Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
I.Phòng giáo dục và đào tạo Hoa Lư
Trường THCS Ninh Xuân
II.Tác giả sáng kiến: Trần Nhật Lan
Chức danh: Giáo viên trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư – Ninh Bình
Email: [email protected]
Số điện thoại:01658027300
III.Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Tên sáng kiến: Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát
triển năng lực cho học sinh.
Lĩnh vực áp dụng: Môn Ngữ văn THCS
IV. Nội dung sáng kiến
1. Giải pháp cũ:
Trước đây, theo phương pháp dạy học truyền thống, hoạt động “dạy” là trung
tâm, giáo viên giữ vai trò là người truyền thụ kiến thức, học trò là người thụ động tiếp
thu kiến thức theo sự giảng giải của giáo viên.
Đối với việc dạy học các tác phẩm thơ hiện đại, phương pháp chủ yếu được
vận dụng cũng chính là các phương pháp đặc thù chung của việc dạy học môn Ngữ
văn. Đó là các phương pháp: Đọc sáng tạo, tái hiện, gợi tìm và nghiên cứu.
1.1. Đọc sáng tạo:
Là phương pháp đặc biệt đối với môn Ngữ văn. Trong đó đọc diễn cảm là một
phần của đọc sáng tạo. Đọc diễn cảm được tiến hành chủ yếu trong giờ học Văn ở
trong lớp học. Nó được vận dụng trong suốt giờ học cho đến khi kết thúc bài học.
Việc đọc sáng tạo kết hợp hài hòa với cá phương pháp khác.
Ưu điểm của phương pháp đọc sáng tạo: Việc đọc sáng tạo trong giờ văn là
phương pháp không thể thiếu trong dạy học Văn nhất là khi dạy các tác phẩm thơ.
Không có giờ học Văn nào lại không vận dụng phương pháp này, không bài thơ nào
được học lại không bắt đầu với việc đọc văn bản. Vì vậy phương pháp này quan
trọng, cần thiết.
Nhược điểm: Phương pháp đọc sáng tạo không có nhược điểm, chỉ có giáo
vệ quan điểm cá nhân của mình. Đồng thời thầy chấp nhận các cách hiểu khác nhau
của học sinh nếu thấy hợp lý. Nhưng không được phép cho học sinh phát biểu những
điều đi ngược với các giá trị đạo đức truyền thống và pháp luật.
Ưu điểm của phương pháp gợi tìm:
Đây là một phương pháp quan trọng. Phương pháp này thể hiện rõ nhất trình
độ học vấn và năng lực sư phạm của người giáo viên, giáo viên có cảm nhận đúng, có
thể nêu câu hỏi, có thể tạo tình huống có vấn đề, nhưng điều cốt lõi là không làm thay
sự tìm hiểu của học sinh. Các em phải được hướng dẫn đi qua từng chặng đường cho
đến khi hoàn thành một khám phá, một phát hiện. Sự gợi tìm có kết quả tốt khi kết
hợp với đọc, tái hiện và nghiên cứu.
Nhược điểm của cách vận dụng phương pháp này: nếu chỉ coi trọng một
phương pháp này cũng sẽ dẫn đến giờ học sẽ chỉ dừng lại ở vấn đáp gợi tìm, cũng dễ
dẫn đén hiện tượng học sinh không nghe sự hướng dẫn, gợi tìm của giáo viên mà tìm
cách hiểu khác đi về văn bản thì thế nào? Liệu giáo viên có hướng dẫn các em tìm
hiểu theo cách phát hiện, cách khám phá riêng của các em hay không.
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
1.4. Phương pháp nghiên cứu: là phương pháp tìm hiểu nội dung tư tưởng
và giá trị nghệ thuật của một tác phẩm. Nhưng muốn nghiên cứu đối tượng phải tiếp
cận đối tượng (nhờ đọc sáng tạo), hình dung được đối tượng rõ ràng (nhờ tái hiện),
từng bước hiểu chính xác những bộ phận của đối tượng (nhờ gợi tìm). Dựa trên các
phương pháp trên, phương pháp nghiên cứu sẽ dẫn đến những kết luận đúng về giá trị
nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Tất cả những dữ liệu thu nhập được về hoàn
cảnh xã hội, quan niệm thẩm mỹ, hoạt động sáng tạo của nhà văn cho phép đi đến kết
luận khoa học, chính xác.
