Mở đầu
Sự phát triển của mạng Internet toàn cầu nói riêng và công nghệ thông
tin nói chung đã đem lại tiến bộ và phát triển vượt bậc của khoa học kĩ thuật.
Internet không những đã rút ngắn khoảng cách về không gian, thời gian mà còn
mạng lại cho mọi người, mọi quốc gia và cả thế giới những lợi ích to lớn. Tốc
độ phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin là một trong những lợi ích to
lớn, có vai trò quan trọng và tầm ảnh hưởng rộng khắp.
Với sự phát triển nhanh chóng của mạng Internet băng rộng còn làm thay
đổi cả về nội dung và kĩ thuật truyền hình. Hiện nay truyền hình có nhiều dạng
khác nhau: truyền hình số, truyền hình vệ tinh, truyền hình cáp, truyền hình
Internet và IPTV. IPTV đang là cấp độ cao nhất và là công nghệ truyền hình của
tương lai. Sự vượt trội trong kĩ thuật truyền hình của IPTV là tính năng tương
tác giữa hệ thồng với người xem, cho phép người xem chủ động về thời gian
và khả năng triển khai nhiều dịch vụ giá trị gia tăng tiện ích khác trên hệ thồng
nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Hiện nay trên thế giới đã có một số quốc gia triển khai thành công IPTV.
Theo các chuyên gia dự báo thì tốc độ phát triển thuê bao IPTV sẽ tăng theo
cấp số nhân theo từng năm. Ở Việt Nam hiện nay, một số nhà cung cấp đang
thử nghiệm dịch vụ IPTV trên mạng băng rộng ADSL.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ IPTV
1.1 Giới thiệu về truyền hình số theo giao thức IP:
IPTV là tên viết tắt của cụm từ Internet Protocol Television _ truyền hình
qua giao thức Internet.
ITPV theo định nghĩa chính thức như sau: IPTV được định nghĩa là các
dịch vụ đa phương tiện như truyền hình ảnh, tiến nói, văn bản, dữ liệu được
phân phối qua các mạng dựa trên IP mà được quan lý để cung cấp các cấp
chất lượng dịch vụ, bảo mật, tính tương tác, tính tin cậy theo yêu cầu. (theo
ITU – T FG IPTV)
Như vậy IPTV đóng vai trò phân phối các dữ liệu, kể cả hình ảnh, âm
thanh, văn bản qua mạng sử dụng giao thức Internet. Điều này nhấn mạnh vào
việc Internet không đóng vai trò chính trong việc truyền tải thông tin truyền hình
- Có thể truy xuất qua nhiều thiết bị: Việc xem nội dung IPTV bây giờ
không chỉ giới hạn ở việc sử dụng TV. Người dùng có thể sử dụng máy PC hay
thiết bị di động để truy xuất vào các dịch vụ IPTV.
1.3 Sự khác biệt giữa IPTV và truyền hình Internet:
Do đều được truyền trên mạng dựa trên giao thức IP, người ta đôi lúc hay
nhầm IPTV là truyền hình Internet. Tuy nhiên, 2 dịch vụ này có nhiều điểm khác
nhau:
• Các nền khác nhau:
Truyền hình Internet sử dụng mạng Internet công cộng để phân phát các nội
dung video tới người sử dụng cuối.
IPTV sử dụng mạng riêng bảo mật để truyền các nội dung video đến khách
hàng. Các mạng riêng này thường được tổ chức và vận hành bởi nhà cung cấp
dịch vụ IPTV.
• Về mặt địa lí
Các mạng do nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sở hữu và điều khiển không cho
phép người sử dụng Internet truy cập. Các mạng này chỉ giới hạn trong các khu vực địa lí
cố định.
Trong khi, mạng Internet không có giới hạn về mặt địa lí, người dùng Interet nào
cũng có thể xem truyền hình Internet ở bất kì đâu trên thế giới.
• Quyền sở hữu hạ tầng mạng
Khi nội dung video được gửi qua mạng Internet công cộng, các gói sử dụng
giao thức Internet mạng nội dung video có thể bị trễ hoặc mất khi nó di chuyển
3
trong các mạng khác nhau tạo nên mạng Internet công cộng. Do đó, nhà cung cấp
các dịch vụ truyền nhình ảnh qua mạng Internet không đảm bảo chất lượng truyền
hình như với truyền hình mặt đất, truyền hình cáp hay truyền hình vệ tinh. Thực tế
là các nội dung video truyền qua mạng Internet khi hiển thị trên màn hình TV có thể
bị giật và chất lượng hình ảnh thấp.
