*Dùng th tín (L/C) đối ứng: đây là loại L/C mà trong nội dung của nó có
điều khoản quy định L/C này có hiệu lực khi ngời hởng mở một L/C có kim
ngạch tơng đơng
*Dùng ngời thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, ngời thứ ba chỉ
giao chứng từ đó khi ngời nhận đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá
trị tơng đơng.
*Phạt về giao thiếu hay giao chậm.
b. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu là cơ sở của nhập khẩu là hoạt động kinh doanh để đem lại
lợi nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy kinh tế. Mở rộng xuất khẩu tăng ngoại
tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sơ hạ tầng. Nhà nớc ta luôn

phát triển của các ngành chế biến thực phẩm xuất khẩu kéo thực sự phát
triển của ngành công nghiệp chế rạo thiết bị.
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ, cung cấp đầu
vào cho sản xuất, khai thác tối đa cho sản xuất trong nớc.
- Xuất khẩu tạo ra những điều kiện kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới th-
ờng xuyên năng lực sản xuất trong nớc. Nói cách khác xuất khẩu với cơ sở
tăng thêm vốn và kỹ thuật công nghệ tiên tiến từ các quốc gia bên ngoài vào
Việt Nam nhằm hiện đại hoá nớc ta.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia cuộc cạnh
tranh trên thị trờng quốc tế về giá cả, chất lợng. Cuộc cạnh tranh này đòi
hỏi phải tổ chức lại sản xuất cho phù hợp với thị trờng quốc tế.
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá
thành.
. Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân
dân:
Trớc hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra
nhuồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu thụ thiết yếu phục vụ đời sống nhân
dân. Sản xuất hàng hoá xuất khẩu là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, chính
vì vậy có thể mang lại mức lơng cao cho những lao động hoạt động trong
lĩnh vực này, nâng cao mức sống cho ngời lao động.
. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của n ớc ta:
- Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nớc
ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt xuất khẩu ra
đời sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại nên nó thúc đẩy các quan hệ
khác phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng hoá xuất khẩu thúc
đẩy quan hệ tín dụng đầy t, vận tải quốc tế ng ợc lại, chính các quan hệ
kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất .
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để


2. Xin giấy phép xuất khẩu hàng hoá:
Giấy phép xuất khẩu hàng hoá là vấn đề qua trọng đầu tiên về mặt pháp
lý để tiến hành các khâu khác để tiuến hành xuất khẩu hàng hoá. Với hớng
hợp tác quốc tế. Nhà nớc tạo thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh
làm hàng ghoá xuất khẩu và xuất khẩu những hàng hoá không trái quy định
của nhà nớc. Nhà nớc quản lý xuất khẩu bằng quota và bằng luật pháp,
hàng hoá và đối tợng quản lý.
Thực tế nớc ta, trớc 15.12.1995 giấy phép xuất khẩu là một phần quản
lý hết sức rộng rãi. Những tốc độ và quy mô xuất khẩu ngày càng ra tăng
mạnh mẽ nên giấy phép xuất khẩu trở thành vật cản trở, kéo giài thời gian,
giây rắc rối về mặt thủ tục, hạn chế hoạt động xuất khẩu. Mặt khác tồn tại
giấy phép xuất khẩu còn có giấy phép kinh doanh xuất khẩu cũng một thủ
tục bắt buộc. Vì vặy ngay 15.12.1995, Chính phủ ra quyết định 89/CP quy
định giấy phép kinh doanh chuyển cho các doanh nghiệp muốn xuất khẩu
phục vụ hoạt động kinh doanh sản xuất đều phải xin giáy phép.
3. Chuẩn bị hàng xuất khẩu:
Hiện nay nớc ta không chỉ có các doanh nghiệp thơng mại lớn là công tác
xuất khẩu mà còn có nhiều các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là công
tác xuất khẩu trực tiếp với nớc ngoài. Do vậy đối với các doanh nghiệp
ngoại thơng kinh doanh xuất khẩu, chuẩn bị hàng xuất khẩu gồm các công
đoạn sau:
- Thu gom tập trung thành lô hàng xuất khẩu.
- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu.
- Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu.
4, k iểm tra chất l ợng hàng hoá xuất khẩu:
Đây là công việc cần thiết trong các công đoan thực hiện hợp động kinh
doanh xuất khẩu. Các nhà xuất khẩu, trớc khi chuyển hàng đi, phải có
nghĩa vụ kiểm tra về phẩm chất, số lợng, trọng lợng (hay còn gọi là
kiểm nghiệm). Nếu là hàng hoá thực vật phải kiểm tra khả năng lây lan

