Môc lôc
Môc lôc.........................................................................................................2
lêi giíi thiÖu.............................................................................................3
Tõ viÕt t¾t...................................................................................................6
Tµi liÖu tham kh¶o..............................................................................97
2
lời giới thiệu
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp viễn thông đã và đang tìm một phơng thức
chuyển mạch có thể phối hợp u điểm của IP (nh cơ cấu định tuyến) và của ATM (nh
thông lợng chuyển mạch). Mô hình IP-over-ATM của IETF coi IP nh một lớp nằm trên
lớp ATM và định nghĩa các mạng con IP trên nền mạng ATM. Phơng thức tiếp cận xếp
chồng này cho phép IP và ATM hoạt động với nhau mà không cần thay đổi giao thức của
chúng. Tuy nhiên, cách này không tận dụng đợc hết khả năng của ATM. Ngoài ra, cách
tiếp cận này không thích hợp với mạng nhiều router và không thật hiệu quả trên một số
mặt. Tổ chức ATM-Forum, dựa trên mô hình này, đã phát triển công nghệ LANE và
MPOA. Các công nghệ này sử dụng các máy chủ để chuyển đổi địa chỉ nhng đều không
tận dụng đợc khả năng đảm bảo chất lợng dịch vụ của ATM.
Công nghệ MPLS (Multiprotocol label switching) là kết quả phát triển của nhiều công
nghệ chuyển mạch IP (IP switching) sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn nh của ATM để tăng
tốc độ truyền gói tin mà không cần thay đổi các giao thức định tuyến của IP.
MPLS tách chức năng của IP router ra làm hai phần riêng biệt: chức năng chuyển gói tin
và chức năng điều khiển. Phần chức năng chuyển gói tin, với nhiệm vụ gửi gói tin giữa
các IP router, sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn tơng tự nh của ATM. Trong MPLS, nhãn là
một số có độ dài cố định và không phụ thuộc vào lớp mạng. Kỹ thuật hoán đổi nhãn về
bản chất là việc tìm nhãn của một gói tin trong một bảng các nhãn để xác định tuyến của
gói và nhãn mới của nó. Việc này đơn giản hơn nhiều so với việc xử lý gói tin theo kiểu
thông thờng, và do vậy cải thiện khả năng của thiết bị. Các router sử dụng kỹ thuật này đ-
ợc gọi là LSR (Label switching router). Phần chức năng điều khiển của MPLS bao gồm
các giao thức định tuyến lớp mạng với nhiệm vụ phân phối thông tin giữa các LSR, và chủ
trên cơ sở công nghệ gói. Đề tài này sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt công
nghệ khi quyết định triển khai MPLS trong mạng thế hệ mới của Việt nam.
Báo cáo này trình bày những vấn đề cơ bản mà đề tài cần đề cập đến bao gồm:
Cơ sở công nghệ, quá trình hình thành và các hãng sản xuất thiết bị, các nhà khai thác:
phần này giới thiệu cơ sở công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức, quá trình chuyển
một gói thông tin từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS, quá trình phân phối nhãn
của các bộ định tuyến chuyển mạch nhãn LSR, các giao thức cơ bản sử dụng trong
mạng MPLS nh LDP, CR-LDP, RSVP...Phần này cũng giới thiệu các vấn đề có liên
quan nh vấn đề tiêu chuẩn hoá, nhóm làm việc của IETF về MPLS, các tiêu chuẩn
MPLS đã ban hành và giải pháp của một số hãng đặc biệt là Cisco Systems với Tag
Switching.
ứng dụng của MPLS trong mạng VPN: trình bày về mạng riêng ảo VPN, cách tổ chức
VPN -MPLS và những khái niệm có liên quan nh dịch vụ DiffSer...
Khả năng ứng dụng MPLS trong mạng Viễn thông của Tổng công ty BCVT Việt nam:
phần này trình bày mô hình tổng đài đa dịch vụ của MSF- một Diễn đàn chuyển mạch
đa dịch vụ của các nhà chế tạo thiết bị,các nhà khai thác viễn thông lớn trên thế giới-
khả năng triển khai MPLS qua mô hình tổng đài đa dịch vụ, các khối chức năng, các
giao diện và phân tách chức năng điều khiển của tổng đài MPLS. Báo cáo cũng phân
tích quá trình thiết lập một cuộc gọi qua tổng đài MPLS đợc điều khiển bởi softswitch.
