Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời nói đầu
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội lớn của Đảng và Nhà n-
ớc đợc tổ chức thực hiện nhằm tạo lập một nguồn tài chính ổn định từ sự
đóng góp của cộng đồng, của các tổ chức, đơn vị và cá nhân tham gia BHYT
để chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng về tài chính của mỗi ngời
khi không may bị ốm đau. BHYT đợc xác định nh là một cơ chế tài chính
nhằm thực hiện quá trình xã hội hoá công tác y tế, đảm bảo công bằng và
nhân đạo trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Trải qua hơn
15 năm thực hiện, từ khi tổ chức các mô hình thí điểm vào những năm 1989
1991 , chính sách BHYT ở Việt Nam đã đợc hình thành, phát triển và thu
đợc những thành tựu rất đáng khích lệ. BHYT đã đi từ không đến có, ngày
càng phát triển cả về số lợng, chất lợng và đang trong quá trình tiến tới
BHYT toàn dân theo tinh thần nghị quyết đại hội toàn quốc lần thứ IX của
Đảng.
Thực tế cho thấy, chính sách BHYT ở Việt Nam đã có những bớc phát
triển đáng kể và đang hoàn thiện dần về mặt pháp lý qua các giai đoạn với
việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT kèm theo các Nghị định số
299/HĐBT ngày 15/8/1992; Nghị định số 58/1998/NĐ - CP ngày 13/8/1998
và Nghị định số 63/2005/NĐ - CP ngày 16/5/2005. Theo đó, các loại hình tổ
chức thực hiện BHYT, các nhóm đối tợng tham gia chính sách BHYT cũng
nh quyền lợi của ngời bệnh có thẻ BHYT đã ngày càng đợc phát triển, mở
rộng. Sự gia tăng, mở rộng của BHYT làm cho nguồn thu của BHYT tăng
lên. Nhng bên cạnh đó số chi BHYT cũng tăng theo, không những thế chất l-
ợng BHYT ngày càng nâng cao và mức chi trả BHYT ngày càng tăng. Việc
mở rộng phạm vi chi trả, nhất là khi thanh toán cho những ca khám chữa
bệnh sử dụng kỹ thuật cao sẽ làm cho số chi của BHYT tăng cao. Và nh vậy
nguy cơ đứng trớc khả năng không thể cân đối đợc quỹ BHYT là hoàn toàn
có thể sảy ra.Trong khi quỹ BHYT là rất quan trọng để BHYT thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình.
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
ời đợc tuyên ngôn nhân quyền khẳng định, đó là quyền đợc chăm sóc y tế.
Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ không phải thuần tuý chỉ là trách nhiệm của
mỗi cá nhân riêng lẻ, mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng.Bởi lẽ, nguy
cơ về bệnh tật có thể đến với bất kể ai, không phân biệt quốc gia, dân tộc, và
hơn thế nữa không ai có thể một mình đơn phơng chống lại bệnh tật. Lẽ đơng
nhiên việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ trớc tiên thuộc về mỗi cá nhân, nhng
vẫn cần sự trợ giúp mang tính xã hội, có tính tổ chức cao, đó là sự trợ giúp
mang tính Nhà nớc. ở đó Nhà nớc giữ vai trò quan trọng, là ngời tổ chức,
quản lý và bảo trợ.
Thứ hai, sự liên kết, chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng giữa các thành
viên trong xã hội: Bên cạnh sự trợ giúp mang tính Nhà nớc, tính xã hội của
BHYT còn thể hiện ở sự chia sẻ, liên kết của chính các thành viên trong xã
hội thông qua đóng góp dựa trên thu nhập. Các thành viên trong xã hội tham
gia đóng góp một phần thu nhập vào một quỹ chung để chăm sóc y tế cho
chính mình và các thành viên khác. Bệnh tất và những rủi ro về sức khoẻ
không phải lúc nào cũng xuất hiện cùng một lúc với tất cả mọi ngời, chúng
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cũng không xuất hiện giống nh nhau ở mỗi ngời. Thực tế cho thấy có ngời
ốm lúc này, ngời ốm lúc khác, có ngời bệnh nặng, có ngời bệnh nhẹ, có ngời
hay ốm, có ngời ít ốm và bệnh tật thờng đến bất ngờ không báo trớc. Nếu cứ
để ai có bệnh ngời đó tự chống đỡ sẽ gây khó khăn cho họ vì không đủ tiền
để trang trải. Thực tế này đòi hỏi cần một sự liên kết mang tính cộng đồng
rộng rãi để chia sẻ rủi ro bệnh tật. Một quỹ chung cho chăm sóc sức khoẻ sẽ
điều tiết để nhiều ngời cha hoặc không ốm đau chăm sóc cho ngời ốm, ngời
ốm nhẹ giúp ngời ốm nặng.