- Thực hiện các quyết định của hải quan sau khi kiểm tra giấy tờ.
8, Giao nhận hàng với tàu:
Thực hiện giao nhận hàng hoá theo hợp đồng, đến thời hạn giao hàng
các nhà xuất khẩu phải làm thủ tục giao nhận hàng.
- Nếu hàng hoá đợc giao bằng đờng biển, chủ hàng phải tiến hành các việc
sau:
+ Căn cứ vào chi tiết hàng hoá xuất khẩu lập bảng đăng ký hàng chuyên
chở.
+ Xuất trình bản đăng ký chuyên chở cho ngời vận tải để lấy hồ sơ xếp
hàng.
+ Bố trí phơng tiện đa hàng vào cảng, xếp hàng lên tàu.
+ Lấy biên lai thuyền phó và đổi biên lai thuyền phó lấy vận đơn đờng biển.
Vận đơn đờng biển phải là vận đơn hoàn hảo, đã bốc hàng và phải chuyển
nhợng đợc. Vận đơn phải chuyển về bộ phận kế toán để lập bộ chứng từ
thanh toán.
- Nếu hàng hoá đợc vận chuyển bằng đờng sắt, chủ hàng phải kịp thời
đăng ký với cơ quan đờng sắt để xin cấp toa xe phù hợp với tính chất và
khối lợng của hàng hoá. Khi đã đợc cấp toa xe, chủ hàng tổ chức bốc xếp,
niêm phong kẹp chì và các chứng từ vận tải, trong đó chủ yếu là vận đơn đ-
ờng sắt. Vận đơn đờng sắt chuyển về phòng kế toán để lập bộ chứng từ
thanh toán.
- Nếu hàng đợc chuyên chở bằng Container thì giao theo hai phơng thức
+ Hàng chiếm đủ một container thì chủ hàng phải đăng ký thuê container,
chịu chi phí chuyển container rỗng về cơ sở sản xuất của mình, đóng hàng
vào container và chuyển ra ga để giao hàng cho ngời vận tải.
+ Hàng cha đủ một container thì chủ hàng phải làm đăng ký hàng chuyên
chở xuất trình cho ngời vận tải. Sau khi đợc chấp nhận chở hàng, chủ hàng
đa hàng đến ga containr để giao cho ngời vận tải. Cơ quan vận tải chịu trách
nhiệm đóng hàng vào container và bốc hàng lên tàu.
9, Thủ tục thanh toán:

phẩm này thờng rất tinh xảo và độc đáo.
Hàng thủ công mỹ nghệ thờng chứa đựng các yếu tố văn hoá một cách
đậm nét vì chúng là những sản phẩm truyền thống của dân tộc. Mỗi dân tộc
đều có một văn hoá riêng và cách thể hiện riêng qua hình thái sắc thái sản
phẩm. Chính điều này đã tạo nên sự độc đáo, khác biệt giữa các sản phẩm
có cùng chất liệu ở các quốc gia khác nhau.
Nhìn chung các sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều thể hiện mảng đời
sống hiện thực, văn hoá tinh thần với màu sắc đa dạng hoà quyện, mang
tính nghệ thuật, đặc sắc. Do đó, chúng không chỉ là những vật phẩm phục
vụ đời sống tinh thần, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của các dân tộc.
Với sự phát triển của cuộc sống, nhu cầu của về sản phẩm mỹ nghệ ngày
càng cao. Mặc dù khoa học công nghệ cho phép sản xuất ra nhiều sả phẩm
đa dạng, phong phú và đẹp nhng các sản phẩm này thờng đợc sản xuất hàng
hoạt, mang tính đồng nhất, chính xác đến từng chi tiết nên biểu cảm tính
nghệ thuật không nhiều. Bởi vậy, các san phẩm thủ công mỹ nghệ dù tinh
xảo hay mộc mạc đều khẳng định đợc chổ đứng trong dời sôngs con ngời.
ở Việt Nam, sảm xuất hàng thủ công mỹ nghệ gần đây đang khởi sắc do
nhu cầu tiêu dùng trong nớc và xuất khâủ tăng lên. cùng với sự mở rộng
giao lu văn hóa, kinh tế giữa các nớc trên thế giới, hàng thủ công mỹ nghệ
Việt Nam đã có mặt trênthị trờng nhiều nớc Châu Âu, Đông á, Mỹ Và Nam
Mỹ. Do vậy quan tâm và có chính sách thoả đáng phát triển ngành nghề
này, mở rộng thị trờng xuất khẩu là thiết thực bảo tồn và phát triển một
trong những văn hoá quý giá của dân tộc Việt Nam ta. Ben cạnh ý nghĩa
góp phần truyền bá giới thiệu văn hoá truyền thống ra thế giới, việc đẩy
mạnh xuất khảu mặt hàng này góp phần tạo ra một lợng lớn công ăn việc
làm, giải quyết tình trạng d thừa lao động, nhất là ở nông thôn trong thời
gian nông nhàn, giúp họ có thêm thu nhập góp phần xoá đói giảm nghèo.
Nh vậy việc phát triển thị trờng, đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho băn thân các doanh
nghiệp cho ngời lao động mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn. Vì