Ưu điểm của phương pháp trên: Học sinh không chỉ hiểu tác phẩm mà còn
hiểu được tư tưởng của tác phẩm, hiểu được giá trị của các biện pháp nghệ thuật để từ
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
Dạy đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn. Cách dạy đọc hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho học sinh
những cảm nhận của giáo viên về văn bản được học mà hướng tới việc cung cấp cho
học sinh cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật
của văn bản, từ đó hình thành năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc
thái cá nhân. Hoạt động đọc hiểu của học sinh cũng cần được thực hiện theo một
trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông
đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo. Khi hình thành năng lực đọc hiểu
cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mỹ, khơi gợi liên tưởng, tưởng
tượng và tư duy. Năng lực đọc hiểu của học sinh còn được hiểu là sự tích hợp những
kiến thức và kĩ năng của các phân môn cũng như toàn bộ kĩ năng và kinh nghiệm
sống của học sinh. Sau khi học sinh được tiếp xúc với văn bản, khám phá được các
giá trị của văn bản, sẽ vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc
các loại văn bản khác nhau cùng thể loại, giải quyết những tình huống đặt ra trong
thực tiễn cuộc sống. Đặc biệt chúng tôi cũng chú trọng tính tích hợp phân môn và liên
môn trong quá trình dạy học.
Cụ thể chúng tôi đề xuất một số giải pháp mới trong dạy học thơ hiện đại
Việt Nam lớp 9 như sau:
2.1. Tìm hiểu tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 thông qua việc tổ chức các
hoạt động phong phú, đa dạng.
2.1.1. Hoạt động1- Khởi động: Trước khi tiếp xúc với văn bản thơ, giáo viên
cho học sinh tìm hiểu những thông tin, kiến thức ngoài văn bản nhưng có liên quan
đến văn bản (có thể vận dụng kiến thức liên môn để tạo tâm lý hứng thú trước khi
vào bài).
- Câu hỏi tìm hiểu các yếu tố ngoài văn bản.
+ Dùng tranh ảnh hoặc bản đồ địa lý giới thiệu về địa danh là quê quán của
tác giả (Liên môn với Lịch sử, Địa lý), hoặc liên môn với Âm nhạc về những bài hát
có liên quan đến tác phẩm ... để hỏi về tác giả: (cuộc đời, sự nghiệp) hoặc về tác
sáng tạo là xác định mối quan hệ cảm xúc riêng tư của người đọc về giá trị nội dung
và hình thức đọc của tác phẩm. Đọc diễn cảm đòi hỏi ở cả giáo viên và học sinh
.Đối với giáo viên: việc đọc diễn cảm của thầy có vai trò quan trọng trong
việc hướng dẫn học sinh thâm nhập vào tác phẩm. Thầy cũng phải tập đọc trước từ
nhà vì nếu thầy đọc diễn cảm sẽ là chuẩn mực cho học sinh noi theo. Sau đó thầy
hướng dẫn học sinh đọc thông qua đọc trước tác phẩm cho học sinh, hoặc vừa đọc
vừa bình.
. Đối với học sinh: cũng cần có nghệ thuật đọc, qua đọc học sinh đã có thể dễ
dàng tìm hiểu được giá trị của tác phẩm. HS trung học cơ sở với tâm lý dễ cảm thụ,
dễ xúc cảm, dễ tin và hồn nhiên. Tư duy của các em mang tính cụ thể, dễ hiểu nên
việc đọc diễn cảm đồng thời giúp thầy dễ khơi gợi những cảm xúc của các em, kích
thích hứng thú học tập. Tuy nhiên việc đọc diễn cảm của học sinh cũng phải chuẩn bị
kỹ lưỡng từ nhà, đọc sao cho giản dị tự nhiên không thái quá.
