Thiết kế hoạt động dạy học các bài thơ mới theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông - Pdf 30


i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ CHÂU THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ MỚI
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11


ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
CCGD
Cải cách giáo dục
CT
Chương trình
CNTT
Công nghệ thông tin
GD-ĐT
Giáo dục - đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
KHXH

i
Danh mục viết tắt

ii
Mục lục

iii
Danh mục các bảng, sơ đồ

v
MỞ ĐẦU

1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT
ĐỘNG DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI Ở TRUNG
HỌC
PHỔ THÔNG
9
1.1. Cơ sở lí luận

9
1.1.1. Cơ sở lí luận văn học và lịch sử văn học

9
1.1.2. Cơ sở tâm lí - giáo dục

26

45
2.1.4. Tăng cường hoạt động thực hành, ứng dụng

45
2.1.5. Kết nối HS với gia đình và xã hội

45
2.2. Đề xuất quy trình hoạt động dạy học các tác phẩm Thơ mới

46
2.2.1. Quy trình tổng quan (cấu trúc chương trình)

46
2.2.2. Quy trình hoạt động cho bài khái quát về Thơ mới

46
2.2.3. Quy trình hoạt động cho bài học về tác phẩm cụ thể

52
2.3. Những điểm mới và lưu ý khi ứng dụng

63
2.3.1. Những điểm mới trong đề xuất về quy trình

63 iv
2.3.2. Một số lưu ý khi sử dụng quy trình


86
3.3.1. Thống kê kết quả trả lời các câu hỏi đánh giá

86
3.3.2. Thống kê đánh giá HS trên các phương diện nhận thức

87
3.3.3. Đối chứng kết quả đánh giá HS lớp thực nghiệm với lớp đối
chứng 88
Tiểu kết Chương 3

88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

89
1. Kết luận

89
2. Khuyến nghị

90
TÀI LIỆU THAM KHẢO

91
PHỤ LỤC

93

87
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá HS trên các phương diện nhận thức
88
Sơ đồ 1.1: Các thành phần cấu trúc của năng lực
29 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ mới là một bộ phận quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam thế kỉ XX
nói riêng và trong tiến trình văn học Việt Nam nói chung.
Thơ mới đã được đưa vào CT Ngữ văn THPT từ những năm 1980, và
ngày càng được nhấn mạnh như một nội dung quan trọng trong CT Ngữ văn
THPT.
Để dạy học thành công một tác phẩm Thơ mới, cần có sự hiểu biết, khả
năng cảm thụ sâu sắc, tinh tế, nhưng cũng cần tới một quy trình dạy học hợp lí,
khoa học, sao cho có thể kích thích được sự say mê tìm hiểu và hứng thú cảm
thụ của HS.
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu Thơ mới và PPDH Thơ mới,
nhưng chưa có công trình nào bàn về việc thiết kế hoạt động dạy học các tác
phẩm Thơ mới theo định hướng phát triển năng lực, cũng như các bài học về
Thơ mới trong CT phổ thông.
1.2. Trong thực tế, dạy học Thơ mới, mặc dù đã có những thành công đã được