Tính xã hội tơng trợ cộng đồng nhân văn của BHYT còn thể hiện ở sự
đoàn kết xã hội trong chăm sóc y tế. Chăm sóc y tế thông qua BHYT không
phân biệt mức đóng góp nhiều hay ít, không phân biệt thành phần xã hội, tôn
hiểm xã hội, có quỹ BHYT hình thành từ phí bảo hiểm do chủ sử dụng lao
động, quỹ BHXH và ngời lao động chi trả. Việc hình thành quỹ BHYT nhằm
mục đích cơ bản là phục vụ lợi ích thiết thân của ngời tham gia BHYT là khi
đau ốm phải đợc cơ quan BHYT trợ cấp kịp thời từ nguồn quỹ đóng góp.
Cũng nh ở các nớc khác, chế độ BHYT ở Việt Nam ra đời nhằm đáp
ứng các chức năng sau:
- Tạo nên nguồn tài chính bổ sung cho nguồn tài chính của hệ thống y
tế nhà nớc. Đây là mục tiêu huy động nguồn tài chính để hình thành quỹ tập
trung của BHYT, với mức phí đóng góp đợc chia sẻ giữa ngời lao động và
chủ sử dụng lao động. Những đóng góp này sẽ đợc chi trả một phần cho các
cơ sở y tế nhà nớc. Nguồn thu từ ngời bệnh BHYT đợc sử dụng cùng với
nguồn ngân sách hiện đang phân bổ từ Trung ơng đến địa phơng cho các cơ
sở y tế để nâng cao chất lợng dịch vụ y tế cho ngời tham gia BHYT. Với
nguồn tài chính này các dịch vụ y tế sẽ đợc thuận lợi và có hiệu quả hơn.
- Chức năng thứ hai là giảm bớt gánh nặng về tài chính cho ngời ốm
trong các trờng hợp bệnh nặng khi sử dụng các dịch vụ y tế có chi phí cao.
BHYT thực hiện việc bảo đảm giảm bớt đợc gánh nặng về tài chính bằng
cách cho phép cá nhân và gia đình đóng góp một khoản tiền để giảm bớt đợc
thiệt hại về tài chính khi ốm đau, bệnh nặng.
- Chức năng cuối cùng của BHYT là góp phần thực hiện công bằng
trong chăm sóc sức khoẻ và tái phân phối thu nhập. Với một số lớn nguời
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tham gia đóng góp, mỗi ngời tham gia BHYT sẽ đợc hởng phúc lợi tối đa với
mức đóng góp nhỏ bé. Một điểm về công bằng nữa là việc thu phí giữa các
đối tợng thuộc những tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ví dụ việc xây dựng
mức phí theo tỷ lệ % thu nhập tạo nên sự hỗ trợ bù trừ giữa ngời nghèo và ng-
ời giàu. ở đây cũng có sự hỗ trợ giữa ngời có rủi ro cao và thu nhập thấp với
ngời có rủi ro thấp và thu nhập cao.
đối tợng nên mở rộng việc thực hiện BHYT cho cả các đối tợng thuộc diện
ngời nghèo.
Nhóm đối tợng chính sách xã hội: Đã thực hiện BHYT cho tất cả đối t-
ợng này , riêng cựu chiến binh do mới có quy định nên sẽ thực hiện trong
năm 2006, kinh phí mua BHYT toàn bộ do nguần ngân sách Nhà nớc cấp với
mức bằng 3% mức lơng tối thiểu chung ( trừ số ngời hởng lơng hu, trợ cấp
BHXH đóng bằng 3% lơng hu, trợ cấp hàng tháng và do quỹ BHXH đảm bảo
).
