ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ
Đề tài:
Thu-Chi của ngân sách nhà nước và biện pháp cân đối ngân sách của nhà nước
Huế, 01/2010
MỞ ĐẦU
Trong lịch sử loài người, Nhà Nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội. Nhà
Nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà Nước để làm
phương tiện vật chất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng
kinh tế, xã hội của Nhà Nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà Nước tham gia vào quá trình phân phối
tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá- tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối
như: thuế bằng tiền, vay nợ…được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có: NSNN. Như vậy,
NSNN là ngân sách của Nhà Nước, hay Nhà Nước là chủ thể của ngân sách đó Với mục tiêu “quản
lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân sách Nhà Nước (NSNN) lành mạnh,
củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà Nước; tăng tích luỹ để
thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại”,.
I. Vị trí, vai trò của thu-chi ngân sách nhà nước:
* Vai trò ngân sách nhà nước:
-Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất,
điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội
-Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản
xuất kinh doanh và chống độc quyền.
-Đầu tiên , chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính
phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định
và bền vững.
1.Vị trí và vai trò của hoạch động chi NSNN:
a.Vị trí:
-Chi NSNN luôn gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-chính trị-xã hội
-Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản
xã hội
-Chi bảo đảm xã hội, bao gồm:
+Giáo dục
+Y tế
+Công tác dân số
+Khoa học và công nghệ
+Văn hoá
+Thông tin đại chúng
+Thể thao
+Lương và trợ cấp xã hội …
Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước đựoc chia ra:
-Tiêu dùng cuối cùng (của Nhà nước): các khoản chi thường xuyên cho mua sắm của các cơ quan Nhà
nước
-Đầu tư kết cấu hạ tầng: xây dựng cơ bản và khấu hao tài sản
-Phân phối và tái phân phối xã hội: lương công nhân viên chức và các khoản trợ cấp xã hội, hưu trí.
2.Vị trí và vai trò của hoạch động thu NSNN:
a.Vị trí :
-Cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng nhiện vụ và quyền lực chính trị của nhà
nước.Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước là điều kiện xuất hiện nhưng khoản thu của NSNN
-Các khoản thu nhà nước là tiền đề vật chất không thể thiếu được thực hiện chức năng ,nhiệm vụ nhà
nước
b.Vai trò:
-Thu để tạo quỹ cho NSNN
-Tạo nguồn ngân quỹ không chỉ cho các khoản chi NSNN mà còn nhằm vào mục đích xã hội khác
như:trợ cấp thiên tai,cứu tế...
-Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu
-Thu NSNN có tác dụng kiềm chế và đẩy lùi lạm phát
VD : Khi lạm phát xãy ra ,giá tăng làm cung-cầu mất cân đối,chính phủ có thể tăng thuế tiêu dùng,giảm
thuế đầu tư...
t
ự,
ngườ
i
Pháp
cho
rằng:
NSNN
là
toàn
bộ
tài li
ệu
kế
t
o
á
n
mô
t
ả
và
tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định.
2. Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước
Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước là bảng phân loại các khoản thu, chi ngân sách nhà nước theo hệ
thống tổ chức nhà nước, ngành kinh tế và các mục đích kinh tế - xã hội do nhà nước thực hiện, nhằm
phục vụ cho công tác lập, chấp hành, kế toán, quyết toán ngân sách nhà nước và phân tích các hoạt động
kinh tế, tài chính thuộc khu vực nhà nước.
3.Thu NSNN
Thu ngân sách nhà nước là quyền lực của nhà nước để tập trung 1 phần thu nhập kinh tế vào tay nhà
nước dể hình thành nên quỹ tiền tệ
Các mục thu ngân sách nhà nước quy định trên cơ sở chế độ, chính sách thu ngân sách nhà nước.
4.Chi NSNN
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các
nhiệm vụ của chính phủ. Thực chất của nó là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ
của chính sách.
Các mục chi ngân sách nhà nước quy định trên cơ sở chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách
nhà nước.
5.Một số khái niệm khác:
Thâm hụt ngân sách (bội chi) trong kinh tế vĩ mô và kinh tế học cộng đồng là tình trạng các khoản chi
của NSNN (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách.
Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư NS (bội thu)
NỘI DUNG CHÍNH
I. Tình hình ngân sách nhà nước giai đoạn trước năm 2003
1. Chi ngân sách nhà nước
Trong những năm đầu thập niên 90, diễn biến NSNN khá thất thường. Tổng chi NSNN chiếm 20,5%
GDP năm 1990 đã giảm xuống còn 15,9% năm 1992. Sau đó tăng đột ngột lên 29,4% năm 1993. Từ
năm 1994, tổng chi so với GDP lại giảm liên tục, từ 29,4% (năm 1993) xuống còn 22.7% GDP (năm
1998), tương ứng với việc cắt giảm 1/5 tổng chi NSNN. Nhưng xét bình quân giai đoạn 1991-1995 đạt
24,5% GDP và khoảng 24,1% GDP giai đoạn 1996-2001 là tăng mạnh so với mức bình quân 19,7% giai
đoạn 1986-1990.
Giai đoạn 1991 – 2001, chi NSNN được kết cấu lại theo hướng chi trên cả ba lĩnh vực chi đầu tư, chi
đã bãi bỏ 140 khoản phí thuộc các bộ ngành TW và 105 khoản phí thuộc các địa phương đã làm giảm
chi phí xã hội khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Thu NSNN năm 2004 dự kiến đạt 166.900 tỷ đồng, vượt
dự toán 11,8%, tăng 17,4% so với năm 2003 và tương đương 22,7% GDP. Trong số tăng thu, số tăng từ
dầu thô, nhà đất chiếm tỷ trọng lớn.
3.Những thách thức trong cân đối ngân sách thời gian qua
Năm 1996 luật NSNN ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phương pháp điều hành tài
khóa. Nhìn chung chúng đã giúp cải thiện rất lớn tình hình ngân sách những năm qua. Tuy vậy, liên tiếp
từ năm 1999 đến nay, bội chi ngân sách tính trên GDP tăng liên tục, năm 1999 là 4,9%; năm 2000 là
5%, điều này cũng cho thấy chính sách nới lỏng tài khóa đã được thực hiện. Nhưng xét về hình thức thì
lại xuất hiện mâu thuẫn giữa tốc độ tăng chi đầu tư xây dựng cơ bản chậm, tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp
với chủ trương tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển nhằm kích thích tổng cầu nền kinh tế, thúc đẩy
tăng trưởng. Chính những bất cập trong lĩnh vực đầu tư và cấp phát vốn đầu tư từ NSNN đã cho thấy
những dấu hiệu cảnh báo cần thận trọng khi sử dụng chính sách tài khóa nới lỏng. Tăng mức chi ngân
sách cho đầu tư phát triển là chủ trương đúng, là biện pháp kinh tế có thể làm tăng tổng cầu, thúc đẩy
tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng bội chi tăng thêm phải được sử dụng cho những công trình có hiệu
quả, tạo sản phẩm, hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế, vừa tích luỹ tài chính tạo nguồn để trả nợ, bù đắp
bội chi; hoặc phải sử dụng bội chi để đầu tư vào những công trình xây dựng cơ bản tạo môi trường
thuận lợi cho kinh doanh. Tuy nhiên, khi quan sát diễn biến thực tế chi NSNN thời gian qua chúng ta có
thể nhận thấy chính sách tài khoá được điều hành dưới áp lực chống lạm phát. Do đối mặt với những
khó khăn về nguồn thu, tiềm lực tài chính, tâm lý lo ngại nguy cơ giá cả tăng vọt không kiểm soát được,
tình trạng lãng phí. Ngân sách đã được điều hành theo chủ trương thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm,
cắt giảm chi thường xuyên.
Trong giai đoạn 2001-2003 bội chi NSNN năm 2001 là -4,67%, sang năm 2002 có tăng đôi chút là
-4,96% và trong năm 2003 là -5,0% so với GDP, như vậy mức thâm hụt ngân sách trong những năm gần
đây đều nằm trong phạm vi cho phép (là mức đã được Quốc hội thông qua) và không gây mất ổn định
kinh tế vĩ mô. Để bù đắp cho các khoản thiếu hụt này Chính phủ đã vay nợ trong nước bằng cách phát
hành trái phiếu Chính phủ chủ yếu khoảng 60% và bù đắp bội chi từ bên ngoài ở mức xấp xỉ 39%-40%.