Trong khi, IPTV chỉ được phân phối qua một hạ tầng mạng của nhà cung
cấp dịch vụ. Do đó người vận hành mạng có thể điều chỉnh để có thể cung cấp
Việc truyền dẫn dịch vụ IPTV yêu cầu kết nối điểm – điểm. Trong trường
hợp triển khai IPTV trên diện rộng, số lượng các kết nối điểm – điểm tăng đáng
kể và yêu cầu độ rộng băng thông của cơ sở hạ tầng khá rộng. Sự tiến bộ trong
công nghệ mạng trong những năm qua cho phép những nhà cung cấp viễn
thông thỏa mãn một lượng lớn yêu cầu độ rộng băng thông mạng. Hạ tầng
truyền hình cáp dựa trên cáp đồng trục lai cáp quang và các mạng viễn thông
dựa trên cáp quang rất phù hợp để truyền tải nội dung IPTV.
• Thiết bị người dùng IPTV:
Thiết bị người dùng IPTV (IPTVCD) là thành phần quan trọng trong việc
cho phép mọi người có thể truy xuất vào các dịch vụ IPTV. Thiết bị này kết nối
vào mạng băng rộng và có nhiệm vụ giải mã và xử lý dữ liệu video dựa trên IP
5
gửi đến. Thiết bị người dùng hỗ trợ công nghệ tiên tiến để có thể tối thiểu hóa
hay loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của lỗi, sự cố mạng khi đang xử lý nội dung
IPTV.
• Mạng gia đình:
Mạng gia đình kết nối với một số thiết bị kĩ thuật số bên trong một diện
tích nhỏ. Nó cải tiến việc truyền thông và cho phép chia sẻ tài nguyên (các thiết
bị) kĩ thuật số đắt tiền giữa các thành viên trong gia đình. Mục đích của mạng
gia đình là để cung cấp việc truy cập thông tin, như là tiếng nói, âm thanh, dữ
liệu, giải trí, giữa những thiết bị khác nhau trong nhà. Với mạng gia đình, người
dùng có thể tiết kiệm tiền và thời gian bởi vì các thiết bị ngoại vi như là máy in
và máy scan, cũng như kết nối Internet băng rộng, có thể được chia sẻ một
cách dễ dàng.
1.5 Ưu điểm của IP và sự lựa chọn IP cho IPTV:
Truyền hình số được định thời một cách chính xác, là dòng dữ liệu liên
tục có tốc độ bit không đổi, thường hoạt động trên các mạng mà mỗi tín hiệu
được truyền đều phục vụ cho mục đích truyền hình. Trái với truyền hình, mạng
IP truyền những loại dữ liệu khác nhau từ rất nhiều nguồn trên một kênh chung,
bao gồm thứ điện tử, trang web, tín nhắn trực tiếp, tiếng nói qua IP (VoIP) mà
Theo nhóm nghiên cứu đa phương tiện (MRG ) trong “ Dự đoán IPTV
toàn cầu năm 2005-2009”: tốc độ phát triển IPTV rất cao: gần 1000%. Thị
trường IPTV trên thế giới phát triển ở mức tăng kép hàng năm 78% lên tới 36.9
triệu người sử dụng vào năm 2009. Doanh thu dịch vụ còn tăng nhanh hơn
trong cùng thời kì, từ 880 triệu USD tới 9.9 tỷ USD.
Theo Informa: tốc độ phát triển IPTV tăng nhanh vào 5 năm tới và đạt
25.9 triệu thuê bao IPTV vào cuối năm 2010.
Theo nguyên cứu TDG: Doanh thu IPTV toàn cấu sẽ đạt trên 17 tỷ USD
vào năm 2010.
Và trên thực tế, dịch vụ IPTV đã được triển khai và đạt dược thành công
ở nhiều như Italy ( Fast Web), Hồng Kông (PCCW), Canada ( Manitoba) và
Japan (Yahoo BB).
Tại thị trường Trung Quốc, IPTV bắt đầu được triển khai từ năm 2004
với 2 nhà cung cấp hàng đầu là CHINA Telecom và ZTE cùng với những nhà
cung cấp khác.
Số lượng thuê bao có thể tăng lến tới 3-6 triệu vào năm 2010.