không có sự thay đổi.
2.2. Về các công trình nghiên cứu, đã có rất nhiều tác giả, tác phẩm giới thiệu,
nghiên cứu Thơ mới, kể từ trước 1945. Đáng chú ý là các công trình: Thi nhân
Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân (1940), Thơ và mấy vấn đề trong thơ
Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức (1978), các tuyển tập thơ Xuân Diệu,
Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử… Các công trình đó đã cho thấy các giá
trị, đặc điểm, đặc trưng thi pháp của các tác phẩm Thơ mới nói chung và
phong cách của các nhà Thơ mới nói riêng, trong đó phân tích rõ giá trị nội
dung và nghệ thuật của từng tác phẩm.
Trào lưu văn học nào cũng được hình thành, phát triển và tồn tại qua
những tác giả, tác phẩm cụ thể. Tác giả tiêu biểu, tác phẩm đỉnh cao kết tinh
một cách nổi bật thành tựu của phong trào, trào lưu văn học. Cuốn sách Thơ
mới - tác giả, tác phẩm của Lưu Khánh Thơ biên soạn và tuyển chọn (2006)
đã tập hợp những bài viết về các nhà thơ lãng mạn hàng đầu, về những bài thơ 3
tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Thông qua việc tuyển chọn những bài
và tập thơ tiêu biểu này người đọc có thể hình dung được phong cách của từng
nhà thơ. Tất yếu, mỗi nhà thơ đều có một cá tính, phong cách độc đáo của
riêng mình. Trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ xuất hiện cùng một
lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng
tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, quê mùa như
Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như
Xuân Diệu. Cuốn sách này không chỉ có những bài viết đánh giá về đặc trưng,
phong cách của các tác giả nổi tiếng nhất của thơ mới như: Thế Lữ, Lưu
Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh
Thơ…mà còn phân tích, bình giảng một số bài thơ tiêu biểu của các tác giả đó
và đưa ra nhiều cách hiểu, bình luận, tạo sự phong phú, đa dạng trong cách
tiếp nhận tác phẩm.

nhân, từ đó sàng lọc, ghi nhận những đóng góp. Phan Cự Đệ đánh giá cao tinh
thần dân tộc cũng như những đổi mới về hình thức của Thơ mới đối với lịch
sử thi ca hiện đại Việt Nam. Đóng góp của Thơ mới cả hai phương diện nội
dung và hình thức nghệ thuật.
Bùi Quang Tuyến với bài “Giới thuyết về Thơ mới”, khẳng định: “Thơ
mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói
riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng
đáng trong nền văn học dân tộc với các hoàng tử thơ: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy
Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v v ”. Phần tiếp theo, tác giả Bùi Quang
Tuyến đưa ra những ý kiến xác định phạm vi thời gian và không gian cụ thể
của việc hình thành Thơ mới. Phổ biến nhất hiện nay là ý kiến cho rằng khởi
điểm của Thơ mới là 1932 và kết thúc 1945. Ý kiến này căn cứ vào những
hiện tượng văn học ra đời năm 1932, trong đó có Tự lực văn đoàn và bài thơ
Tình già của Phan Khôi, và sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công năm
1945. Để chứng minh cho ý kiến đó tác giả đã đưa ra cách giải thích thỏa đáng.
Phần cuối của bài viết tác giả khẳng định vị thế và vai trò của Thơ mới trong
nền văn học Việt nam. Nó có một phạm vi lịch sử cụ thể. Trong phạm vi lịch 5
sử đó, Thơ mới có sự đổi mới đồng bộ nghệ thuật thơ: thi hứng hiện đại, thi
pháp hiện đại, tạo thành tựu xuất sắc trong thơ Việt Nam hiện đại, để lại dấu
ấn sâu sắc, rõ rệt trong thơ nhưng không tránh khỏi hạn chế. Sự đổi mới ấy có
gốc rễ rất sâu vào truyền thống. Do vậy, Thơ mới có một vị thế riêng, là một
bộ phận không thể tách rời của thơ ca hiện đại.
Đặng Thị Ngọc Phượng với bài “Sự hình thành Thơ mới như một hiện
tượng văn hóa khu vực” ra mắt bạn đọc vào ngày 14/3/2010. Mở đầu bài viết
tác giả khẳng định: Trong khu vực Đông Á gồm: Trung Quốc, Nhật Bản,
Triều Tiên, Việt Nam đều có một hiện tượng văn học giống nhau, gọi là
“Thơ mới”. Cả bốn nước này có cùng hệ thống quan niệm thẩm mỹ, hệ thống

