Thiết kế hoạt động dạy học các bài thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC

PHẠM THỊ CHÂU

THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ
MỚI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ
VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Minh Diệu


HÀ NỘI - 2014

i


Lời cảm ơn


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT
TẮT
Viết đầy đủ
Cải cách giáo dục
Chương trình
Công nghệ thông tin
Giáo dục - đào tạo
Giáo viên
Học sinh
Khoa học xã hội
Kỹ năng
Kiến thức
Nhà xuất bản
Phương pháp dạy
học
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông


ii


MỤC LỤC
Lời cảm ơn............................................................................................

Trang
i

Danh mục viết tắt ..................................................................................


1.2. Cơ sở thực tiến ..............................................................................

33

1.2.1. Thơ mới trong CT và SGK Ngữ văn THPT................................

33

1.2.2. Thực trạng dạy học Thơ mới trong một số trường THPT.............

35

Tiểu kết Chương 1 ................................................................................

44

9

Chương 2: THIẾT KẾ QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI ............................................................
2.1. Nguyên tắc đề xuất quy trình hoạt động dạy học ............................
2.1.1. Bám sát mục đích, yêu cầu của CT dạy học Thơ mới trong trường

45

Trung học phổ thông .......................................................................................

45

2.1.2. Bám sát đặc trưng của Thơ mới..................................................


2.3.1. Những điểm mới trong đề xuất về quy trình ...............................

63

iii

45


2.3.2. Một số lưu ý khi sử dụng quy trình..............................................
Tiểu kết Chương 2 ................................................................................

64
64

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM...........................................
3.1. Mục đích, đối tượng, nội dung và địa bàn thực nghiệm ..................
3.1.1. Mục đích thực nghiệm.................................................................

65

3.1.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm ..................................................

65

3.1.3. Nội dung thực nghiệm.................................................................

66



88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ......................................................
1. Kết luận.............................................................................................

89

2. Khuyến nghị......................................................................................

90

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................

91

PHỤ LỤC ............................................................................................

93

65
65

89

iv


DANH MỤC CÁC BẢNG , SƠ ĐỒ
Số và tên bảng

65

Bảng 3.2: Ma trận đề kiểm tra đánh giá ................................................

84

Bảng 3.3: Tổng quan kết quả trả lời các câu hỏi của HS.........................

86

Bảng 3.4. Kết quả đánh giá HS trên các phương diện nhận thức...........

87

Bảng 3.5: Kết quả đánh giá HS trên các phương diện nhận thức...........

88

Sơ đồ 1.1: Các thành phần cấu trúc của năng lực..................................

29

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ mới là một bộ phận quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam thế kỉ XX
nói riêng và trong tiến trình văn học Việt Nam nói chung.
Thơ mới đã được đưa vào CT Ngữ văn THPT từ những năm 1980, và ngày