Nhóm đối tợng học sinh, sinh viên: Tiếp tục thực hiện theo hình thức
BHYT tự nguyện đối với nhóm học sinh, sinh viên đến hết năm 2006
2007 sẽ có tổng kết, đánh giá và trình Chính phủ thực hiện BHYT bắt buộc
đối với nhóm đối tợng này từ năm học 2007 2008 . Kinh phí mua BHYT
do cha mẹ học sinh đóng góp và hỗ trợ của ngân sách Nhà nớc với mức tối
thiểu là 30%.
Nhóm đối tợng ngời ăn theo ngời có thẻ BHYT bắt buộc : Trong nhóm
đối tợng này đối với ngời ăn theo của cán bộ sĩ quan lực lợng vũ trang thực
hiện BHYT bắt buộc đầy đủ từ năm 2006. Các đối tợng khác còn lại, năm
2006 tiếp tục thực hiện BHYT tự nguyện, năm 2007 tổng kết đánh giá để
trình Chính phủ quy định là đối tợng thuộc BHYT bắt buộc; trớc hết là ngời
ăn theo của cán bộ, công chức và ngời lao động trong các doanh nghiệp, sau
đó sẽ mở rộng ra các đối tợng khác. Kinh phí mua BHYT chủ yếu do ngời
đang tham gia BHYT mua cho ngời ăn theo với mức bằng 5% mức tiền lơng
tối thiểu, trong quy định đơn vị sử dụng lao động của ngời đang làm việc hỗ
trợ 30%.
Nhóm đối tợng lao động nông thôn và ngời ăn theo họ : Dự kiến từ 2006
đến năm 2010 tăng dần theo hình thức tự nguyện mỗi năm khoảng 20% và
đến năm 2010 thực hiện 100% số ngời tham gia BHYT bắt buộc. Tuy nhiên
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.Bảo hiểm y tế tự nguyện
Theo Điều lệ BHYT hiện hành, mọi đối tợng đều có thể tham gia BHYT
tự nguyện. Trong thời gian qua, có những nhóm đối tợng sau đây tham gia
BHYT tự nguyện:
- Học sinh, sinh viên.
- Nhân dân nông thôn (Nông dân).
- Ngời nghèo.
- Nhân dân thành thị.
- Gia thuộc ngời lao động.
- Diện chính sách xã hội (nhân đạo xã hội).
VI. Cơ chế vận hành của BHYT:
Từ năm 1992 đến nay, chính sách BHYT ở Việt Nam đã đợc tổ chức
thực hiện và phát triển qua ba giai đoạn gồm:
1. Giai đoạn thứ nhất( từ năm 1992 đến tháng 8/1998):
Trong giai đoạn này, chính sách BHYT đợc tổ chức thực hiện theo
các quy định của Điều lệ BHYT ban kèm nghị định số 299/HĐBT ngày
18/8/1992 của Hội đồng Bộ trởng ( nay là Chính phủ). Theo đó quỹ BHYT
đợc tổ chức, quản lý theo địa bàn hành chính, cơ quan BHYT là một đơn vị
trực thuộc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng và lãnh đạo bốn
ngành có quỹ BHYT( Dầu khí, Than, Cao su, GTVT), đồng thời chịu sự
quản lý, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của BHYT Việt Nam thuộc Bộ Y
tế.
2. Giai đoạn hai( từ 8/1998 đến năm 2002):
Chính sách BHYT đợc tổ chức và quản lý tập trung thống nhất thành
một hệ thống từ Trung ơng đến địa phơng, bao gồm cả BHYT 4 ngành theo
các quy định của điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số
58/1998/NĐ - CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ. Quỹ BHYT đợc quản lý
tập trung tại BHYT Việt Nam thuộc Bộ Y tế đồng thời BHYT Việt Nam
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
Chính phủ.
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4.Về nguồn thu và các khoản chi
Nguồn thu:
Nguồn thu phụ thuộc chủ yếu vào số lợng thành viên đóng góp và mức
độ đóng góp của các thành viên đó.
Thông thờng , với mục đích nhân đạo, không đặt mục đích kinh doanh
lên hàng đầu, quỹ BHYT đợc hình thành chủ yếu từ nguần đóng góp của ngời
tham gia bảo hiểm, gọi là phí bảo hiểm.Nếu ngời tham gia BHYT là ngời lao
động và ngời sử dụng lao động thì quỹ BHYT đợc hình thành từ sự đóng góp
của cả hai bên. Thông thờng ngời sử dụng lao động đóng 50-66% mức phí
bảo hiểm, ngời lao động đóng 34-50% mức phí bảo hiểm. Hay nói cách khác
ngời sử dụng lao động phải đóng 2% quỹ lơng còn ngời lao động phải đóng
1% quỹ lơng.