hoá xã hội của thị trờng đó.
Trớc hết doanh nghiệp nên xem xét đến yếu tố truyền thống, tập quán sử
dụng của mỗi thị trờng. ở Châu Âu nhiều gia đình thờng sử dụng thảm để
trải sàn, một số nớc Đông Âu lại sử dụng các sản phẩm thêu ren, còn ở
Nhật, Hàn Quốc ngời dân rất a chuộng những vật phẩm bằng mây tre, cói...
Chính những tập quán sử dụng này sẽ gợi ý cho doanh nghiệp nên kinh
doanh mặt hàng gì ở thị trơngf nào. ngoài ra doanh nghiệp cũng cần chú ý
đến quy mô dân số của thị trờng tiêu thụ vì nó sẽ ảnh hơngr đến số lợng
sản phẩm có thể tiêu thụ đợc. Thông thờng quy mô dân số càng lớn thì khả
năng tiêu thụ càng lớn và ngợc lại. Doanh ngiệp cần phân ra khách hàng
của mình thành các nhóm theo các tiêu thức khác nhau nh độ tuổi, cơ cấu
gia đình, khách hàng là hộ gia đình và các nhóm tổ chức, tè đó xem xét quy
mô của mỗi nhóm. Cũng nh những mặt hàng khác, khả năng tiêu thụ của
hàng thủ công mỹ nghệ cũng phụ thuộc vào thu nhập, mức sống và địa vị
của ngời tiêu dùng. Tuỳ theo khả năng tài chính và vị thế xã hội của mình
mà ngời tiêu dùng lựa chọn loại sản phẩm với chất lợng, cách thức phục vụ.
Những ngời có thu nhập cao, có địa vị thờng lựa chọn những sản phẩm
quý, thật độc đáo....
Môi trờng cạnh tranh.
Khi cung ứng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ ra thị trờng nớc ngoài,
doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhiều đối thủ. Có thể là sự cạnh tranh
giữa các sản phẩm với nhau để cùng thảo mãn một mong muốn. Đối với các
sản phẩm thủ công mỹ nghệ phải lấy truyền thống cạnh tranh với hiện đại.
Trên thị trờng quốc tế sự cạnh tranh giữa các sản phẩm thủ công mỹ nghệ
đến từ các quốc gia khác nhau là sự cạnh tranh về tính tinh xảo sự độc đáo
biểu hiện qua sản phẩm/
Tuỳ theo số lợng đối thủ trên thị trờng mà ngời ta xác định mức độ khốc
liệt của cạnh tranh. Cạnh tranh ngày càng găy gắt, khả năng chiếm lĩnh phát
triển thị trờng của doanh nghiệp càng ngày trở nên khó khăn. cho nên
doanh nghiệp cần xác định trạng thái kinh doanh trên thị trờng là thuần