1966. Nó là một trong những công trình phê bình nghiên cứu đầu tiên của ông.
Khác với Hoài Thanh, người tiếp cận Thơ mới bằng phương pháp phê bình ấn
tượng, Phan Cự Đệ đã vận dụng phê bình Mác-xít để nghiên cứu "trào lưu thơ
lãng mạn" này. Ông khảo sát những phương diện lý luận như chủ nghĩa lãng
mạn theo quan điểm Mác-xít, đặc trưng thẩm mỹ của phương pháp sáng tác lãng
mạn chủ nghĩa, quan điểm nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ
trong phong trào Thơ mới, những yếu tố chi phối đến sáng tác của mỗi nhà thơ
và của cả trào lưu. Ông cũng đặt Thơ mới trong mối quan hệ với đời sống xã
hội những năm trước Cách mạng tháng Tám để lý giải sự "thoát ly" của các nhà
thơ mới với thời cuộc như là một sự "bế tắc" của chủ nghĩa cá
nhân, từ đó sàng lọc, ghi nhận những đóng góp. Phan Cự Đệ đánh giá cao tinh
thần dân tộc cũng như những đổi mới về hình thức của Thơ mới đối với lịch sử
thi ca hiện đại Việt Nam. Đóng góp của Thơ mới cả hai phương diện nội dung
và hình thức nghệ thuật.
Bùi Quang Tuyến với bài "Giới thuyết về Thơ mới", khẳng định: "Thơ mới
là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng
trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng
trong nền văn học dân tộc với các hoàng tử thơ: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế
Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...". Phần tiếp theo, tác giả Bùi Quang Tuyến đưa ra
những ý kiến xác định phạm vi thời gian và không gian cụ thể của việc hình
thành Thơ mới. Phổ biến nhất hiện nay là ý kiến cho rằng khởi điểm của Thơ
mới là 1932 và kết thúc 1945. Ý kiến này căn cứ vào những hiện tượng văn học
ra đời năm 1932, trong đó có Tự lực văn đoàn và bài thơ Tình già của Phan
Khôi, và sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945. Để chứng minh
cho ý kiến đó tác giả đã đưa ra cách giải thích thỏa đáng. Phần cuối của bài viết
tác giả khẳng định vị thế và vai trò của Thơ mới trong nền văn học Việt nam. Nó
có một phạm vi lịch sử cụ thể. Trong phạm vi lịch
4




tim. Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân cá thể, cái tôi cá nhân được tồn
tại một cách đầy ý nghĩa trong cuộc sống. Tác giả còn so sánh phong trào thơ mới
Việt Nam với các nước trong khu vực để thấy sự giống nhau cũng như sự khác
biệt giữa các nền văn học của các nước này. Đồng thời chỉ ra nguyên nhân của
sự khác nhau là do hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hóa tạo ra.
2.3. Về PPDH các giáo trình đại học, sách và tài liệu hướng dẫn GV đã phân
tích, bình giảng các bài thơ mới. Nhiều nhà giáo nổi tiếng cũng đã biên soạn
các bài giảng văn về Thơ mới. Hàng loạt sách Thiết kế bài giảng, Bài soạn cũng
đã không quên đối tượng Thơ mới.
Tuy nhiên, có thể thấy, các sách này phần lớn được soạn ra để phục vụ cho
các bài giảng văn, trong đó, thầy sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu,
thậm chí độc nhất trong giờ học. Cho nên quy trình dạy học ở các tài liệu
này thường là: nghe thầy giảng bài (có hoặc không có câu hỏi gợi mở), thầy đọc
trò chép; sau đó củng cố, nhắc lại lời thầy, và có thể có một số ý liên hệ thực tế.
Công bằng mà nói, thầy vẫn còn giao bài tập, thậm chí rất nhiều bài tập về
nhà, nhưng trong đó chủ yếu yêu cầu HS hiểu rõ ý của thầy về bài giảng, diễn
đạt lại theo cách của mình (mà chủ yếu là giống với cách của thầy).
Người thầy cũng có các bài tập liên hệ thực tế, nhưng với Thơ mới nói
riêng và các tác phẩm văn học nói chung, việc liên hệ đó vô cùng khó khăn, đôi
khi hình thức, hoặc thiên về các nội dung chính trị, đạo đức.
Ngoài ra, thầy còn có các buổi dã ngoại, ngoại khóa, có tổ chức câu lạc
bộ…, tức là các hoạt động ngoài giờ, gắn liền với thực tế cuộc sống. Nhưng các hoạt
động ấy cũng khó nói lên việc dạy học gắn liền với thực tế của môn Ngữ văn là
thế nào? Sở dĩ như vậy là vì môn Ngữ văn nói chung và phần Thơ mới nói riêng
(cũng như các môn học và các nội dung dạy học khác) đã không được dạy theo
quan điểm tích hợp một cách triệt để và thiết thực. Chính vì vậy, các bước này
cũng thường được thực hiện một cách hình thức, ít hiệu quả.