cũng đã không quên đối tượng Thơ mới.
Tuy nhiên, có thể thấy, các sách này phần lớn được soạn ra để phục vụ
cho các bài giảng văn, trong đó, thầy sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ
yếu, thậm chí độc nhất trong giờ học. Cho nên quy trình dạy học ở các tài liệu
này thường là: nghe thầy giảng bài (có hoặc không có câu hỏi gợi mở), thầy
đọc trò chép; sau đó củng cố, nhắc lại lời thầy, và có thể có một số ý liên hệ
thực tế.
Công bằng mà nói, thầy vẫn còn giao bài tập, thậm chí rất nhiều bài tập
về nhà, nhưng trong đó chủ yếu yêu cầu HS hiểu rõ ý của thầy về bài giảng,
diễn đạt lại theo cách của mình (mà chủ yếu là giống với cách của thầy).
Người thầy cũng có các bài tập liên hệ thực tế, nhưng với Thơ mới nói
riêng và các tác phẩm văn học nói chung, việc liên hệ đó vô cùng khó khăn,
đôi khi hình thức, hoặc thiên về các nội dung chính trị, đạo đức.
Ngoài ra, thầy còn có các buổi dã ngoại, ngoại khóa, có tổ chức câu lạc
bộ…, tức là các hoạt động ngoài giờ, gắn liền với thực tế cuộc sống. Nhưng
các hoạt động ấy cũng khó nói lên việc dạy học gắn liền với thực tế của môn
Ngữ văn là thế nào? Sở dĩ như vậy là vì môn Ngữ văn nói chung và phần Thơ
mới nói riêng (cũng như các môn học và các nội dung dạy học khác) đã không
được dạy theo quan điểm tích hợp một cách triệt để và thiết thực. Chính vì vậy,
các bước này cũng thường được thực hiện một cách hình thức, ít hiệu quả. 7
Nhất là trong giai đoạn về sau, khi chấp nhận phát triển kinh tế thị trường,
những hoạt động ngoài giờ như vậy gần như bị bỏ rơi hoàn toàn.
Nói tóm lại, về PPDH, việc thiết kế quy trình đối với các bài học nói
chung và Thơ mới nói riêng theo định hướng phát triển các năng lực cho HS,
trong đó, năng lực hoạt động thực tế được coi trọng hơn, trên cơ sở tích hợp
các nội dung Ngữ văn và các môn học liên quan… vẫn là một công việc còn
chưa ai nghiên cứu và hiện mang tính cấp bách.

và tổng hợp các công trình nghiên cứu, các quan điểm đổi mới giáo dục, các
phương pháp dạy học hiện đại, các phạm trù, khái niệm liên quan tới luận
văn; Phương pháp này còn được sử dụng khi nghiên cứu cơ sở thực tiễn,
phân tích đặc điểm nội dung của các bài học về Thơ mới trong CT Ngữ văn
THPT, từ đó rút ra những kết luận cần thiết cho việc đề xuất quy trình dạy
học các bài Thơ mới.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm
a. Quan sát sư phạm là phương pháp được dùng để nghiên cứu quá trình
dạy học, trong đó chủ yếu là hoạt động của GV và HS.
b. Điều tra là phương pháp được sử dụng để tìm hiểu thực trạng dạy và
học các tác phẩm Thơ mới trong trường THPT.
c. Thực nghiệm là phương pháp sử dụng để dạy học thử nghiệm nhằm
kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của các quy trình đã được luận văn này
đề xuất.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thiết kế hoạt động dạy học tác phẩm
Thơ mới ở Trung học phổ thông
Chương 2: Quy trình hoạt động dạy học các tác phẩm Thơ mới theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

nghiên cứu của Jacobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi
tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu
trúc có tính chất khép kín của văn bản. Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý
nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp. Bởi trong thực tế, như ta thấy, ý nghĩa của
thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản.
Ở Việt Nam, cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến với nhiều
quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau. Lý giải về bản chất của thơ, các
tác giả nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền ảo, tinh
khiết, thâm thuý, cao siêu". Còn nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm: "Thơ là cái
nhụy của cuộc sống". Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc định
nghĩa: "Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận
phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này". Định
nghĩa này của giáo sư Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng
về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây
Âu trong mấy chục năm qua. Đặc biệt, đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ
hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà
chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy
đủ của từ này.
Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã được chứng kiến rất nhiều
định nghĩa về thơ. Theo tôi, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán,
Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể
xem là chung nhất: "Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống,
thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu
hình ảnh và nhất là có nhịp điệu". Định nghĩa này đã định danh một cách đầy
đủ về thơ ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật. Đặc biệt, các tác giả đã khu
biệt được đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể
loại văn học khác.