Các phơng án ứng dụng trong mạng của Tổng công ty đợc đề xuất trên cơ sở phân tích
u nhợc điểm và đánh giá về khả năng triển khai. Các vấn đề cần quan tâm giải quyết
của từng phơng án cũng đợc đề cập chi tiết.
4
Quá trình thực hiện đề tài cũng là quá trình mà nhóm nghiên cứu phân tích và đóng góp
cho định hớng phát triển mạng viễn thông của VNPT đến 2010. Các giải pháp đa ra trong
báo cáo này đẫ cố gắng bám rất sát theo định hớng tổ chức đó.
Chúng tôi hy vọng tiếp tục nhận đợc những đóng góp nhiều hơn để đề tài có thể đạt đợc
kết quả tốt hơn.
5
(công nghệ lớp thứ 2). Các giao thức của hai lớp là hoàn toàn độc lập. Chúng đợc kết nối
với nhau bằng một loạt các giao thức (nh NHRP, ARP, v.v..). Cách tiếp cận này hình
thành tự nhiên và nó đợc sử dụng rộng rãi. Khi xuất hiện sự bùng nổ lu lợng mạng, phơng
thức này dẫn đến một loạt các vấn đề cần giải quyết.
Thứ nhất, trong phơng thức lai ghép, cần phải thiết lập các kết nối PVC cho tất cả các
nút nghĩa là để thiết lập mạng với tất cả các kết nối nh đợc biểu diễn trong hình I-1.
Điều này sẽ tạo ra hình vuông N. Khi thiết lập, duy trì và ngắt kết nối giữa các nút, các
mào đầu liên quan (nh số kênh ảo, số lợng thông tin điều khiển) sẽ chỉ thị về độ lớn
7
của hình vuông N của số các nút. Khi mạng mở rộng, mào đầu sẽ ngày càng lớn và tới
mức không thể chấp nhận đợc.
Phơng thức lai ghép phân chia toàn bộ mạng IPOA thành rất nhiều các LIS (Mạng con
IP Logic), thậm chí với các LIS trong cùng một mạng vật lý. Các LIS đợc kết nối nhờ
các bộ định tuyến trung gian đợc biểu diễn trong hình I-2. Cấu hình multicast giữa các
LIS khác nhau trên một mặt và giữa các bộ định tuyến này sẽ trở nên hạn chế khi
luồng lu lợng lớn. Cấu hình nh vậy chỉ áp dụng cho các mạng nhỏ nh mạng doanh
nghiệp, mạng trờng sở, v.v.. và không phù hợp với nhu cầu cho các mạng xơng xống
Internet trong tơng lai. Cả hai đều khó mở rộng.
Không phải tất cả mọi cân nhắc đợc đa ra trong quá trình thiết kế IP và ATM. Điều này
tạo nên sự liên kết giữa chúng phụ thuộc vào một loạt các giao thức phức tạp và các bộ
định tuyến xử lý các giao thức này. Sự phức tạp sẽ gây ra các hiệu ứng bất lợi đến độ tin
cậy của các mạng xơng sống.
Hình I- :Sự mở rộng mạng IPOA.
Các công nghệ nh MPOA, và LANE đã đợc hình thành để giải quyết các tồn tại này. Tuy
nhiên các giải pháp đó không thể giải quyết đợc tất cả các tồn tại. Trong khi ấy, nổi bật
lên trên một loạt các công nghệ IPOA khác với phơng thức lai ghép là chuyển mạch nhãn
theo phơng thức tích hợp. Chúng cung cấp giải pháp hợp lý để giải quyết những tồn tại
này. Các khả năng cơ bản mà MPLS cung cấp cho việc phân phối các dịch vụ thơng mại
IP bao gồm:
9
CIPOA thiết kế ATM bằng công nghệ mạng con IP logic, máy chủ và các bộ định tuyến
IP đặt trong các LIS khác nhau. Khi cả hai phần liên lạc đều nằm trong cùng một LIS
giống nhau, chúng có thể liên lạc trực tiếp. Nếu không chúng không thể liên lạc trực tiếp
với nhau và cần sử dụng thiết bị router trung gian.
Vì những nhợc điểm của CIPOA đợc đề cập ở trên, trong khi nó lại đợc sử dụng rất rộng
rãi, các nhà nghiên cứu đang xúc tiến để tìm kiếm một công nghệ IPOA hiệu quả hơn.
