HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VIỆN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
----------------------
TIỂU LUẬN
MÔN: TƯ TƯỞNG KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CƠ CẤU KINH TẾ NHIỀU
THÀNH PHẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ. SỰ VẬN DỤNG
TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
HÀ NỘI, 8 - 2005
PHẦN I: MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, nhà chính trị, quân sự
thiên tài, người thầy của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân
tộc, danh nhân văn hóa thế giới, tư tưởng của Người đã soi đường cho
cuộc đấu tranh của nhân dân ta đi từ hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay, tư tưởng đó vẫn là
ngọn cờ hướng đạo cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Có thể nói,
tư tưởng Hồ Chí Minh là ánh sáng soi đường cho sự nghiệp đổi mới và
trong sự nghiệp đổi mới chúng ta hướng gần đến tư tưởng Hồ Chí Minh
hơn.
Chính vì vậy, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa to lớn. Riêng về cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần, Người đã để lại cho chúng ta nhiều di sản
quý báu.
1. Quan niệm của Lênin về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
trong thời kỳ đầu của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô
Cuối năm 1920, nội chiến kết thúc, nước Nga chuyển sang thời
kỳ xây dựng chế đô mới. Chính sách "kinh tế cộng sản thời chiến" đã
làm xong vai trò lịch sử bất đắc dĩ của nó. Đại hội lần thứ X, Đảng Cộng
sản Bôn sê vích Nga (3/1921) quyết định thay chính sách "kinh tế cộng
sản thời chiến" bằng "chính sách kinh tế mới" (NEP).
Thực chất, tinh thần của NEP đã được Lênin đưa ra từ năm 1918.
Với NEP, Lênin là người đầu tiên trong lịch sử lý luận Mác xít giải
quyết một cách toàn diện về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời
2
kỳ quá độ, thể hiện sự sáng tạo và bản lĩnh của một nhà chiến lược kiệt
xuất.
Theo Lênin: "Danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh
tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay, những thành phần,
những bộ phận, những mảnh của chủ nghĩa xã hội lẫn chủ nghĩa tư bản?
Bất cứ ai cũng thừa nhận là có... (1).
Như vậy, tồn tại kinh tế nhiều thành phần là một đặc điểm kinh tế
của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đồng thời, lênin coi việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, trong đó trọng tâm là chủ nghĩa tư bản nhà nước là nhịp cầu tiến
lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế tiểu nông. Đó là "một bước lùi"
về mặt "lịch sử", nhưng lại là một bước tiến lớn hợp quy luật lịch sử - tự
nhiên trong hiện thực.
Trong tác phẩm "Bàn về thuế lương thực", Lênin đã nêu ra các
thực thể kinh tế trong xã hội lúc bấy giờ. Ông viết: "Chúng ta hãy kể ra
Tập 4
: trang 49.
Tập 7
: trang 203, 205, 221, 222, 247-248, 361, 539.
Tập 8
: trang 147, 227, 493, 494, 577.
Tập 9
: trang 163, 175, 187, 319, 561, 584, 588, 589.
Tập 10
: trang 13, 15, 42, 312, 246, 380.
Nhưng thể hiện rõ nhất là trong hai tác phẩm: "Thường thức
chính trị" - 1953 (tập 7 trang 221-222) và "Báo cáo dự thảo Hiến pháp
năm 1959" (tập 9 - trang 588, 589).
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu các thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hồ Chí Minh cho rằng: "Có nước thì đi lên chủ nghĩa xã hội (cộng
sản) như Liên Xô, có nước phải kinh qua chế độ dân chủ mới rồi tiến lên
chủ nghĩa xã hội" (2) như các nước Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam.
Có thể hiểu: "chế độ dân chủ mới" theo Hồ Chí Minh là thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó Người lý giải: nước ta phải trải qua
6
là "nền tảng và sức lãnh đạo của kinh tế dân chủ mới. Cho nên chúng ta
phải ra sức phát triển nó và nhân dân ta phải ủng hộ nó" (5).