- Việc đọc văn bản thơ diễn ra thường xuyên trong giờ học: đọc cả bài, đọc
từng phần, từng khổ, thậm chí đọc 1,2 câu thơ khi phân tích. Với phương pháp đọc
sáng tạo cùng đã bước đầu có sự phân loại năng lực cho học sinh: các em năng lực
trung bình chỉ cần đọc đúng, đọc hay đã là các em có cảm nhận bước đầu về tác phẩm
và đọc diễn cảm tốt là các em đã có sự hiểu và cảm nhận phần nào giá trị của văn
bản. Trên cơ sở đọc, giáo viên nắm bắt năng lực của các em và uốn nắn được cho
từng đối tượng học sinh.
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
2.1.2.2. Xác định thể loại:
Một trong những nguyên lí của việc đọc – hiểu văn bản là đọc tác phẩm theo
đặc trưng thể loại. Đọc – hiểu văn bản không chỉ nhằm tiếp nhận giá trị riêng của một
văn bản cụ thể. Với vị trí tiêu biểu cho một thể loại nào đó, việc tiếp nhận mỗi văn
bản đều bao hàm sự định hướng về cách thức tiếp cận kiến thức của thể loại hoặc
2.1.3. Hoạt động 3 - Khám phá các giá trị của văn bản thơ:
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
2.1.3.1. Tìm kiếm thông tin từ văn bản như tìm ý chính, hoặc tìm các chi tiết
cụ thể.
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Ánh trăng”, giáo viên cho học sinh tìm bố cục, nghĩa
là đã bước đầu tìm các ý chính của văn bản được thể hiện ở từng phần. Với lần lượt
các phần: chẳng hạn ở phần 1, các em sẽ lần lượt tìm ra phần này có những nội
dung cụ thể nào, thông qua việc các em sẽ làm việc cá nhân, trả lời các câu hỏi:
? Hình ảnh vầng trăng trong quá khứ được nhắc đến ở những thời điểm nào?
?Trong từng thời điểm đó, người và trăng có mối quan hệ như thế nào?Tìm từ
ngữ thể hiện?
Với các câu hỏi trên, học sinh sẽ tìm ra ngay : vầng trăng trong quá khứ được
nhắc đến ở 2 thời điểm: hồi nhỏ và hồi chiến tranh. Cả hai thời điểm đó mối quan hệ
giữa người và trăng được thể hiện qua các từ “tri kỉ”, “nghĩa tình”.
2.1.3.2. Giải thích, cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối...thông tin để tạo
nên hiểu biết chung về văn bản.
Giáo viên có thể vận dụng dạy học tích hợp. Trước hết là tích hợp phân môn:
giữa văn học với tiếng Việt và làm văn trong các bài học. Khi dạy các tác phẩm thơ
bao giờ chúng ta cũng cho học sinh tìm hiểu các giá trị của nghệ thuật ngôn từ (biện
pháp nghệ thuật được sử dụng, tác dụng của nó hay giá trị biểu đạt của từ ngữ, hình
ảnh thơ...). Đó là tích hợp với phân môn tiếng Việt để từ đó hình thành cho học sinh
năng lực sử dụng tiếng Việt trong tiếp nhận văn bản. Kiến thức từ văn bản, tiếng Việt
lại có tác dụng trở lại giúp học sinh tạo lập được các văn bản theo từng thể loại nhất
định (tích hợp với phân môn làm văn)...
Việc tích hợp còn được thể hiện với sự liên môn kiến thức Ngữ văn với các
môn học thuộc ngành khoa học xã hội nhân văn và các ngành khoa học khác. Chẳng
vô ơn với cha mẹ, học trò còn vô lễ với thầy cô...Từ đó các em tự xác định cho bản
thân mình lối sống, thái độ sống đúng đắn.
Từ việc so sánh đó, giáo viên tích hợp với môn Giáo dục công dân ở các bài
học đạo đức: cần phải có thái độ sống ân nghĩa, có lòng biết ơn, không nên như nhân
vật trữ tình để rồi có lúc phải giật mình.