IPTV được triển khai với băng thông 2M với kĩ thuật nén MPEG-4 part 10
cho TV thường và 6M đối với HDTV.
Các dịch vụ triển khai trên IPTV đến với người dùng:
7
+ LiveTV: truyền hình trực tuyến
+ VoD: truyền hình theo yêu cầu
+ RoD: Dịch vụ ghi hình theo yêu cầu
+ NVoD: Xem chương trình theo lịch phát sóng
CHƯƠNG 2:CHUẨN NÉN SỬ DỤNG TRONG IPTV
Nén cho phép các nhà cung cấp dịch vụ truyền các kênh hình và tiếng với
chất lượng cao qua mạng IP băng rộng. Do mắt người ko thể phân biệt được toàn
bộ các phần của hình ảnh. Do đó việc nén sẽ làm giảm độ lớn của tín hiệu ban đầu
bằng cách bỏ bớt các phần của hình ảnh.
2.1 Nén MPEG:
b.
Các loại block thành
phần màu mang thông tin về những màu khác nhau của hình ảnhtrg khi độ chói
mang thông tin về những phần màu đen hoặc trắng của hình ảnh.
Khi hoàn thành 2 phần trên, MPEG sẽ thực hiện 1 hàm toán được gọi là
biến đổi cosin rời rạc đối với mỗi block riêng biệt. Kết quả thu được là một ma trận
hệ số 8*8. DCT sẽ biến đổi sự khác nhau về không gian thành các tần số khác
nhau, nhưng không làm thay đổi các thông tin trong block, các blcok ban đầu sẽ
được tái tạo lại 1 cách chính xác sử dụng biến đổi ngược. Nguyên tắc thực hiện
hàm này bao gồm việc chia các block thành các phần tùy theo mức độ quan trọng.
Những phần quan trọng sẽ đươc giữ nguyên cho tới bước tiếp theo trong khi các
phần còn lại sẽ bị giảm bớt. Điều này sẽ đảm bảo rằng mắt người không chú ý tới
việc những phần không quan trọng của block bị bỏ bớt khi tốc bít bị hạn chế.
Bước tiếp theo trong MPEG là quá trình lượng tử hóa. Quá trình lượng tử hóa
dữ liệu số là quá trình làm giảm số lượng bít của các block. Mức lượng tử đối với mỗi
tìn hiệu video là rất quan trọng.
Khi tất cả các block trong frame đều đã đc nén lại, MPEG sẽ ngắt các frame
9
thành 1 dạng mới gồm nhiều block gọi l à macro block. Mỗi macro block có kích
thướ c 16 nhân 16 chứa các block độ chói và block thành phần màu. Nếu có sự
khác biệt giữa frame cuối cùng và frame hiện tại, các thiết bị nén MPEG sẽ chuyển
những block mới này tới 1 vị trí mới trên frame hiện tại. Điều này giúp không phải gửi
đi những hình ảnh mới hoàn toàn, do đó có thể tích kiệm băng thông. Có 2 cách để
thực hiện điều đó:
Nén theo không gian
là làm giảm các bít trên từng frame riêng biệt. điều này
có thể đạt được do các pixel luôn đứng cạnh nhau trong các frame thường có giá
trị giống nhau. Do đó thay về mã hóa từng pixel riêng biệt. Kĩ thuật nén theo không
gian này mã hóa sự khác biệt giữa các pixel cạnh nhau. Số lượng bít cần thiết để
mã hóa những khác biệt này ít hơn số lượng bít cần thiết để mã hóa từng pixel
frame là frame đc tạo thành từ việc kết hợp các thông tin từ cả I-frame và P-
frame. Mã hóa B-frame thì tương tự với P-frame, ngoại trừ các vecto chuyển
động phụ thuộc vào các vùng trong các khung tham khảo sau đó. B-frame
chiếm ít dung lượng hơn là I-frame va P-frame. Vì thế dòng Mpeg video gồm
nhiều B-frame thì chiếm dung lượng thấp hơn so với dòng chứa các frame I va
P. Thậm chí, B-frame giúp làm tối thiểu băng thông cần thiết đối với các dòng
MPEG video. Tuy nhiên, B-frame cũng có hạn chế đó là độ trễ. Do IPTVCD
phải kiểm tra 2 khung trước và sau trước khi tạo ra B-frame.