Là yếu tố quan trọng phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lợng vốn mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh, khả năng phân
phối quản lý có hiệu quả các nguồn vốn. Tiềm lực tài chính của doanh
nghiệp thờng đợc xem xét qua các chỉ tiêu nh số vốn sở hữu, vốn huy động,
tỉ lệ tái đầu t từ lợi nhuận, khả năng chi trả nợ của doanh nghiệp, thông th-
ờng doanh nghiệp có khả năng và nguồn lực về tài chính mạnh mé thì việc
tiến hành các hoạt động kinh doanh sẽ có nhiều thuận lợi hơn.
Bên cạnh việc đầu tơ vào hoạt động sản xuất tổ chức mạng lới thu mua
hàng hoá, các hoạt động nghiên cứu thị trờng, xúc tiến phân phối cũng đợc
chú trọng hơn, trong hki ở các doanh nghiệp hạn hẹp về vốn, các hoạt động
rất quan trọng nài nhiều khi bị cắt bỏ. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp
hoạt động xuất khâủ các chi phí cho hoạt động tìm hiểu thị trờng tham dự
triển lãm quốc tế thờng rất cao cho nên sự hạn chế đầu t cho các hoạt động
Marketing sẽ dẫn đến khó khăn trong cạnh tranh và phát triển thị trờng.
Sản phẩm của doanh nghiệp.
Vì sản phẩm là đối tợng trực tiếp đợc tiêu dùng, đợc đánh giá về chất l-
ợng mẫu mã nên nó chính là nhân tố quyết định khiến ngời tiêu dùng mua
sản phẩm. Để mở rộng đợc thị trờng của mình, các sản phẩm của doanh
nghiệp trớc hết phảy chó chất lợng, kiểu dáng phù hợp với thị hiếu nhu cầu
của khách hàng. Các sản phẩm thủ công nh mây tre đan thờng bị biến dạng
hay bị mốc do sự biến đổi của thời tiết. Nừu nh khi tiến hành xuất khẩu
doanh nghiệp chú ý đến iếu tố nài thì sẽ tránh đợc tình trạng hàng xuất bị
trả lại.
Khả năng kiểm soát, chi phí độ tin cậy của nguồn cung cáp hàng hoá.
Với các doanh nghiệp thơng mại kinh dpanh xuất khẩu thủ công mỹ
nghệ nguồn hàng cho xuất khẩu chủ iếu thu mua từ các chân hàng : các hợp
tác xã, các làng nghề, hộ gia đình hoặc doanh nghiệp sản xuất. Khả năng
kiểm soát nguồn cung cấp hàng hoá ảnh hởng đến đàu vào của doanh
nghiệp và tác dộng mạnh mẽ đến kết quả thực hiện các hoạt động kinh
doanh cũng nh ở khâu cuối cùng là tiêu thụ sản phẩm. Việc kiểm soát chi

số bộ phận đợc tách ra để thành lập các Công ty khác :
Năm 1964 : Tách thành lập ARTEXPOT.
Năm 1971 : Tách thành lập BAROTEX.
Năm 1972 : Tách các cơ sở sản xuất giao cho Bộ công nghiệp nhẹ quản
lý.
Năm 1978 : Tách thành lập TEXTIMEX.
Năm 1985 : Tách thành lập MECANIMEX.
Năm 1987 : Tách thành lập LEAPRDOXIM.
Năm 1990 : Tách ông ty xuất nhập khẩu phía nam thành Công ty trực
thuộc Bộ Thơng Mại.
Đến năm 1993, để đáp ứng điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ
chế thị trờng, theo đề nghị của Vụ trởng Vụ tổ chức và của giám đốc Công ty xuất
nhập khẩu Tạp phẩm. Bộ Thơng Mại ra quyết định thành lập doanh nghiệp Nhà n-
ớc số 333 TM/TCCB ngày 31/3/1993 :
Tên Công ty : Công ty xuất nhập khẩu Tạp phẩm Hà Nội.
Tên giao dịch : TOCONTAP.
Trụ sở : Số 36 Bà Triệu, Hà Nội.
Số tài khoản : 00.110.370005 tại Ngân hàng Ngoại thơng Viật Nam.
Trải qua 45 năm hoạt động và pháy triển, Công ty đã thiết lập đợc một mạng lới
kinh doanh quốc tế, quan hệ hợp tác với các tổ chức, các Công ty ở trên 70 quốc
gia tren thế giới. Không chỉ mở rộng mối quan hệ đối tác, Công ty còn tiến hành
phát triển nhiều hình thức giao dịch kinh doanh cũng nh mở rộng nhiều mặt hàng
kinh doanh để tận dụng các cơ hội thuận lợi mà thị trờng đem lại.. Với một nguồn
lực năng động, có trình độ, kết hợp với những kinh nghiệm tích luỹ đợc trong thời
gian qua, Công ty hoàn toàn có thể phát triển hơn nữa, xứng đáng trở thành một
Công ty lớn của Bộ Thơng Mại.
2. Chức năng nhiệm vụ và tổ chức Bộ máy của Công ty.
A, Chức năng hoạt động.
Chức năng chủ yếu của Công ty là tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu,
trong đó :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status