Ngoài nguần thu từ quỹ lơng thì quỹ BHYT còn có nguần thu từ
Ngân sách nhà nớc cấp và nguần thu từ hoạt động đầu t.
Các khoản chi:
Chi thanh toán chi phí y tế cho ngời đợc BHYT
Chi dự trữ, dự phòng lao động lớn
Chi dự phòng hạn chế tổn thất
Chi quản lý
Nh vậy các khoản chi là rất lớn, để quỹ BHYT đợc cân đối thì ngoài
việc phải thực hiện thu BHYT một cách có hiệu quả thì việc thực hiện chi của
quỹ BHYT phải càng phải thực hiện một cách hết sức nghiêm ngặt để có thể
đạt đợc hiệu quả cao.
VII. Nội dung thu-chi BHYT:
1.Về thu BHYT
Quỹ BHYT đợc hình thành từ sự đóng góp của ngời lao động, chủ sử
phải xem xét lại chính sách về mức phí BHYT cho khu vực miền núi hoặc
vùng khó khăn sao cho phù hợp với mức sống của nhân dân tại các vùng,
tăng tỷ lệ bao phủ của BHYT trên tổng số dân. Mức phí cần đợc xem xét, cân
đối với mức chi của NSNN cho các vùng đặc biệt khó khăn này.
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Về chi BHYT:
Trong những năm qua quyền lợi của ngời tham gia BHYT đã đợc đảm
bảo đúng theo quy định và từng bớc mở rộng, nâng cao, chất lợng các DVYT
ngày càng tốt hơn và tiếp cận gần hơn với ngời tham gia BHYT. Quỹ BHYT
đã đảm bảo cho hàng triệu ngời có thu nhập thấp, ngời có công với nớc, hàng
chục ngàn ngời mắc bệnh hiểm nghèo trong phạm vi cả nớc không phân biệt
giàu, nghèo đã đợc cơ quan BHXH đảm bảo chi trả với chi phí lớn mà bản
thân họ và gia đình không thể nào có khả năng tự trang trải đợc. Từ năm
1999, theo quy định của Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số
58/1998/NĐ - CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ, các trờng hợp đi khám
chữa bệnh theo yêu cầu riêng: tự chọn thầy thuốc, tự chọn buồng bệnh, tự
chọn cơ sở KCB, tự chọn các dịch vụ y tế, KCB vợt tuyến chuyên môn kỹ
thuật theo quy định, KCB tại các cơ sở y tế không có hợp đồng với các cơ
quan BHXH cũng đã đợc thanh toán một phần chi phí khám chữa bệnh.
Quyền lợi BHYT trong các trờng hợp khám chữa bệnh ngoài tỉnh, thành phố
nơi phát hành thẻ cũng đợc đảm bảo thuận lợi và dễ dàng hơn. Cơ quan
BHYT trớc kia và BHXH hiện nay đã luôn quan tâm, đề xuất các giải pháp
nhằm tăng cờng và mở rộng quyền lợi KCB cho ngời tham gia BHYT. Ngay
từ năm1999, sau khi triển khai Nghị định số 58 ban hành Điều lệ BHYT mới,
số dịch vụ y tế kỹ thuật cao nh: mổ tim hở, sử dụng thuốc ung thu ngoài danh
mục, thuốc chống thải ghép điều trị sau ghép thận, ghép tuỷ .v.v tr ớc đây
cha đợc thanh toán, đã đợc thanh toán một phần cho ngời bệnh BHYT. Tiếp
đó, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao, có chi phí lớn từ hàng triệu, hàng chục thậm
Cân đối quỹ BHYT là tơng quan tỷ lệ hợp lý về lợng giữa các khoản
thu vào và chi ra của quỹ BHYT trong một thời kỳ nhất định . Đây là nội
dung quan trọng nhất trong hoạt động quản lý quỹ BHYT . Cân đối quỹ
BHYT phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa quản lý Nhà nớc và quản lý sự
nghiệp về quỹ BHYT , đó là mối quan hệ giữa chính sách, chế độ tạo lập và
sử dụng quỹ của Nhà nớc với biểu hiện về mặt lợng đợc xác định từ các hoạt
động nghiệp vụ quản lý quỹ BHYT. Xét về mặt cơ cấu quỹ BHYT gồm có
nhiều quỹ thành phần, mỗi chế độ BHYT là một quỹ thành phần.Mỗi quỹ
thành phần cân đối thì sẽ dẫn đến quỹ BHYT cân đối .