2.1.3.3. Phản hồi, đánh giá thông tin trong văn bản:
Từ việc hiểu biết chung về văn bản, học sinh tiếp tục đánh giá các thông tin: là
các từ ngữ, hình ảnh hay biện pháp nghệ thuật... dùng trong văn bản như thế nào? ở
mức nào? (Thành công hay không thành công?). Đánh giá cảm xúc của người viết
như thế nào và nhận ra khuynh hướng của người viết hoặc tư tưởng, quan điểm của
người viết. Giáo viên có thể vận dụng phương pháp thảo luận nhóm.
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tạo được sự tham
gia tích cực của học sinh trong học tập. Trong thảo luận nhóm, học sinh được tham
gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Thảo
luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do
bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất
đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn
đề khó khăn.
Thảo luận nhóm được tiến hành theo các hình thức: Nhóm nhỏ (cặp đôi hoặc
cặp ba), nhóm trung bình (4 đến 6 người) hoặc nhóm lớn (8 đến 10 người trở lên).
Tùy vào từng mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu
nhiên hay có chủ định, được duy trì hay thay đổi từng phần của tiết học, được giao
cùng nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau.
Khi thực hiện nhiệm vụ trong thảo luận nhóm, nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu
thấy cần. Trong nhóm có thể phân công mỗi người một việc, các thành viên đều phải
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
thơ?
Câu 2 (Nhóm 2): Tại sao bài thơ chỉ có một dấu chấm duy nhất ở cuối bài?
Câu 3 (Nhóm 3): Ý nghĩa nhan đề bài thơ?
Các nhóm làm việc trong thời gian 2 phút, kết quả của các nhóm sẽ tập trung
làm nổi bật quan điểm, tư tưởng của người viết hoặc cảm xúc của người viết: nhận ra
sự sai lầm của mình, giật mình để sửa chữa, hoàn thiện mình. Bài thơ giống như câu
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
chuyện, một lời tâm sự, một lời nhắc nhở mọi người: cần sống nhân nghĩa, thủy
chung, uống nước nhớ nguồn. Đó cũng là đạo lý truyền thống của dân tộc..
Cũng từ đó, học sinh nhận ra phong cách riêng của nhà thơ Nguyễn Duy: với
những vần thơ nhẹ nhàng, dung dị nhưng cũng đầy chất triết lý.
Ví dụ 2: Khi dạy Đồng chí, sau khi học sinh đã khám phá các giá trị của văn
bản, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh thảo luận theo nhóm theo các năng lực
(TB, Khá, Giỏi) như sau:
Câu 1: Em hiểu như thế nào về tình đồng chí, sau khi học xong văn bản?
Câu 2: Tại sao tác giả lại đặt tên tác phẩm là “Đồng chí”?
Câu 3: Tại sao nói 3 câu cuối cùng là bức tranh đẹp về tình đồng chí, có kết
hợp giữa chất hiện thực và lãng mạn?
Từ kết quả làm việc nhóm các em tự nhận ra phong cách thơ của Chính Hữu:
cô đọng, hàm súc, dư ba...và khuynh hướng tư tưởng mà tác phẩm đề cập đến: ca
ngợi tình đồng chí của những người lính chống Pháp.
Như vậy các nhiệm vụ giao cho các nhóm được phân chia theo
mức độ năng lực, tạo điều kiện cho các em trong lớp đều được tham gia làm việc.