3 loại ảnh trên kết hợp với nhau tạo thành 1 chuỗi các frame đc gọi là nhóm
ảnh (GOP ). Mỗi nhóm ảnh bắt đầu bằng một frame I và có một số các frame B và P,
Mỗi nhóm ảnh MPEG có cấu trúc như sau:
[I B B B P B B B P B B B P B B B P]
Mỗi nhóm ảnh cần bắt đầu với một khung I, mặc dù kích thước của mỗi
nhóm ảnh là khác nhau, nhưng trung bình mỗi nhóm ảnh trong IPTV có khoảng 12
đến 15 frame. Mỗi cấu trúc của một nhóm ảnh thông thường có thể được miêu tả
bởi 2 thông số: N, số ảnh trong một nhóm và M, khoảng cách giữa các frame. Các
11
nhóm ảnh được chia thành 2 loại: nhóm đóng và nhóm mở. Với nhóm đóng, khung
B cuối cùng không yêu cầu khung I đầu tiên cho nhóm ảnh tiếp theo để giải mã,
trong khi với nhóm mở cần yêu cầu khung I cho nhóm ảnh tiếp theo. Các nhóm
ảnh sau đó được kết hợp với nhau để tạo thành dòng video. Mỗi dòng video bắt
đầu biết một đoạn mã, theo sau đó là một header và kết thúc với một mã duy nhất.
Thứ tự các khung được truyền đi trên mạng băng rộng thì khác với thứ tự
các khung trong chuối bit đầu vào của bộ mã hóa. Bởi vì bộ giải mã trong IPTVCD
cần xử lý các frame I và P trước khi tạo ra khung B. Mối quan hệ tổng thể giữa các
chuỗi ảnh, ảnh, các slice, các khối macro, các khối và các điểm ảnh được minh
họa ở hình sau:
Hình 2.1 Cấu trúc dòng MPEG video
Mặc dù MPEG-2 được sử dụng trong truyền hình cáp và vệ tinh, nhưng
MPEG-2 có nhưng hạn chế đối với các mạng có băng thông giới hạn.Do đó một
qui mô toàn cầu, duy nhất của ITU và ISO;
• Phần 11: Mô tả khung hình (Scene Description - được tách ra từ phần 1);
• Phần 12: Định dạng file truyền thông ISO (ISO Media File Format);
• Phần 13: Quản lý bản quyền nội dung IPMP (Intellectual Property
Management and Protection Extensions);
• Phần 14: Định dạng fille MP4 (trên cơ sở phần 12);
• Phần 15: Định dạng file AVC (cũng trên cơ sở phần 12);
• Phần 16: AFX (Animation Framwork eXtensions) và MuW (Multi-user
Worlds).
Công nghệ mã hoá video trong MPEG-4.
Chuẩn MPEG-4 là một chuẩn động dễ thay đổi: với MPEG-4, các đối
tượng khác nhau trong một khung hình có thể được mô tả, mã hoá và truyền đi
một cách riêng biệt đến bộ giải mã trong các dòng cơ bản ES (Elementary
Stream) khác nhau. Cũng nhờ xác định, tách và sử lý riêng các đối tượng (như
nhạc nền, âm thanh xa gần, đồ vật, đối tượng ảnh video như con người hay
13
động vật, nền khung hình…), nên người sử dụng có thể loại bỏ riêng từng đối
tượng khỏi khuôn hình. Sự tổ hợp lại thành khung hình chỉ được thực hiện
sau khi giải mã các đối tượng này.
Trên Hình 2.2 thể hiện một trường hợp điển hình của tổ hợp khuôn hình
MPEG-4, cho thấy nhiều đối tượng (bàn, quả cầu, bảng đen, người hướng dẫn
và audio) được đặt vào một hệ thống toạ độ không gian 3 chiều (3-D) đối với vị
trí người xem giả định. Các thiết bị mã hoá và giải mã video đều áp dụng sơ đồ
mã hoá như nhau cho mỗi đối tượng video VO (Video Object) riêng biệt (hình
2), nhờ vậy người sử dụng có thể thực hiện các hoạt động tương tác riêng với
từng đối tượng (thay đổi tỷ lệ, di chuyển, kết nối, loại bỏ, bổ xung các đối
tượng…) ngay tại vị trí giải mã hay mã hoá.