- Kinh tế tư bản tư nhân: là thành phần kinh tế của giai cấp tư sản
dân tộc. Giai cấp tư sản nước ta mới ra đời, còn non yếu do bị tư bản
nước ngoài chèn ép. Tuy nhiên "về mặt sản xuất so với chế độ phong
kiến thì chế độ tư bản là một tiến bộ to" (5). Họ có nhiều kinh nghiệm
sản xuất, sử dụng vốn, khoa học kỹ thuật "cho nên, Chính phủ cần giúp
họ phát triển. Nhưng họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia,
phải phù hợp với lợi ích của đại đa số nhân dân" (6).
- Kinh tế tư bản quốc gia: Đây là thành phần kinh tế do Nhà nước
và nhà tư bản cùng góp vốn với nhau để kinh doanh do Nhà nước lãnh
đạo. Tư bản của tư nhân là tư bản chủ nghĩa. Tư bản của Nhà nước là xã
hội chủ nghĩa. Theo Lênin, thành phần kinh tế này là nấc thang, bước
trung gian để một nước kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Và thành
phần kinh tế "nửa chủ nghĩa xã hội" này sẽ tồn tại lâu dài trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
- Ngoài ra còn có kinh tế hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung
cấp có tính chất nửa xã hội chủ nghĩa; kinh tế cá thể của nông dân và của
thủ công nghệ.
Hai là: Ngay từ năm 1953, Hồ Chí Minh đã cho rằng: Dưới chế
độ dân chủ mới có 5 loại thành phần kinh tế khác nhau là:
- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung
nhân dân).
- Kinh tế hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến lên chủ
nghĩa xã hội).
- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công (có thể tiến dần vào
Trong báo cáo sửa đổi Hiến pháp trước Quốc hội, Hồ Chí Minh
đã trình bày đường lối chung tiến lên CNXH. Người nêu rõ các hình thức
sở hữu và các thành phần kinh tế ở nước ta và chính sách đối với các loại
hình đó. Người cho rằng: "trong nước ta hiện nay có những hình thức sở
hữu chính về tư liệu sản xuất như:
- Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân.
- Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động.
- Sở hữu của người lao động riêng lẻ.
- Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản.
Mục đích của chế độ ta là xóa bỏ các hình thức sở hữu không chủ
nghĩa xã hội, làm cho nền kinh tế gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên
một nền kinh tế thuần nhất, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể" (8).
Nhìn vào thứ tự trên ta thấy rằng, Hồ Chí Minh sắp xếp các loại
hình sở hữu, căn cứ vào vai trò thực tế của chúng đối với chế độ xã hội
chủ nghĩa. Sở hữu xã hội chủ nghĩa đứng ở vị trí cao nhất. Nó là nền
tảng kinh tế của chế độ xã hội mới, chỗ dựa của Nhà nước nhân dân; quy
định bản chất các quan hệ xã hội mới đang trong quá trình manh nha và
định hình.
Theo Hồ Chí Minh, vai trò chủ đạo của kinh tế xã hội chủ nghĩa
thể hiện: đây là hình thức sở hữu chính, tồn tại trong các lĩnh vực then
chốt, ảnh hưởng đến quốc kế, dân sinh, có tác dụng hướng dẫn các loại
hình kinh tế khác đồng thời cũng là mục đích hướng tới của các quan hệ
và hoạt động kinh tế. Sở hữu xã hội chủ nghĩa cũng nằm trong quá trình
vận động theo nấc thang tương ứng với trình độ phát triển, quy mô xã
hội hóa của sản xuất xã hội. Quá trình đó là một quy luật.
9
Tư tưởng trên của Người không những cho chúng ta thấy cần
phải phát huy mọi năng lực sản xuất của mọi thành phần kinh tế mà còn
cho chúng ta thấy tinh thần đoàn kết dân tộc sâu sắc. Người nói rằng:
"Giai cấp tư sản nước ta có xu hướng chống đế quốc, có xu hướng yêu
nước... cho nên nếu ta thuyết phục khéo, lãnh đạo khéo, họ có thể hướng
theo chủ nghĩa xã hội" (12).