2.1.4. Hoat động 4: Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản.
Học sinh vận dụng những hiểu biết về văn bản đã học để đọc các loại văn bản
khác nhau, sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu
Ví dụ 1: sau khi học xong văn bản thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt, học sinh sẽ
vận dụng những kiến thức đọc hiểu để giải quyết một vấn đề cụ thể: Mối quan hệ
giữa bếp lửa trong bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt với bếp lửa đời thường. Trước
vấn đề đặt ra của tình huống này, học sinh có thể vận dụng bài đọc hiểu để giải quyết
theo nhiều cách khác nhau nhưng cần thấy được mối quan hệ giữa 2 hình ảnh trên:
bếp lửa đời thường là hình ảnh quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam, gợi sức sống
và tình cảm gia đình, sự bình yên, no ấm. Bếp lửa trong thơ Bằng Việt ngoài những ý
nghĩa trên, đó còn là hình ảnh gắn với bà, nó cũng giống bếp lửa củi rơm trong đời
thực nhưng nó giúp ta cảm nhận rõ hơn về tình bà cháu, tình quê nồng ấm. ..Từ bếp
lửa đời đến bếp lửa trong thơ Bằng Việt là hành trình của tình yêu, nỗi nhớ, sự biết
ơn và sức sống mãnh liệt...
Ví dụ 2: Sau khi học xong văn bản “Bếp lửa”, giáo viên yêu cầu học sinh rút
ra bài học cuộc sống: Trong cuộc sống, con người dù có trưởng thành đến đâu cũng
không bao giờ được phép quên đi cội nguồn: ở đó có gia đình, có bà, có tuổi thơ, có
quê hương... Đó chính là những hành trang không thể thiếu trên đường đời của mỗi
con người, là chỗ dựa tinh thần, là nơi dù đi đâu ta cũng phải tìm về.
Ví dụ 3: Từ hiểu biết về bài “Đồng chí”, hãy triển khai một đoạn văn theo
luận đề: Những người đồng chí, từ cuộc đời thật đi vào thơ ca. Học sinh cũng vận
dụng hiểu biết một cách linh hoạt, miễn là đảm bảo các ý: Từ đời thật: là những
người línhcó thực trong đời sống. Họ xuất thân từ nông dân,từ những làng quê nghèo
xơ xác. Nay họ tạm biệt gia đinh, quê hương vào chiến trường... Đi vào thơ ca: Chính
hình ảnh giản dị, chân thực của họ đã làm nên chất thơ (nhà thơ không hề tô vẽ, mà
viết về họ một cách chân thực)...
2.1.5. Hoạt động bổ sung: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm thêm những văn bản
khác ngoài sách giáo khoa có cùng chủ đề với văn bản được học, để tự bổ sung thêm
vốn hiểu biết cho bản thân, hoặc có thể vận dụng kiến thức của phần đọc hiểu của văn
bản vừa học để đọc hiểu các văn bản ngoài sách giáo khoa đó.
Ví dụ: Sau khi học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến
Duật, học sinh tìm thêm những bài thơ khác cùng chủ đề người lính trong thời kì đó
của tác giả khác hoặc của Phạm Tiến Duật. Bài tập này có thể giao về nhà cho học
có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau.
- Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến
chủ đề. Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động
này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho học sinh thảo luận
về những gì các em đã ghi nhận. Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não.
Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em : “Hãy
nói những gì các em đã biết về...”. Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất
quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình
thường.
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
- Hỏi học sinh xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề. Cả giáo viên và
học sinh ghi nhận câu hỏi vào cột W. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra
tất cả các ý tưởng. Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, hãy biến
nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W.
- Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em : “Các em muốn
biết thêm điều gì về chủ đề này?” Đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không biết”, vì
các em chưa có ý tưởng. Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau :
“Em nghĩ mình sẽ biết thêm được điều gì sau khi em đọc chủ đề này?”
Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi, “Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có liên
quan đến ý tưởng này không?”
Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể bạn
mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của
học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú ý là không
được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W vẫn là những
câu hỏi của học sinh.
không?
Các câu hỏi khởi động, học sinh nhanh chóng thảo luận và có câu trả lời, các
em sẽ điền những thông tin ấy vào cột K.
Hoạt động 2: Khám phá tác phẩm:
Phần này học sinh nêu những thắc mắc của các em về bài thơ, có thể các em
sẽ có rất nhiều thắc mắc, tuy nhiên các thắc mắc của học sinh, kết hợp với câu hỏi
gợi mở của giáo viên để giáo viên hướng dẫn các em khám phá các giá trị văn bản.
? Tại sao bài thơ lấy hình ảnh những chiếc xe không kính, mà không phải là
hình ảnh nào khác? Hình ảnh này có gì độc đáo?