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cân đối quỹ còn đợc thực hiện theo kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội chung của quốc gia.
Nh vậy yêu cầu của hoạt động quản lý quỹ và quản lý kinh tế xã
hội của Nhà nớc, thì hoạt động tính toán cân đối quỹ BHYT cần đợc thực
hiện hàng năm đối với từng quỹ thành phần và toàn bộ quỹ BHYT. Căn cứ
vào đó giúp các nhà hoạch định chính sách xã hội nói chung và chính sách
tạo lập và sử dụng quỹ BHYT nói riêng, có những điều chỉnh thích hợp vừa
thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển vừa đảm bảo đầy đủ, kịp thời quyền
lợi cho những ngời tham gia và hởng các chế độ BHYT. Dới góc độ chức
năng quản lý thì cân đối quỹ BHYT chịu tác động hai hệ thống cơ quan quản
lý.
Một là: Các cơ quan quản lý Nhà nớc thực hiện việc xây dựng và ban
hành chế độ tạo lập và sử dụng quỹ, là nhân tố quan trọng nhất, chủ yếu nhất
tác động đến cân đối quỹ. Nếu nh Nhà nớc thực hiện chính sách tăng mức
đóng góp quỹ của các bên tham gia BHYT vào quỹ, đồng thời hạn chế quyền
lợi của ngời đợc thụ hởng từ quỹ BHYT thì quỹ sẽ cân đối vững chắc và ngợc
lại thì khả năng cân đối quỹ khó đảm bảo đợc
Hai là: Cơ quan BHXH với chức năng chủ yếu là tổ chức thực hiện các
trớc những khó khăn thử thách mới nh: nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng
tăng, khả năng tài chính Nhà nớc cấp cho ngành Y tế tăng không kịp với tình
hình trợt giá và lạm phát, làm ảnh hởng không ít đến chất lợng khám chữa
bệnh và phục vụ ngời bệnh. Trớc tình hình đó, để bổ sung nguồn kinh phí và
giảm bớt sức ép căng thẳng của các cơ sở khám chữa bệnh, Nhà nớc cho phép
các cơ sở khám chữa bệnh thu một phần viện phí và cho phép hành nghề y d-
ợc t nhân. Giải pháp này đáp ứng đợc một phần nhu cầu khám chữa bệnh của
một số đối tợng, chủ yếu là những ngời có thu nhập khá. Còn đại bộ phận
những ngời có thu nhập thấp không đợc bao cấp nh trớc, khi ốm đau vào
bệnh viện đã vấp phải tình trạng không có đủ tài chính khi gặp trờng hợp ốm
đau bệnh nặng, chi phí cao. Đứng trớc tình hình đó, cấp ủy, chính quyền một
số địa phơng đã mạnh dạn tháo gỡ khó khăn, để duy trì hoạt động của bệnh
viện địa phơng bằng cách vận động, quyên góp trong nhân dân địa phơng dới
nhiều hình thức để có thêm nguồn tài chính phục vụ cho nhu cầu khám chữa
bệnh của nhân dân và hớng tới tổ chức BHYT nh Sông Thao (Vĩnh Phú),
Kronbong (Đắk Lắk) ... Đến năm 1989 đợc sự đồng ý của Bộ Y tế, đã có 3
tỉnh, thành phố tổ chức thí điểm BHYT (Hải Phòng, Quảng Trị, Vĩnh Phú);
có 4 tỉnh có cơ quan BHYT cấp tỉnh (Hải Phòng, Quảng Trị, Phú Yên, Bến
Tre) và có 24 quận, huyện của 14 tỉnh, thành phố trong cả nớc thí điểm
BHYT. Việc thực hiện thí điểm BHYT ở một số địa phơng trong gần 2 năm
đã cho thấy những kết quả:
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Chủ trơng làm thí điểm BHYT là đúng đắn, nó chứng tỏ một hớng mới
không chỉ tạo thêm nguồn tài chính mà còn tạo điều kiện để từng bớc cải
biến hệ thống khám chữa bệnh phù hợp với điều kiện mới, hiệu quả và chất l-
ợng.