12
dứt. Điều đó khiến cho ngay cả thơ tự sự cũng là sự hát lên trong tình cảm
mãnh liệt của nhà thơ về một câu chuyện.
Điều đáng chú ý là, thơ ca, mặc dù lấy tình cảm làm đối tượng biểu hiện
nhưng không có nghĩa là trong tình cảm mà thơ ca biểu hiện không tồn tại nhân
tố ý và nghĩa. Tình cảm trong thơ gắn bó chặt chẽ với nhân tố nghĩa và chí.
Chí và nghĩa là thành phần cấu thành tất yếu của tình cảm thơ ca.
Cùng với tình cảm mãnh liệt, điều mà mọi người đều nhất trí là thơ ca có
sự tưởng tượng phong phú.
Trong sáng tác thơ ca, khi tình cảm của nhà thơ dâng trào mãnh liệt,
muốn dừng mà không được, thì những thể nghiệm thẩm mĩ và cảm thụ thẩm
mĩ sẽ phá vỡ cái vỏ bề ngoài của sự thực khách quan, vượt qua giới hạn giữa
vật và ta, giữa không gian và thời gian, thậm chí lấy sinh mệnh, tình cảm gán
cho những vật thể vô tri vô giác. Lúc đó, trí tưởng tượng và suy nghĩ của thi
nhân cứ miên man không dứt. Tưởng tượng giống như cánh chim tự do bay
lượn. Tưởng tượng, bản thân nó lại giúp cho tình cảm được nâng lên một tầng
cao mới. Do đó, trong thơ ca: nhật, nguyệt, tinh tú, phong, hoa, tuyết, sấm
chớp… đều chịu sự điều khiển của nhà thơ; sông hồ biển cả, núi cao đèo sâu,
đều có thể bay lên nhảy múa; thảo mộc hoa lá, cá chim côn trùng đều có thể
nói tình đạt ý. Tuyết Thái chỉ ra: “Trong ý nghĩa thông thường, thơ ca có thể
giới thuyết là: sự biểu hiện của trí tưởng tượng” [16, tr.51]. Willam Hallit nói:
“Thơ ca là sự quyết liệt của tình cảm và huyễn tưởng” [14, tr.61] . Ngải Thanh
viết: “Không có tưởng tượng thì cũng không có thơ ca”, “tài năng quan trọng
nhất của thi nhân chính là khả năng vận dụng trí tưởng tượng”, “Ý tượng, ý
cảnh đều do tưởng tượng mà thành” [19, tr.5].
b.2. Về đặc trưng kết cấu: Thơ ca có kết cấu mang tính đột biến
Trên phương diện hình thức bên ngoài, thơ ca có sự phân dòng, sắp đặt
tiết tấu. Ở phương diện hình thức bên trong, thơ ca biểu hiện ra một loại kết
cấu mang tính nhảy vọt. Cả hai đều khiến thơ ca khác với các thể loại văn học