? Từ chiếc xe không kính làm nổi bật hình tượng người lính lái xe trong thời
chống Mỹ trên tuyến đường Trường Sơn? Tại sao xe không kính mà họ vẫn ra chiến
trường được, thậm chí vẫn lạc quan?
? Giọng điệu bài thơ rất lạ, không giống những bài thơ khác?
GV đặt câu hỏi thêm cho các em:
? Cảm nghĩ của em về hình ảnh thế hệ trẻ VN trong chống Mĩ, So sánh với
người lính chống Pháp?...
Sau khi đưa ra từng câu hỏi, các em ghi vào cột W, rồi tự đọc văn bản để tự
tìm câu trả lời bằng cách thảo luận. Nếu đã có câu trả lời các em sẽ tự điền vào cột
L. Tuy nhiên phần này, chúng ta chỉ vận dụng ít, còn phần lớn vẫn là cách giáo viên
đưa ra các câu hỏi gợi tìm, học sinh hoạt động cá nhân hoặc nhóm để giải quyết các
câu hỏi.
Hoạt động 3: Vận dụng:
Học sinh làm thêm câu hỏi cuối cùng mà giáo viên đưa ra ở phần tìm hiểu tác
phẩm theo suy nghĩ riêng của cá nhân các em. Mọi ý kiến của học sinh được tôn
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
trọng, miễn là lập luận hợp lý và thuyết phục. Phần này cũng vận dụng tốt trong giờ
tranh-> chất thơ
nghịch…
? Giọng điệu bài thơ rất lạ, không
- Các phẩm chất cao
- Tác phẩm: ra giống những bài thơ khác?
quý của người lính:...
đời 1969, thơ
?Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ?
-Ngôn ngữ mang tính
tự do, giọng GV đặt câu hỏi thêm cho các em:
khẩu ngữ, giọng thơ
điệu tự nhiên,
? Cảm nghĩ của em về hình ảnh thế
như lời nói bình
khỏe khoắn..
hệ trẻ VN trong chống Mĩ? So sánh với
thường.
- Từ chiếc xe người lính chống Pháp? Tự
không kính để
nói về người
lính
Còn lại các câu hỏi khác các em làm việc cá nhân để phát huy khả năng sáng
tạo.
2.3. Vận dụng dạy học nêu vấn đề:
Dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là dạy học giải quyết vấn đề. Dạy học nêu vấn
đề có những đặc trưng sau:
*Vấn đề và tình huống có vấn đề.
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
cầu học sinh về nhà sưu tập những tư liệu về tác giả. Mỗi nhóm một phần việc. Nhóm
1: sưu tầm những tư liệu về cuộc đời nhà thơ, nhóm 2: Sưu tầm những tác phẩm của
nhà thơ, nhóm 3: sưu tầm những hình ảnh, hoặc bài hát về quê hương nhà thơ. Như
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
vậy mỗi nhóm học sinh phải chịu trách nhiệm về một phần việc cụ thể để trình bày
vào đầu tiết học. (Phần này chúng tôi kết hợp với vận dụng dạy học theo bảng KWL).
Khi ra một bài tập dạng đề án cho HS, GV cần chú ý hướng dẫn HS:
Thu thập tài liệu cần thiết cho bài tập đề án, ghi chép, photo lại tài liệu.
- Xác định rõ các bước tiến hành, mục đích, yêu cầu cho đề án.
- Liệt kê những câu hỏi và những vấn đề chưa được giải quyết.
- Ðịnh rõ thời gian làm việc và hình thức trình bày kết quả (thuyết trình trước
lớp, dán báo tường...)
* Hình thức thứ 2: thảo luận (đã vận dụng kết hợp khi tổ chức các hoạt động
khám phá tác phẩm)
* Hình thức thứ 3: sắm vai (role play): có nhiều hình thức sắm vai như:
+ Cho HS sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vật thay cho tác giả.
+ Nhập vai người kể chuyện để bình luận, đánh giá về nhân vật, sự kiện, tình
huống theo quan điểm của mình.