- BHYT là một chính sách xã hội mới mẻ, nhng có khả năng đi vào cuộc
sống và chủ trơng này đợc đông đảo nhân dân hoan nghênh và có nhiều triển
bệnh viện đồng thời chịu sự quản lý, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của
BHYT Việt Nam
Mô hình tổ chức này đã đáp ứng tốt với các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong
giai đoạn đầu tổ chức thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam, phù hợp với
đặc điểm, tình hình kinh tế xã hội mỗi địa phơng và mỗi ngành đồng thời
phát huy đợc tính chủ động sáng tạo, gắn trách nhiệm của lãnh đạo các địa
phơng, ngành đoàn thể và các bên tham gia chính sách BHYT tại địa phơng
đó là một trong những yếu tố cơ bản đảm bảo cho sự thành công của chính
sách BHYT còn đang rất mới mẻ ở Việt Nam.
Sơ đồ 1a: Cơ cấu tổ chức hệ thống BHYT theo Nghị định số 299/HĐBT
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
19
bộ y tế
UBND tỉnh,
thành phố
bộ, ngành
Sở y tế bảo hiểm y tế
việt nam
HĐQT BHYT HĐQT BHYT
BHYT tỉnh,
thành phố
(61)
chi n hánh
BHYTVn tại
TP.HCM
BHYT ngành
(04)
chi nhánh
bhyt
chi nhánh
lập Hội đồng quản lý do một Thứ trởng Bộ Y tế làm chủ tịch hội đồng, Phó
chủ tịch hội đồng bao gồm một thứ trởng Bộ tài chính và Tổng giám đốc
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BHYT Việt Nam với sự tham gia của đại diện Tổng liên đoàn lao động Việt
Nam, Bộ Lao động Thơng binh và xã hội, một số Vụ chức năng của Bộ Y tế (
Vụ Điều trị, Vụ Kế hoạch tài chính) để định hớng chơng trình, chỉ đạo và
giám sát mọi hoạt động của hệ thống BHYT Việt Nam.
Hệ thống BHYT Việt Nam đợc tổ chức tập trung, thống nhất từ Trung -
ơng đến địa phơng, ngành trực thuộc Bộ Y tế theo mô hình này đã khắc phục
đợc một số bất cập mà mô hình tổ chức theo Nghị định số 299/HĐBT còn
đang tồn tại. Chính sách BHYT đợc tổ chức nhất quán trên phạm vi cả nớc
theo những định hớng và chỉ đạo của Hội đồng quản lý BHYT, BHYT Việt
Nam đã thực hiện đợc chức năng điều tiết chung trong hệ thống, không còn
tình trạng chồng chéo giữa các địa phơng và ngành trong tổ chức thực hiện
chế độ KCB BHYT .
Trong mô hình tổ chức hệ thống BHYT Việt Nam theo Nghị định số
299/HĐBT, sự ra đời của cơ quan BHYT một số ngành ( giao thông, dầu khí,
than, cao su) đã đáp ứng đợc yêu cầu mang tính đặc thù của công tác chăm
sóc sức khoẻ ngời lao động, phù hợp và thuận lợi cho quá trình triển khai
thực hiện chính sách BHYT trong thời kỳ đầu. Tuy nhiên, sự tồn tại của cơ
quan BHYT các ngành này trong giai đoạn thực hiện Nghị định số
58/1998/NĐ - CP khi mà hệ thống BHYT đã đợc tổ chức tập trung, thống
nhất toàn ngành là không còn phù hợp. Mô hình này đã và đang tạo nên một
khu vực mang nặng tính chất đặc quyền, đặc lợi riêng cho ngời tham gia
BHYT thuộc các ngành, nghề đó tạo nên sự mất công bằng trong chăm sóc
sức khoẻ trong cộng đồng ngời tham gia BHYT . Thực tế cho thấy, ngời lao
động thuộc các ngành khi còn tuổi lao động, mức đóng BHYT cao tần suất
khám chữa bệnh thấp hơn thì tham gia với BHYT ngành, khi về hu, mức
BHYT tỉnh,
thành phố (61)
BHYT ngành (04)
chi nhánh BHYT chi nhánh BHYT
BAN chức
năng
BAN chức
năng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Việt Nam đợc chính phủ thành lập do Bộ trởng Bộ Tài chính làm chủ tịch hội
đồng với sự tham gia của đại diện lãnh đạo Bộ Y tế, Bộ Lao động Thơng binh
cvà xã hội, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam để chỉ đạo giám sát mọi hoạt
động của hệ thống BHXH.