I.2.2. Toshiba's CSR
Toshiba đa ra mô hình chuyển mạch nhãn dựa trên công nghệ CSR (Cell Switching
Router). Mô hình này đầu tiên đề xuất ý tởng đặt cấu trúc chuyển mạch ATM dới sự điều
khiển của giao thức IP (nh giao thức định tuyến IP và giao thức RSVP) mà không phải là
giao thức ATM (Q.2931). Bởi vậy mô hình này có thể loại trừ toàn bộ thủ tục báo hiệu
cuộc gọi ATM và việc xắp xếp địa chỉ phức tạp. Mạng CSR có thể chấp nhận tổng đài
chuyển mạch ATM và các tổng đài chuyển mạch CSR tại cùng một thời điểm. CSR có thể
thay thế các bộ định tuyến giữa các LIS trong CIPOA, do đó giải phóng nhu cầu cho
NHRP.
CSR xem nh là công nghệ chuyển mạch nhãn đầu tiên đợc đệ trình tại cuộc họp IETF
BOF vào cuối năm 1994 và đầu năm 1995. Tuy nhiên, không có những nghiên cứu
chuyên sâu vào mô hình này. Định nghĩa của công nghệ này không rõ ràng và hoàn chỉnh.
Và các sản phẩm thơng mại cha có.
I.2.3. Cisco's Tag Switching
Chỉ một vài tháng sau khi Ipsion thông báo về công nghệ chuyển mạch IP, Cisco đã phổ
biến công nghệ chuyển mạch thẻ của mình. Mô hình này khác rất nhiều so với hai công
nghệ ở trên. Ví dụ, nó không sử dụng điều khiển luồng nhng sử dụng phơng thức điều
khiển theo sự kiện trong thiết lập bảng định tuyến, và nó không giới hạn với các ứng dụng
trong hệ thống chuyển mạch ATM. Không giống nh Ipsilon, Cisco tiêu chẩn hoá quốc tế
công nghệ này. Các tài liệu RFC đợc ban hành cho nhiều khía cạnh của công nghệ, và các
nỗ lực của Cisco đã mang lại kết quả trong việc thiết lập nên nhóm làm việc MPLS IETF.
Chính Cisco là nhà đi tiên phong và thiết lập nền móng cho các tiêu chuẩn MPLS. Các sản
IELF hoàn thiện các tiêu chuẩn MPLS và đa ra các tài liệu RFC trong năm 1999.
Chúng ta có thể thấy rằng MPLS đã phát triển rất nhanh chóng và hiệu quả. Điều này
cũng chứng minh những yêu cầu cấp bách trong công nghiệp cho một công nghệ mới.
Hầu hết các tiêu chuẩn MPLS hiện tại đã đợc ban hành dới dạng RFC.
Các tiêu chuẩn MPLS đợc xây dựng trên cơ sở một tập các RFC, khi toàn bộ các RFC đợc
hoàn thiện chúng sẽ đợc tập hợp với nhau cho phép xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn
MPLS.
I.3. Nhóm làm việc MPLS trong IETF
MPLS là một nhóm là việc IETF cung cấp các bản phác thảo về định tuyến, gửi chuyển
tiếp và chuyển mạch các luồng lu lợng qua mạng sử dụng MPLS.
Nhóm MPLS thi hành các chức năng sau:
11
Xác định cơ chế quản lý các luồng lu lợng của các phần tử khác nhau, nh các luồng lu
lợng giữa các phần cứng, các máy móc khác nhau hoặc thậm chí là các luồng lu lợng
giữa các ứng dụng khác nhau.
Duy trì tính độc lập của các giao thức lớp 2 và lớp 3.
Cung cấp các phơng tiện để sắp xếp các địa chỉ IP thành các nhãn có độ dài cố định và
đơn giản đợc các công nghệ gửi chuyển tiếp gói tin và chuyển mạch gói sử dụng.
Giao diện với các giao thức định tuyến có sẵn nh RSVP và OSPF.
Hỗ trợ IP, ATM, và các giao thức lớp 2 Frame-Relay.
Trong MPLS, việc truyền dữ liệu thực hiện theo các đờng chuyển mạch nhãn (LSP). Các
đờng chuyển mạch nhãn là dãy các nhãn tại mỗi nút và tại tất cả các nút dọc theo tuyến từ
nguồn tới đích. LSP đợc thiết lập hoặc là trớc khi truyền dữ liệu hoặc trong khi tìm luồng
dữ liệu. Các nhãn đợc phân phối sử dụng giao thức phân phối nhãn LDP hoặc RSVP hoặc
dựa trên các giao thức định tuyến nh giao thức BGP và OSPF. Mỗi gói dữ liệu nén và
mang các nhãn trong quá trình đi từ nguồn tới đích. Chuyển mạch tốc độ cao có thể chấp
nhận đợc vì các nhãn với độ dài cố định đợc chèn vào vị trí đầu của gói tin hoặc tế bào và
có thể đợc phần cứng sử dụng để chuyển mạch các gói tin một cách nhanh chóng giữa các
đờng liên kết.