6


7


5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau đây:
5.1. Các phương pháp nghiên cứu lí luận gồm: phân tích - tổng hợp. Phương
pháp này được sử dụng khi nghiên cứu cơ sở lí luận nhằm phân tích và tổng
hợp các công trình nghiên cứu, các quan điểm đổi mới giáo dục, các phương
pháp dạy học hiện đại, các phạm trù, khái niệm... liên quan tới luận văn;
Phương pháp này còn được sử dụng khi nghiên cứu cơ sở thực tiễn, phân tích
đặc điểm nội dung của các bài học về Thơ mới trong CT Ngữ văn THPT, từ đó
rút ra những kết luận cần thiết cho việc đề xuất quy trình dạy học các bài Thơ
mới.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm
a. Quan sát sư phạm là phương pháp được dùng để nghiên cứu quá trình
dạy học, trong đó chủ yếu là hoạt động của GV và HS.
b. Điều tra là phương pháp được sử dụng để tìm hiểu thực trạng dạy và
học các tác phẩm Thơ mới trong trường THPT.
c. Thực nghiệm là phương pháp sử dụng để dạy học thử nghiệm nhằm
kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của các quy trình đã được luận văn này đề
xuất.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thiết kế hoạt động dạy học tác phẩm
Thơ mới ở Trung học phổ thông
Chương 2: Quy trình hoạt động dạy học các tác phẩm Thơ mới theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông

tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và
nhất là có nhịp điệu". Định nghĩa này đã định danh một cách đầy đủ về thơ ở cả
nội dung và hình thức nghệ thuật. Đặc biệt, các tác giả đã khu biệt được đặc
trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác.

10


b. Đặc trưng của thơ
Có nhiều cách diễn giải đặc trưng của thơ. Chúng tôi thấy cách trình bày
dưới đây có nhiều ý nghĩa phong phú và sâu sắc:
b.1. Về nội dung cảm xúc: Thơ ca có sự tưởng tượng phong phú và cảm
thụ mãnh liệt
Đặc tính căn bản nhất của thơ ca là tưởng tượng và cảm thụ mãnh liệt.
Thượng thư đã nói: "Thơ nói chí" [17, tr.1] (Trung Quốc); Lục Cơ từng nói:
"Thi duyên tình nhi kỉ mị" [17, tr.171] (Trung Quốc). Bạch Cư Dị: "Thơ, gốc là
tình, ngọn là ngôn ngữ, hoa là thanh âm, quả là ý nghĩa" [17, tr.96). Văn Nhất Đa
nói: "Thơ là sự ngưng tụ tình cảm mãnh liệt" [20, tr.309] (Tiếng Trung). Quách Mạc
Nhược nói: "Bản chất của thơ là thể hiện tình cảm" [18, tr.215] (Tiếng Trung). Biêlin-xki đã nhấn mạnh: "Tình cảm là một trong những động lực
chủ yếu nhất của bản chất thơ tình; không có tình cảm thì không có thi nhân, và
cũng không có thơ ca" [3, tr.74] (Tiếng Trung). Musset - nhà thơ lãng mạn
Pháp - chủ trương: "Thơ là sự phát tiết của tình cảm cá nhân", thi nhân đã viết
trong một bài thơ:
"Một lời nói, một nụ cười, một lời than, một cái nhìn
đều tạo thành tác phẩm mang vẻ đẹp tinh tế, đầy ma lực và sự sợ hãi;
Một giọt lệ biến thành một hạt trân châu;
Đây chính là sự si mê của thi nhân trong cõi người
Đây chính là hùng tâm và cuộc sống, là của cải của anh ta"
Trên thực tế, thơ ca từ xưa đến nay đều lấy tình cảm làm đối tượng biểu đạt.
Willam Hallit - nhà phê bình người Anh thế kỉ 19, nói: "Khủng khiếp là thơ, hi