Hình 2.2 Tổ hợp khung hình trong MPEG-4
lý tất cả các phần tử ảnh pixels như là mã hoá video ảnh động. Do các quá
trình mã hoá đã được tối ưu hoá cho từng loại dữ liệu thích hợp, nên chuẩn
MPEG-4 sẽ cho phép mã hoá với hiệu quả cao tín hiệu ảnh video, audio và cả
các nội dung tổng hợp như các bộ mặt và cơ thể hoạt hình.
2.4 Tổng quan về MPEG-4 Part 10
Đầu năm 1998, 2 tổ chức ITU-T và VCEG đã cùng đưa ra một chuẩn nén
mới H.26L nhằm tăng gấp đôi hiệu suất nén . Do đó chuẩn nén này sẽ mở ra nhiều
ứng dụng mới như truyền hình qua mạng Internet, truyền hình di động và phát triển
các ứng dụng hiện có.
Cuối năm 2001, VCEG và MPEG đã thành lập JVT ( Joint Video Team) có
nhiệm vụ hoàn thành chuẩn nén mới và chính thức được thông qua với tên gọi là
MPEG-4 Part 10 hoặc H.264/AVC vào tháng 3 năm 2003.
16
2.4.1
Cấu trúc phân lớp của H.264/AVC
Với sự gia tăng các ứng dụng và dịch vụ trên nhiều mạng thì câu hỏi đặt
ra là làm thế nào quản lí được các ứng dụng đó. Do vậy, chuẩn H.264/AVC
phải có độ linh hoạt cao và có thể ứng dụng trên nhiều mạng khác nhau. Do đó,
chuẩn H.264/AVC được thiết kế theo phân lớp mã hóa video VCL ( Video
Coding Layer) và lơp NAL làm nhiệm vụ tương thích với môi trường mạng khác
nhau.
Hình 2.5: Cấu trúc phân lớp của H.264
a) Lớp mạng NAL ( Network Abstration Layer)
NAL có khả năng ánh xạ từ lớp VCL đến lớp truyền tải:
+ RTP/IP cho dịch vụ thời gian thực qua mạng Internet (conversational và
streaming).
+ Định dạng file: ISO MP4 cho lưu trữ và truyêng tải MMS.
+ H32x cho các dịch vụ đàm thoại có dây và không dây.
+ Dòng truyền tải MPEG-2 cho các dịch vụ quảng bá.
Gói NAL: dữ liệu video được mã hóa được tổ chức trong một đơn vị
phần chroma. Tất cả các mẫu macroblock luma hoặc chroma được dự đoán
theo không gian hoặc thời gian, và dự đoán tại chỗ hợp thành được truyền đi
nhờ dùng mã chuyển vị. Do vậy mỗi thành phần màu dự đoán tại chỗ được
chia nhỏ thành các khối. Mỗi khối được biến đổi nhờ dùng biến đổi nguyên (an
integer transform), và các hệ số biến đổi được lượng tử hóa và được truyền đi
18
bằngphương pháp mã hóa entropy.
Các macroblock được tổ chức thành các slice, biểu diễn các tập con của ảnh
đã cho và có thể được giải mã độc lập. Thứ tự truyền các macroblock trong
dòng bit phụ thuộc vào bản đồ phân phối Macroblock (Macroblock Allocation
Map) và không nhất thiết phải theo thứ tự quét. H.264 / AVC hỗ trợ năm dạng
mã hóa slice khác nhau. Đơn giản nhất là slice I (Intra), trong đó tất cả
macroblock được mã hóa không có tham chiếu tới các ảnh khác trong dãy
video. Tiếp theo là các slice P và B, ở đó việc mã hóa có tham chiếu tới các
ảnh trước nó (slice P) hoặc cả ảnh trước lẫn ảnh sau (slice B). Hai dạng slice
còn lại là SP (switching P) và SI (switching I), được xác định cho chuyển mạch
hiệu quả giữa các dòng bit được mã hóa ở các tốc độ bit khác nhau.
2.4.1 H.264 CODEC
Giống như các tiêu chuẩn nén trước đây ( ví dụ như MPEG-1, MPEG-2
và MPEG-4),H.264 không được định nghĩa là bộ CODEC ( một cặp encoder
và decoder) mà H.264 định nghĩa các cú pháp của luồng nén video. Trong
thực tế, bộ mã hóa và giải mã bao gồm các thành phần cơ bản như trong
hình 2.8 và hình 2.9. So với các chuẩn nén trước bao gồm các thành phần
như bộ dự đoán, biến đổi, lượng tử, mã hóa entropy, H.264 CODEC còn bao
gồm bộ lọc deblocking và có nhiều thay đổi quan trọng trong các chi tiết về
chức năng của các thiết bị.