Bảng I- : Các tiêu chuẩn IETF về MPLS.
STT Tên tiêu chuẩn, dự thảo tiêu chuẩn
Carrying Label Information in BGP-4
Definitions of Managed Objects for the Multiprotocol Label Switching, Label
Distribution Protocol (LDP)
LDP State Machine
RSVP-TE: Extensions to RSVP for LSP Tunnels
Constraint-Based LSP Setup using LDP
MPLS Traffic Engineering Management Information Base Using SMIv2
MPLS Support of Differentiated Services
Framework for IP Multicast in MPLS
MPLS Label Switch Router Management Information Base Using SMIv2
ICMP Extensions for MultiProtocol Label Switching
Applicability Statement for CR-LDP
Applicability Statement for Extensions to RSVP for LSP-Tunnels
LSP Modification Using CR-LDP
LSP Hierarchy with MPLS TE
Link Management Protocol (LMP)
Framework for MPLS-based Recovery
Multiprotocol Label Switching (MPLS) FEC-To-NHLFE (FTN) Management
Information Base Using SMIv2
13
Fault Tolerance for LDP and CR-LDP
Generalized MPLS - Signaling Functional Description
MPLS LDP Query Message Description
Signalling Unnumbered Links in CR-LDP
LDP Extensions for Optical User Network Interface (O-UNI) Signaling
Signalling Unnumbered Links in RSVP-TE
Requirements for support of Diff-Serv-aware MPLS Traffic Engineering
Màu đầu
IP
Đệm
MPLS
Mào đầu lớp 2
Nhãn (20)
COS (3) S (1) TTL (8)
trợ định tuyến phân cấp (một nhãn cho EGP và một nhãn cho IGP) và tổ chức đa LSP
trong một trung kế LSP.
LSR: Label switch Router: là thiết bị (Router hay Switch) sử dụng trong mạng MPLS để
chuyển các gói tin bằng thủ tục phân phối nhãn. Có một số loại LSR cơ bản sau: LSR
biên, ATM-LSR, ATM-LSR biên.
FEC: Forwarding Equivalence Classes, là khái niệm đợc dùng để chỉ một nhóm các gói
đợc đối xử nh nhau qua mạng MPLS ngay cả khi có sự khác biệt giữa các gói tin này thể
hiện trong mào đầu lớp mạng.
Bảng chuyển mạch chuyển tiếp nhãn: Label Switching Forwarding Table, là bảng
chuyển tiếp nhãn có chứa thông tin về nhãn đầu vào, nhãn đầu ra, giao diện đầu ra và địa
chỉ điểm tiếp theo.
Đờng chuyển mạch nhãn (LSP)
Là tuyến tạo ra từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS dùng để chuyển tiếp gói của một
FEC nào đó sử dụng cơ chế chuyển đổi nhãn (label-swapping forwarding).
Cơ sở dữ liệu nhãn LIB
Là bảng kết nối trong LSR có chứa giá trị nhãn/FEC đợc gán và cổng ra cũng nh thông
tin về đóng gói phơng tiện truyền.
Gói tin dán nhãn
Một gói tin dán nhãn là một gọi tin mà nhãn đợc mã hoá trong đó. Trong một vài trờng
hợp, nhãn nằm trong mào đầu của gói tin dành riêng cho mục đích dán nhãn. Trong các
trờng hợp khác, nhãn có thể dợc đặt chung trong mào đầu lớp mạng và lớp liên kết dữ liệu
miễn là ở đây có trờng có thể dùng đợc cho mục đích dán nhãn. Công nghệ mã hoá đợc sử
dụng phải phù hợp với cả thực thể mã hoá nhãn và thực thể giải mã nhãn.
ATM-LSR Sử dụng giao thức MPLS trong mảng điều khiển để thiết lập kênh
ảo ATM. Chuyển tiếp tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo
ATM-LSR biên Nhận gói có nhãn hoặc không nhãn, phân vào các tế bào ATM và
gửi các tế bào đến nút ATM-LSR tiếp theo.