+ Ðóng vai nhân vật để phát biểu suy nghĩ chủ quan về những con người, hoàn
cảnh, sự kiện, tình huống trong tác phẩm.
+ Tham dự vào tác phẩm với tư cách là người trong cuộc: ví dụ đặt mình vào vị
trí nhân vật và hình dung thái độ, phản ứng của mình trước các sự kiện.
Ví dụ: Nếu em là người lính trong bài thơ “Ánh trăng” liệu em có thái độ và
hành động như người lính khi gặp lại vầng trăng không? Với tình huống này học sinh
có thể tự hình dung và có những câu tả lời khác nhau.
- Hình thức thứ 4: thực hiện một đề tài nghiên cứu nhỏ. Giáo viên ra một đề tài
không cần giao tiếp tiếng Việt, không lĩnh vực nào không cần đến năng lực hợp tác,
sự sáng tạo...tất cả đều rất cần cho xã hội hiện đại.
Các giải pháp trên không chỉ vận dụng vào dạy các tác phẩm thơ hiện đại lớp 9
mà còn vận dụng được ở các tác phẩm thơ hiện đại và thơ của trung đại ở các lớp
dưới. Thậm chí có thể áp dụng trong dạy học môn Ngữ văn cấp THCS nói chung.
Đó chính là tính mới mang lại hiệu quả xã hội thiết thực nhất.
1.2.Hiệu quả kinh tế:
Với việc ứng dụng những giải pháp trên vào việc dạy và học môn Ngữ văn,
không mất nhiều thời gian, tiền của, lại đem đến sự hứng thú học tập, khơi gợi trong
học sinh niềm say mê, khám phá. Các em sẽ không mất thời gian vào những trò chơi
vô bổ, lãng phí thời gian và có tâm lý học tập tốt không chỉ môn Ngữ văn mà ở tất cả
các môn khác nữa.
2. Kết luận
2.1.Kết quả cụ thể khi áp dụng đề tài:
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
Khi áp dụng giảng dạy vào thực tế, hầu hết học sinh đều rất phấn khởi, có hứng
thú với giờ học và tích cực học tập.
Cụ thể: Khi kiểm tra tại lớp học: 20 em học sinh, chúng tôi đã thu được kết quả
như sau:
Điểm giỏi
Điểm khá
Điểm trung bình
Điểm yếu
4 (20%)
6 (30%)
10 (50%)
9B (dạy thực
nghiệm)
Sĩ số: 20hs
Điểm giỏi:
2/25=8%
Điểm khá
4/25=16%
Điểm TB
17/25=68%
Điểm yếu
2/25=8%
4/20=20%
6/20= (30%)
10/20= (50%)
0/20= 0%
Như vậy, rõ ràng áp dụng cách dạy này đã có hiệu quả rõ rệt.
2.2. Bài học kinh nghiệm:
Để việc dạy thơ hiện đại lớp 9, cũng như dạy các tác phẩm thơ khác ở các lớp
khác của môn Ngữ văn cấp THCS hướng tới phát triển năng lực người học, người
giáo viên có thể vận dụng nhiều hình thức tổ chức dạy học phong phú, đa dạng.
Trong khi tổ chức các hoạt động ấy phải vận dụng các phương pháp đặc thù vốn có
Tác giả sáng kiến
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn – Nhà xuất
bản giáo dục – năm 2007.
2.Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 9 – Nhà xuất bản giáo dục.
3.Bình giảng văn 9 – Vũ Dương Quỹ, Lê Bảo – Nhà xuất bản giáo dục – năm
2005.
4.Hệ thống câu hỏi Đọc – Hiểu Ngữ văn 9 – Trần Đình Chung – Nhà xuất bản
giáo dục – năm 2005.
5.Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định
hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn – Bộ giáo dục đào tạo – năm 2014.
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư
Sáng kiến: “Dạy học thơ hiện đại Việt Nam lớp 9 theo định hướng phát triển
năng lực học sinh”
.
Giáo viên: Trần Nhật Lan – Trường THCS Ninh Xuân – Hoa Lư