chú trọng sự thay đổi, biến hình của ngôn ngữ hằng ngày. Trên phương diện từ
vựng, thơ ca thường dùng từ cổ, chữ ít thấy, ngôn ngữ ngoại lai, điển cố, sử
dụng từ có tính phát sinh, biến hóa, chẳng hạn như: nội động từ biến thành 14
động từ hoặc danh từ. Trên phương diện cú pháp, thơ ca thường dùng một số
cấu trúc ngữ pháp bất quy tắc, có khi khuyết chủ ngữ, khiến cho hình thức câu
phát sinh biến đổi khác thường; lại có khi tỉnh lược một số quan hệ từ, phối
hợp bằng trắc nhịp nhàng, ngữ điệu trôi chảy, câu chữ linh động, trật tự ngôn
ngữ biến hóa đa dạng, phối hợp chủ ngữ, vị ngữ, động từ, tân ngữ linh hoạt
khiến cho văn bản thơ khác biệt rất lớn so với khẩu ngữ.
Ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính, có tiết tấu, âm luật, đối ngẫu… Tiết tấu của
thơ ca có những khoảng lặng, những đoạn dừng lại giống như nhịp phách của
âm nhạc. Tiết tấu của thơ ca do nội dung quyết định. Cuộc đời có mạch đập
của nó, lúc lên, lúc xuống; tình cảm có lúc nồng lúc đạm, lúc mạnh lúc yếu; tự
nhiên có lúc khô lúc tươi, lúc thịnh lúc suy, hơn nữa chúng lại luôn có sự biến
hóa. Tiết tấu của thơ ca ứng với mạch của cuộc sống, ứng với tiết tấu của tự
nhiên và biến động của tình cảm. Ngoài ra, tiết tấu của thơ ca còn dựa vào sự
phát âm không giống nhau của từ ngữ, (lúc cao thấp, lúc nhẹ lúc nặng, lúc
nhanh lúc chậm, lúc mạnh lúc yếu). Tiết tấu là một trong những phẩm chất
quan trọng của thơ, làm tăng sức nặng và hiệu quả của thơ. Âm luật là cách
thức phối hợp bằng trắc và quy luật ghép vần của thơ. Vần chân chủ yếu là
cuối câu dùng chữ tương đồng về nguyên âm (ghép vần nguyên ngâm). Đã là
một câu có vần thường diễn đạt một ý tương đối trọn vẹn, hình thành một tình
cảnh tương đối hoàn chỉnh, hoặc biểu hiện một tình điệu thống nhất. Vần luật
còn làm cho ngôn ngữ thơ ca hình thành một quan hệ hài hòa, khiến cho câu
thơ trước sau có sự hô ứng. Không chỉ có tác dụng gắn kết ngôn ngữ, vần còn
khiến cho thơ trở nên dễ thuộc. Đối ngẫu là một loại phương thức tu từ đặt câu
chữ ngang hàng, đối xứng nhau, tương quan hoặc tương phản về nội dung,

Ngôn ngữ bình thường trong đời sống hàng ngày được nâng lên thành ngôn từ
nghệ thuật trong thơ, không còn câu thúc bởi việc sử dụng điển cố văn học.
Ví dụ:
“Ngoài đê thăm thẳm không người đi vắng vẻ,
Lũ chuồn chuồn đang giỡn nắng đuổi nhau bay.
Nhưng thỉnh thoảng có tiếng nhạc đồng buồn buồn
Của vài người cưỡi ngựa đến xua ngay”.
(Trưa hè- Anh Thơ) 16
b. Về nội dung, Thơ mới có nội dung đa diện, phức tạp, không bị gò ép
trong những đề tài trăng, hoa tuyết, nguyệt kinh điển; mang đậm cái “tôi” trữ
tình, thoát khỏi cái “ta” phong kiến chủ nghĩa.
Ví dụ:
“Tôi là một kẻ mơ màng
Yêu sống trong đời giản dị, bình thường,
Cùng với Nàng Thơ tháng năm ca hát,
Chúng tôi quen cảnh mịt mùng bát ngát
Của non cao, rừng cả; cảnh đìu hiu
Chốn đồng xa sương trắng chập chờn gieo”
(Trả lời – Thế Lữ)
c. Về thi pháp, Thơ mới chịu ảnh hưởng của các trào lưu, khuynh hướng
hiện đại trong thơ ca phương Tây như chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa lãng
mạn, chủ nghĩa duy mỹ, chủ nghĩa ấn tượng, duy hiện đại v.v…
Ví dụ, bài thơ Sương rơi của Nguyễn Vĩ chịu ảnh hưởng rõ rệt từ bài Đàn
thu của Pôn Vec-len:
“Sương rơi
Nặng trĩu
Trên cành