Bộ mã hóa (hình 2.8) bao gồm 2 dòng dữ liệu , dòng forward (từ trái
sang phải) và dòng tái tạo (từ phải sang trái). Dòng dữ liệu trong bộ giải mã
được truyền từ phải sang trái trong hình 2.9.
19
Bên cạnh việc mã hóa và truyền tải các block trong macroblock, bộ mã hóa
còn giải mã ( tái tạo) chúng để làm tham khảo cho các dự đoán trong tương lai. Hệ
20
số X được giải lượng tử (Q
−1
) và biến đổi ngược (T
−1
) để thu được sụ khác biệt
block D
′
n . Block dự đoán PRED được cộng vào để tạo thành block tái tạo uF′n
.
Bộ lọc được ứng dụng để giảm ảnh hưởng của méo và các ảnh tham khảo dự
đoán được tạo từ 1 chuỗi các block F′n.
Mục đích chính của bộ giải mã dòng tái tạo trong bộ mã hóa là để chắc
chắn rằng cả bộ mã hóa và giải mã đều sử dụng các tham số khung đã xác định
để tạo ra dự đoán P. Nếu không có các tham số này, dự báo P ở bộ mã hóa và
giải mã sẽ không được xác định, dẫn đến lỗi giữa bộ mã hóa và giải mã.
Hình 2.9 Bộ giải mã
Bộ giải mã
Bộ giải mã nhận được các dòng bit được nén từ NAL. Các thành phần dữ
liệu được giải mã entropy để tìm ra hệ số lượng tử X. Sử dụng giải lượng tử và
biến đổi ngược để thu được Dn. Sử dụng các thông tin header đươc giải mã từ
các dòng bit, bộ mã hóa tạo ra block dự đoán, giống hệt với PRED được tạo ra ở
bộ mã hóa. PRED được cộng với
D
′
n để tạo ra uF′n
chiếu bù chuyển động và thứ tự các ảnh thể hiện có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Tuy nhiên, chuẩn nén H.264 đã khắc phục nhược điểm này bằng cách cho
phép bộ giải nén lựa chọn thứ tự các ảnh tham chiếu.
22
Hình 2.11: Tham chiếu đa ảnh
d) Dự đoán trong ảnh:
Các mẫu của một macroblock được dự đoán bằng cách chỉ sử dụng phần
thông tin của macroblock được truyền đi trong một ảnh.
Trong chuẩn nén H.264/AVC, có hai loai dự đoán trong ảnh cho thành phần
chói Y. Loại thứ nhất là intra 4x4 và loại thứ 2 là intra 16x16. Trong INTRA 4x4,
các phần tử ảnh có kích thước 16x16 được chia thành 16 phần có kích thước 4x4,
việc dự đoán được thực hiên với từng phần riêng biệt. Có 9 mode dự đoán tùy
chọn đối với các block thành phần chói Y kích thước 4x4, 4 mode đối với thành
phần chói Y kích thước 16x16, 4 mode cho thành phần màu Cr, Cb. Bộ nén sẽ lựa
chọn mode dự đoán sao cho sự khác biệt giữa P và block được mã hóa là nhỏ
nhất.
c mode dự đoán thành phần chói Y 4x4
Có 9 mode dự đoán thành phần chói Y kích thước 4x4, đó là:
Mode 0: dự đoán theo chiều dọc
Mode 1: dự đoán theo chiều ngang
Mode CD: dự đoán dựa trên trung bình tất cả các mẫu xung quanh từ bên
trái và từ trên của khối dữ liệu hiện tại.
Mode 3: dự đoán dự trên các mẫu có độ nghiêng 45 độ từ phải sang trái.
Mode 4: dự đoán dự trên các mẫu có độ nghiêng 45 độ từ trái sang phải.
Mode 5 : sử dụng phép ngoại suy với góc có độ nghiêng 26.6 độ so với
chiều dọc.
Mode 6: sử dụng phép ngoại suy với góc có độ nghiêng 26.6 độ so với
chiều ngang
23
Mode 7: sử dụng phép ngoại suy với góc có độ nghiêng 26.6 độ so với