có vần thường diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn, hình thành một tình
cảnh tương đối hoàn chỉnh, hoặc biểu hiện một tình điệu thống nhất. Vần luật còn
làm cho ngôn ngữ thơ ca hình thành một quan hệ hài hòa, khiến cho câu thơ
trước sau có sự hô ứng. Không chỉ có tác dụng gắn kết ngôn ngữ, vần còn khiến
cho thơ trở nên dễ thuộc. Đối ngẫu là một loại phương thức tu từ đặt câu chữ
ngang hàng, đối xứng nhau, tương quan hoặc tương phản về nội dung,
tương đồng hoặc tương tự về kết cấu, ví dụ như: "Tình xuyên lịch lịch Hán
Dương thụ/ Phương thảo thê thê Anh Vũ châu", "Chí lí đông bắc phong trần tế/
Phiêu bạt tây nam thiên địa gian". Câu thơ đối ngẫu, kết cấu đều đặn chỉnh tề, đọc
lên có âm vang, làm người nghe cảm thấy hài hòa tha thiết, làm cho câu thơ dễ
nhớ, dễ truyền bá, không những thế, còn tạo ra một loại sức căng

14


khiến cho giữa hai thứ đối nhau hình thành không gian và thời gian tương ứng,
nâng cao sức biểu hiện.
Tiết tấu, âm luật, đối ngẫu… không những có thể tạo nên tính nhạc cho ngôn
ngữ thơ ca, làm cho bản thân thơ ca có tính tình cảm mà còn có thể tạo
ra một loại ý ở ngoài lời. Ý ở ngoài lời chính là ẩn ý trong cảm nhận vô tận
của người đọc.
b.4. Về thi pháp: Thơ ca có thi pháp đặc thù
Thi pháp là lí luận, nguyên tắc và cách viết trong nghệ thuật thơ
ca. Pháp là khuôn phép, quy tắc, vì vậy, thi pháp chỉ hình thức thơ ca, chỉ cách
biểu hiện cố định, không thay đổi về phương diện kĩ xảo - chủ yếu là thủ pháp
biểu hiện và kĩ xảo của riêng thơ, như: khởi hứng, ẩn dụ, tượng trưng, ý
tượng, trùng điệp ý tượng…
1.1.1.2. Đặc điểm của Thơ mới
Thơ mới là tên gọi chung của các thể loại thơ phi cổ điển, chịu ảnh hưởng
các phép tắc tu từ, thanh vận của thơ hiện đại phương Tây, trở thành một hiện

hiện đại trong thơ ca phương Tây như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa lãng
mạn, chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa ấn tượng, duy hiện đại v.v…
Ví dụ, bài thơ Sương rơi của Nguyễn Vĩ chịu ảnh hưởng rõ rệt từ bài Đàn
thu của Pôn Vec-len:
"Sương rơi
Nặng trĩu Trên
cành Dương
liễu

Những hơi
Gió bấc
Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào Em
ơi…"
(Sương rơi- Nguyễn Vĩ)

16


1.1.1.3. Những đóng góp và hạn chế của Thơ mới
a. Những đóng góp chủ yếu của Thơ mới đối với nền văn học và văn hóa
Việt Nam
a.1. Từ góc độ văn hóa, nhân văn, Thơ mới đã thổi luồng sinh khí mới vào
bầu không khí đang tù đọng, ngột ngạt, già cỗi của thơ ca, văn học và văn hóa
nước nhà. Đó là một cuộc Cách mạng, mang hơi thở của văn hóa, văn học phương
Tây tràn vào Việt Nam.
Trong bầu không khí mới ấy, một số giá trị cũ được hồi sinh, phát triển theo
hướng hiện đại hóa, và một số giá trị mới được hình thành.
Bạn đọc các thế hệ sau có thể học được trong Thơ mới các giá trị nhân văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status