NHận các tế bào ATM từ ATM-LSR cận kề, tái tạo các gói từ các
tế bào ATM và chuyển tiếp gói có nhãn hoặc không nhãn.
17
II.2. Hoạt động của MPLS
II.2.1. Các chế độ hoạt động của MPLS
Có hai chế độ hoạt động tồn tại với MPLS: chế độ khung (Frame- mode) và chế độ tế bào
(Cell-mode). Các chế độ hoạt động này sẽ đợc phân tích chii tiết trong phần sau đây.
.II.2.1.1. Chế độ hoạt động khung MPLS
Chế độ hoạt động này xuất hiện khi sử dụng MPLS trong môi trờng các thiết bị định
tuyến thuần nhất định tuyến các gói tin IP điểm- điểm. Các gói tin gán nhãn đợc chuyển
tiếp trên cơ sở khung lớp 2.
Cơ chế hoạt động của mạng MPLS trong chế độ hoạt động này đựoc mô tả trong hình dới
đây.
18
H×nh I- : M¹ng MPLS trong chÕ ®é ho¹t ®éng khung.
19
LSR biªn 1
POP
LSR biªn 2
POP
LSR lâi 2
LSR lâi 1
LSR lâi 3
Bíc 1: nhËn gãi IP
Quá trình chuyển tiếp một gói IP qua mạng MPLS đợc thực hiện qua một số bớc cơ bản
sau đây:
LSR biên lối vào nhận gói IP, phân loại gói vào nhóm chuyển tiếp tơng đơng FEC và
gán nhãn cho gói với ngăn xếp nhãn tơng ứng FEC đã xác định. Trong trờng hợp định
tuyến một địa chỉ đích, FEC sẽ tơng ứng với mạng con đích và việc phân loại gói sẽ
đơn giản là việc so sánh bảng định tuyến lớp 3 truyền thống.
LSR lõi nhận gói có nhãn và sử dụng bảng chuyển tiếp nhãn để thay đổi nhãn nội
vùng trong gói đến với nhãn ngoài vùng tơng ứng cùng với vùng FEC (trong trờng hợp
này là mạng con IP).
Khi LSR biên lối ra của vùng FEC này nhận đợc gói có nhãn, nó loại bỏ nhãn và thực
hiện việc chuyển tiếp gói IP theo bảng định tuyến lớp 3 truyền thống.
20
Trao đổi thông tin
định tuyến với
Router khác
Trao đổi gán nhãn
với Router khác
Mảng điều khiển tại nút
Giao thức định tuyến IP
Bảng định tuyến IP
Điều khiển định tuyến IP
MPLS
Cơ sở dữ liệu
nhãn LIB
Mảng số liệu tại nút
Cơ sở dữ liệu chuyển tiếp
(FIB)
Cơ sở dữ liệu nhãn
chuyển tiếp (LFIB)
Số liệu lớp 3 (Gói IP) Mào đầu lớp 2
Gói IP có nhãn
trong khung lớp 2
Nhãn MPLS
Sau khi nhận khung PPP lớp 2 từ router biên LSR biên số 1, LSR lõi 1 lập tức nhận
dạng gói nhận đợc là gói có nhãn dựa trên giá trị trờng giao thức PPP và thực hiện việc
kiểm tra nhãn trong cơ sở dữ liệu chuyển tiếp nhãn (LFIB).
Kết quả cho thấy nhãn vào là 30 đợc thay bằng nhãn ra 28 tơng ứng với việc gói tin sẽ
đợc chuyển tiếp đến LSR lõi 3.
Tại đây, nhãn đợc kiểm tra, nhãn số 28 đợc thay bằng nhãn số 37 và cổng ra đợc xác
định. Gói tin đợc chuyển tiếp đến LSR biên số 4.
Tại LSR biên số 4, nhãn 37 bị loại bỏ và việc kiểm tra địa chỉ lớp 3 đựoc thực hiện,
gói tin đợc chuyển tiếp đến nút router tiêp theo ngoài mạng MPLS.
Nh vậy quá trình chuyển đổi nhãn đợc thực hiện trong các LSR lõi dựa trên bảng định
tuyến nhãn. Bảng định tuyến này phải đợc cập nhật đầy đủ để đảm bảo mỗi LSR (hay
router) trong mạng MPLS có đầy đủ thông tin về tất cả các hớng chuyển tiếp. Quá trình
này xảy ra trớc khi thông tin đợc truyền trong mạng và thông thờng đợc gọi là quá trình
liên kết nhãn (label binding).