Bên cạnh việc đạt được những kết quả tích cực, thu chi NSNN vẫn còn không ít tồn tại, cần có những
thay đổi cơ bản.
° Tình trạng thất thu còn khá phổ biến, hiệu quả kiểm soát nguồn thu ngân sách còn hạn chế. Thu NSNN
Tổng số chi cân đối ngân sách T.Ư là 142.527 tỉ đồng. Sau khi bổ sung cân đối, bổ sung có mục tiêu cho
ngân sách địa phương thì tổng số thực chi cân đối ngân sách T.Ư là 106.890 tỉ đồng, chiếm 57% tổng số
chi cân đối ngân sách nhà nước. Tổng số thực chi cân đối ngân sách các địa phương (bao gồm cả bổ
sung từ ngân sách T.Ư cho ngân sách địa phương) là 80.780 tỉ đồng, chiếm 43% tổng số chi cân đối
ngân sách nhà nước.
Chi 6.600 tỉ cho cải cách tiền lương
Dự toán chi ngân sách T.Ư (kể cả bằng nguồn vay nợ, viện trợ) theo lĩnh vực năm 2004 như sau: tổng số
chi cân đối ngân sách T.Ư 142.527 tỉ đồng. Trong đó chi ĐTXDCB 28.992 tỉ đồng; chi bổ sung quĩ hỗ
trợ xuất khẩu, thưởng xuất khẩu, hỗ trợ xuất khẩu cho một số mặt hàng quan trọng 300 tỉ đồng; chi cho
vay tôn nền nhà và làm nhà ở đồng bằng sông Cửu Long, cho vay làm nhà đồng bào Tây nguyên 300 tỉ
đồng. Đầu tư cho Tổng công ty Dầu khí 2.500 tỉ đồng; chương trình 135: 1.550 tỉ.
Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh: 48.529 tỉ đồng. Trong đó, chi cải cách tiền
lương: 6.600 tỉ, quản lý hành chính 3.154 tỉ, tinh giản biên chế: 300 tỉ; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề:
4.558 tỉ; chi phát thanh, truyền hình: 493 tỉ; chi khoa học, công nghệ: 1.732 tỉ; chi lương hưu và bảo
đảm xã hội: 14.262 tỉ đồng.
2. Tổng kết thu chi ngân sách nhà nước 2005:
So với kết quả tạm tính vào cuối năm 2005, báo cáo mới đây của Chính phủ
cho biết, tình hình cân đối thu chi ngân sách đầy đủ của năm 2005 và cả
nhiệm vụ ngân sách Nhà nước năm 2006 đã có những dấu hiệu tích cực trên
nhiều mặt. Trên cơ sở cân nhắc kết quả, khả năng và tình hình mới, Chính
phủ đã đề nghị tăng nhiều khoản thu chi trong quyết toán, nhiệm vụ ngân
sách Nhà nước trong giai đoạn tới.Theo báo cáo, kết quả thực tế thu cân đối
ngân sách Nhà nước năm 2005 là 217.080 tỷ đồng, vượt hơn 7.000 tỷ đồng
so với mức báo cáo và vượt 18,6% (34.080 tỷ đồng) so với dự toán.
Cụ thể, thu nội địa (không kể dầu thô) đạt 115.205 tỷ đồng vượt gần 10 tỷ
đồng so với dự toán. Đặc biệt, thu dầu thô dự toán chỉ 38.000 tỷ, báo cáo
55.500 tỷ nhưng thực tế đạt tới 61.533 tỷ, tăng 31,7% so với thực hiện năm
2004.
Các khoản thu khác cũng đều vượt tương tự: thu từ hoạt động xuất nhập
khẩu đạt 38.000 tỷ, vượt 300 tỷ đồng so với dự toán và báo cáo, thu viện trợ