Với hệ thống tổ chức này, bên cạnh mục tiêu tinh giản bộ máy theo ch-
ơng trình cải cách hành chính của Chính phủ, chính sách BHYT đợc tăng c-
ờng thêm một bớc theo hớng hoạt động thống nhất, tập trung. BHXH Việt
Nam thực hiện đầy đủ và triệt để chức năng chỉ đạo và điều tiết các hoạt
động liên quan đến chính sách xã hội, đảm bảo tốt hơn sự công bằng trong
chăm sóc y tế cho cộng đồng ngời tham gia BHYT trên phạm vi cả nớc,
không còn tình trạng cục bộ về tổ chức đặc quyền đặc lợi trong đảm bảo
quyền lợi khám chữa bệnh cho ngời có thẻ BHYT theo địa phơng hoặc
ngành.
Từ khi sát nhập BHYT là một bộ phận của BHXH và nó hoạt động theo
cơ chế vận hành của BHXH.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam
3. Quyền lợi của ngời tham gia Bảo hiểm y tế
Ngời tham gia BHYT thuộc hệ thống BHYT Việt Nam đợc khám chữa
bệnh theo chế độ BHYT có nghĩa là cơ quan BHYT có trách nhiệm thanh
toán chi phí khám chữa bệnh cho ngời có thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh.
Chế độ khám chữa bệnh BHYT có sự khác biệt giữa các loại hình tham gia
số đối tợng không đủ khả năng mua thẻ BHYTnh: ngời nghèo ... ;
+ Đóng góp của các tổ chức, cá nhân từ thiện, của các tổ chức phi
Chính phủ cho các đối tợng nhân đạo xã hội theo các chơng trình: EC,
SEARAC, IRAC ...
+ Các khoản thu từ hoạt động tăng trởng và bảo toàn vốn thông qua các
hình thức đầu t nh: gửi ngân hàng, mua tín phiếu, trái phiếu quốc gia...
Nguồn hình thành quỹ BHYT chủ yếu ở đây là từ đóng góp của ngời lao
động và chủ sử dụng lao động. Mặc dù vậy, việc không đóng góp BHYT cho
ngời lao động ở một số đơn vị, chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc
Nguyễn Ngọc Khánh - Lớp: Tài chính công 44
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh vẫn là hiện tợng thờng xuyên xảy ra. Theo kết quả nghiên cứu trớc đây
của BHYT Việt Nam thì có đến 85% đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh
không tham gia BHYT. Hiện tợng cho nợ và chậm nộp cũng có tác động
không nhỏ tới quỹ BHYT, không tăng đợc nguồn ảnh hởng đến việc bảo toàn
và phát triển vốn quỹ BHYT. Khoản tiền thu do việc chậm nộp phí BHYT
cho đến nay cũng cha thực hiện đợc, hiện tợng chủ sử dụng lao động nợ tiền
đóng phí BHYT vẫn đang tồn tại và là yêu cầu đòi hỏi hệ thống BHYT phải
tăng cờng năng lực tính bắt buộc của việc tham gia BHYT đối với các đối t-
ợng bắt buộc.
Nhà nớc và chính quyền địa phơng các cấp cũng chỉ hỗ trợ đợc một
phần số tiền đóng góp cho đối tợng u đãi xã hội, đối tợng hu trí với số thu
gần 20% tổng số thu BHYT năm 1998. Từ năm 1999, quỹ BHYT đợc bổ
sung thêm nguồn thu từ ngân sách Nhà nớc khi thực hiện BHYT cho đối tợng
là những ngời nghèo.
Nguồn thu BHYT hình thành từ tài trợ và đóng góp của các tổ chức
quốc tế, từ thiện thì mang tính không thờng xuyên hình thức thông thờng là
thông qua các chơng trình ngắn hạn từ 1 đến 2 năm, vì vậy việc đánh giá
nguồn thu này rất khó khăn.