kiến để đến với thời kì hiện đại.
b. Hạn chế của Thơ mới
Có nhiều ý kiến về hạn chế của Thơ mới. Tuy nhiên, có một hạn chế
mang tính đặc trưng của phong trào Thơ mới khó có thể phủ nhận. Điều này
khiến cho bạn đọc đời sau cũng có thể rút kinh nghiệm khi tiếp thu những giá
trị tinh hoa của Thơ mới. Thơ mới là tiếng nói của giai tầng tư sản và tiểu tư
sản thành thị, đây là bộ phận xã hội non trẻ, mới hình thành ở Việt Nam, còn
yếu ớt; lại sống trong thời kì lịch sử đen tối của dân tộc, đồng thời chịu ảnh
hưởng của văn học lãng mạn Pháp và phương Tây thời kì suy đồi,… nên tiếng
nói của họ mang tính tiêu cực. Tính tiêu cực đó thể hiện rõ trong những nỗi
buồn sâu sắc, sự bế tắc và tư tưởng thoát li cuộc sống. Đó cũng là sự thiếu
vắng tinh thần tranh đấu, tính lạc quan, niềm tin vào cuộc sống… 18
1.1.1.4. Các tác gia, tác phẩm Thơ mới được dạy học trong trường phổ thông
Trong một thời gian ngắn (khoảng trên mười năm), thời đại Thơ mới đã
sản sinh ra hàng loạt nhà thơ nổi tiếng, vĩnh viễn để lại tên tuổi trong lịch sử
văn học nước nhà: Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nguyễn
Bính, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương,
Tú Mỡ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ…Như trăm hoa đua nở, mỗi
nhà thơ là một loài hoa, hoàn toàn tự do bộc lộ bản sắc riêng, dường như
không chịu một gò bó nào của ngoại cảnh, trừ sự thôi thúc của chính cái “nhân
bản” trong con người họ và thiên hướng nghệ thuật của họ. Trong phong trào
ấy có rất nhiều tác giả nổi tiếng. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh
và Hoài Chân đã chọn được tác giả, như những vì tinh tú trên nền trời Thơ mới
Việt Nam giai đoạn 1930- 1945. Ở đây chúng tôi chỉ xin điểm qua một số tác
giả có tác phẩm trong CT Ngữ văn THPT:
(1) Thế Lữ - “lãnh tụ của phong trào Thơ mới”
Thế Lữ xuất hiện như một vận động viên quyền anh nặng kí, điểm đúng

cho Thơ mới, ông đã góp phần đem lại sự chiến thắng cho Thơ mới. Mang
tâm trạng chung của thế hệ mình, Lưu Trọng Lư đến với thơ bằng cả tâm hồn
sầu mộng của mình. Trong thơ ông, mọi hình ảnh mọi âm thanh của cuộc sống
đều được vào thế giới thơ mộng. Chỉ một làn nắng mới, một tiếng chim hót
cũng đưa thi sĩ trở về dĩ vãng, thế giới của kỷ niệm buồn thương. Lưu Trọng
Lư rất nhạy cảm với những rung động mơ hồ của thiên nhiên, của nội tâm. Từ
tiếng thổn thức của trăng mờ: Còn đâu ánh trăng mờ - Mơ trên làn tóc rối, đến
con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu cũng đem lại một cảm giác buồn man
mác trong thơ ông. Hay đôi mắt buồn của người đẹp bên cửa sổ: Ðôi mắt em
lặng buồn . Nhìn thôi mà chẳng nói. Tất cả đều chập chờn như trong mơ và
bàng bạc một mối sầu hoài cảm. Lưu trọng Lư hầu hết diễn tả những cái buồn
bên trong. Tiếng thổn thức của mùa thu, cái rạo rực trong lòng người cô phụ
không nghe được từ bên ngoài. Bài “Tiếng thu” là bài thơ nổi tiếng của Lưu
Trọng Lư. Bài thơ không chỉ tạo hình, tạo dáng cho mắt thấy tai nghe mà cho
tâm hồn, cho cảm xúc, cho tưởng tượng. Lưu Trọng Lư viết về tình yêu như
con tàu tách bến :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status