Các bớc chuyển mạch trên đợc áp dụng đối với các gói tin có một nhãn hay gói tin có
nhiều nhãn (trong trờng hợp sử dụng VPN thông thờng một nhãn đợc gán cố định cho
VPN server).
Quá trình liên kết và lan truyền nhãn
Khi xuất hiện một LSR mới trong mạng MPLS hay bắt đầu khởi tạo mạng MPLS, các
thành viên LSR trong mạng MPLS phải có liên lạc với nhau trong quá trình khai báo
thông qua bản tin Hello. Sau khi bản tin này đợc gửi một phiên giao dịch giữa 2 LSR đợc
thực hiện. Thủ tục trao đổi là giao thức LDP.
Ngay sau khi LIB (cơ sở dữ liệu nhãn) đựoc tạo ra trong LSR, nhãn đựoc gán cho mỗi
FEC mà LSR nhận biết đợc. Đối với trờng hợp chúng ta đang xem xét (định tuyến dựa
trên đích unicast, FEC tơng đơng với prefix trong bảng định tuyến IP. Nh vậy, nhãn đocự
gán cho mỗi prefix trong bảng định tuyến IP và bảng chuyển đổi chứa trong LIB. Bảng
ATM-LSR:
Là tổng đài ATM sử dụng giao thức MPLStrong mảng điều khiển và thực hiện
chuyển tiếp MPLS giữa các giao diện LC-ATM trong mảng số liệu bằng chuyển mạch tế
bào ATM truyền thống.
LSR dựa trên khung:
Là LSR chuyển tiếp toàn bộ các khung giữa các giao diện của nó. Router truyền thống
là một ví dụ cụ thể của LSR loại này.
Miền ATM-LSR:
Là tập hợp các ATM-LSR kết nối với nhau qua các giao diện LS-ATM.
ATM-LSR biên:
Là LSR dựa trên khung có ít nhất một giao diện LC-ATM.
23
Hình I- : Phân bổ nhãn trong mạng ATM-MPLS
25
LSR biên 1
POP
LSR biên 2
POP
ATM-LSR
lõi 2
ATM-LSR
lõi 1
ATM-LSR
lõi 3
Bước 1: gửi yêu cầu
cho giá trị nhãn X
đến nút cận kề
Bước 6 : Giá trị
VPI/VCI nội vùng được
Kết nối trong mảng điều khiển qua giao diện LC-ATM
Cấu trúc MPLS đòi hỏi liên kết thuần IP giữâ các mảng điều khiển của các LSR
cận kề để trao đổi liên kết nhãn cũng nh các gói điều khiển khác. Cơ cấu trao đổi thông
tin đợc thể hiện trong hình I-7.
Hình I- : Trao đổi thông tin giữa các LSR cận kề.
Trong chế độ hoạt động MPLS khung yêu cầu này đựoc đáp ứng một cách đơn giản
bởi các router có thể gửi, nhận các gói IP và các gói có nhãn qua bất cứ giao diện chế độ
khung nào dù là LAN hay WAN. Tuy nhiên tổng đài ATM không có khả năng đó.Để
cung cấp kết nối thuần IP giữa các ATM-LSR có 2 cách sau đây:
Thông qua kết nối ngoài băng nh kết nối Ethernet giữa các tổng đài.
Thông qua kênh ảo quản lý trong băng tơng tự nh cách mà giao thức của ATM Forum
thực hiện.Phơng án này có cấu trúc nh hình I-8 dới đây.
Kênh ảo điều khiển MPLS VC thông thờng sử dụng giá trị VPI/VCI là 0/32 và bắt buộc
phải sử dụng phơng pháp bọc LLC/SNAP cho các gói IP theo chuẩn RFC 1483. Khi triển
khai MPLS trong tổng đài ATM (ATM-LSR) phần điều khiển trung tâm của tổng đài
ATM phải hỗ trợ thêm báo hiệu MPLS và giao thức thiết lập kênh VC. Hai loại giao thức
này hoạt động song song (chế độ này đựoc gọi là chế độ hoạt động con thuyền trong đêm
26
LSR
Mảng số liệu
Mảng điều khiển
Giao thức định tuyến IP
Bảng định tuyến IP
Giao thức báo hiệu
MPLS
Gói có nhãn đến
Bảng chuyển tiếp nhãn
LSR
Mảng số liệu