Bên cạnh đó Người còn rất quan tâm đến việclàm ăn của ngoại
kiều ở Việt Nam. Trong lời kêu gọi nhân ngày giải phóng thủ đô, Người
nói: "Các bạn, người buôn bán kinh doanh tiểu thương, tiểu chủ, công
nhân và trí thức đã chung sống với nhân dân Việt Nam. Các bạn đã khai
cơ lập nghiệp ở Việt Nam. Những hoạt động chính đáng về kinh tế và
văn hóa của các bạn cũng có lợi cho Việt Nam. Vì vậy tôi khuyên các
bạn: Các bạn cứ yên lòng làm ăn như thường. Nhân dân và Chính phủ
Việt Nam sẽ giúp đỡ và bảo hộ các bạn" (13).
Tóm lại, những quan điểm trên thể hiện rất rõ tư tưởng Hồ Chí
Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Quan điểm đó thể hiện sự mẫn cảm trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về việc nắm bắt và vận dụng các quan điểm mác xít, khắc phục
trên thực tế xu hướng tả khuynh trong đường lối xây dựng chủ nghĩa ở
nhiều Đảng Cộng sản và công nhân khi hiểu không đúng về luận điểm
của Mác và Ăngghen: "Những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của
mình thành công thức duy nhất là xóa bỏ chế độ tư hữu" (14).
Phải hiểu rằng không phải những người cộng sản thủ tiêu chế độ
tư hữu nói chung mà thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Bởi vì khi
trả lời câu hỏi: "Liệu có thể xóa bỏ chế độ tư hữu ngay lập tức được
không?". Mác, Ăngghen đã khẳng định: "Không, không thể được, cũng y
như không thể làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức
14
- Kinh tế tư bản nhà nước.
- Kinh tế cá thể tiểu chủ.
- Kinh tế tư bản tư nhân.
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng phát triển thêm một bước
quan điểm về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đại hội nhấn mạnh:
"Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân". Đại hội IX của Đảng xác
định nền kinh tế chúng ta có những thành phần kinh tế sau:
- Kinh tế Nhà nước.
- Kinh tế tập thể.
- Kinh tế cá thể tiểu chủ.
- Kinh tế tư bản tư nhân.
- Kinh tế tư bản nhà nước.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Ở đây ngoài thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài do chế
độ mới ngày nay đem lại, ta thấy có sự gặp nhau về sự xác định số lượng,
cũng như vai trò, vị trí của các thành phần kinh tế đối với chế độ xã hội
chủ nghĩa của Đại hội IX của Đảng với tư tưởng của Hồ Chí Minh đã
nêu từ 1953.
Tóm lại, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu "dân giàu, nước manh, xã hội công bằng
dân chủ văn minh" ở nước ta một mặt chính là sự tiếp tục lôgíc khách
16
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta nhằm giải
phóng sức sản xuất, động viên tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế,
tạo điều kiện cho công bằng xã hội, dân chủ hóa nền kinh tế, tăng sức
mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc theo tinh thần của Hồ Chí Minh:
"Công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, lưu thông trong ngoài".
Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới chúng ta đã giành
được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã
ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội; kinh tế tăng trưởng khá nhanh, nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng;
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh. Tuy nhiên bên
cạnh đó chúng ta còn những hạn chế đó là nước ta chưa ra khỏi tình
trạng kém phát triển và vẫn tồn tại nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Quá trình hình thành và phát
triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cũng nảy sinh những hạn chế, mâu
thuẫn cần được khắc phục như: Sự mâu thuẫn giữa việc phân định các
thành phần kinh tế trên đường lối, chủ trương với sự hình thành và tồn
tại của chúng trên thực tế; mâu thuẫn giữa vai trò chủ đạo được trao cho
thành phần kinh tế nhà nước với hiệu quả hoạt động kém của nó; mâu
thuẫn giữa yêu cầu bình đẳng trước pháp luật với chính sách ưu đãi riêng
đối với từng thành phần kinh tế; mâu thuẫn giữa tư bản và lao động...
Từ công cuộc đổi mới, Đảng ta có thể rút ra những bài học quý
báu trong rất nhiều bài học mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta:
Một là: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là nguyên tắc là
"cái bất biến" trong sự nghiệp đổi mới, nhưng phải biết vận dụng sáng
tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta mà
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về sự trung thành đổi mới và sáng tạo.
20
MỤC LỤC
Trang
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Quan niệm của Lênin về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
2
trong thời kỳ đầu của quá trình xây dựng CNXH ở Liên Xô
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
4
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần vào phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
PHẦN III: KẾT LUẬN
21
11