SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 1 SI MA CAI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ MỘT SỐ GIỜ GIẢNG VĂN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
NHỜ TÍCH HỢP KIẾN THỨC LỊCH SỬ
Giáo viên: Đặng Thị Thùy Dương
Chức vụ: Giáo viên
Tổ CM: Văn - Sử - Ngoại ngữ - GDCD
Đơn vị công tác: Trường THPT số 1 Si Ma Cai
Si Ma Cai tháng 03 năm 2014
1
MỤC LỤC
STT
I
1
2
3
4
5
II
1
2
3
Đối với môn Ngữ văn THPT, dạy học liên môn có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Đặc biệt là việc tích hợp kiến thức lịch sử trong một số giờ giảng văn sẽ
mang lại những hiệu quả không nhỏ. Tích hợp kiến thức lịch sử trong một số giờ
giảng văn có thể giúp học sinh hiểu về hoàn cảnh lịch sử lúc tác phẩm ra đời, hiểu
thêm về những sự kiện lịch sử được khái quát tái hiện trong tác phẩm, hiểu được
bối cảnh của truyện, … đó sẽ là cơ sở để các em hiểu sâu sắc, toàn diện về nội
dung tư tưởng cũng như giá trị của tác phẩm văn học.
Tuy nhiên, trong quá trình dạy - học văn hiện nay, không phải người giáo
viên nào khi lên lớp cũng có ý thức liên hệ kiến thức lịch sử trong các giờ giảng
văn, hoặc những giáo viên trẻ mới ra trường còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong
việc lựa chọn phương pháp, lúng túng về kiến thức, khiến giờ giảng văn giảm tính
hấp dẫn và không lôi cuốn, thuyết phục được học sinh.
Với những lí do trên, bản thân tôi nhận thấy việc tích hợp kiến thức lịch
sử trong một số giờ giảng văn là vô cùng cần thiết, không những làm tăng tính
sinh động cho bài học, mà còn cung cấp thêm kiến thức lịch sử là cơ sở để học
sinh hiểu thấu đáo tác phẩm. Bằng những kinh nghiệm thực tế thu được khi dạy
chương trình Ngữ văn lớp 12 qua hai năm học: năm họ 2012-2013 và năm học
2013-2014, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: "Nâng cao hiệu quả một số giờ
giảng văn trong chương trình Ngữ văn lớp 12 nhờ tích hợp kiến thức lịch sử".
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tìm ra những cách làm hiệu quả để nâng cao chất lượng một số giờ
giảng văn trong chương trình Ngữ văn lớp 12 thông qua việc tích hợp kiến thức
lịch sử.
+ Tăng hứng thú cho học sinh khi học tập bộ môn.
+ Cung cấp thêm kiến thức về lịch sử giúp học sinh hiểu sâu sắc thêm về
tác phẩm văn học.
+ Rèn luyện tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình tiếp nhận
và lĩnh hội kiến thức.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM
Quan điểm về nội dung và phương pháp giáo dục của Nhà nước ta là giáo
dục toàn diện. Điều 5 Luật Giáo dục ghi rõ: “Nội dung giáo dục phải đảm bảo
tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống", "Phương pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người
học". Quan điểm đó được cụ thể hóa trong việc thiết lập chương trình và biên
soạn ở sách giáo khoa theo hướng tích hợp và phương pháp dạy học tích hợp
được Bộ GD&ĐT chỉ đạo cho cán bộ quản lí giáo dục và giáo viên trực tiếp
đứng lớp học tập và áp dụng.
Thực tế, giữa các bộ môn khoa học xã hội đều có mối quan hệ với nhau
như: Giữa Lịch sử và Văn học, giữa Lịch sử và Triết học,… kiến thức của các
bộ môn trên có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Vì vậy, vận dụng nguyên tắc liên
môn trong dạy học các môn học là việc thực hiện tính kế thừa trong nhận thức
của dân tộc và thế giới từ cổ đến kim, làm cho học sinh hiểu rõ sự phát triển của
xã hội một cách thống nhất, liên tục, tránh nhận thức rời rạc, tản mạn. Đồng thời
học sinh có thể thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội,
giữa các môn học, từ đó phát triển tư duy cho học sinh.
Đặc trưng bộ môn Ngữ văn có khả năng lớn trong việc vận dụng phương
pháp dạy học tích hợp như: Nội dung, kiến thức, mục tiêu cần đạt ở ba phân
môn Đọc hiểu, Tiếng Việt, Làm văn có quan hệ mật thiết với nhau và đều hướng
tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao trình độ sử dụng Tiếng Việt và khả năng cảm
thụ văn học cho học sinh. Nội dung các bài đọc văn trong chương trình đều có
liên quan đến các kiến thức lịch sử, địa lí, … dễ dàng trong việc tích hợp kiến
thức liên môn.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Xuất phát từ thực tế, các tác phẩm văn học được đưa vào giảng dạy trong
chương trình đều ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định và phản ánh tính
chất thời đại lịch sử đó. Truyện "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài, bài thơ "Việt
Bắc" của Tố Hữu, bài thơ "Tây Tiến" của Quang Dũng, … là những tác phẩm
văn học ra đời trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954),
thể hiểu đúng được về tác phẩm. Ví dụ khi dạy bài "Tây Tiến" trong chương
trình Ngữ văn 12 tập một, giáo viên cần đặt bài thơ trong hoàn cảnh ra đời: "Tây
Tiến" là tên của một đơn vị bộ đội được thành lập năm 1947, giữa những ngày
đầu vô cùng gian khổ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lính Tây
Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, trí
thức trẻ. Đơn vị này hoạt động chủ yếu trên địa bàn núi rừng miền Tây Bắc sang
tới Thượng Lào, có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt - Lào và phối hợp với bộ đội
Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp. Sinh hoạt vô cùng thiếu thốn và
gian khổ nhưng lính Tây Tiến vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng.
Quang Dũng có mặt trong đoàn quân Tây Tiến từ ngày đầu thành lập, là đại đội
trưởng ở đó đến cuối năm 1948 rồi chuyển sang đơn vị khác. Cuối năm 1948 tại
Phù Lưu Chanh (Hà Tây), Quang Dũng nhớ đơn vị cũ mà viết bài thơ này, ban
đầu đặt tên là Nhớ "Tây Tiến", sau đổi lại là "Tây Tiến". Học sinh hiểu hoàn
cảnh ra đời bài thơ gắn với mốc lịch sử của dân tộc ta trong kháng chiến chống
Pháp, chính là cơ sở để hiểu nỗi nhớ của nhà thơ về đơn vị cũ, cũng là cảm xúc
chủ đạo chi phối, xuyên suốt cả 3 khổ thơ trong bài thơ "Tây Tiến".
3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
3.1. Cách dạy tích hợp
Trong các giờ giảng văn, giáo viên lựa chọn những bài giảng phù hợp để
tích hợp kiến thức lịch sử. Cách làm của giáo viên phải linh hoạt, khéo léo, cần
đảm bảo kiến thức trọng tâm của bài học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng quy
định. Việc vận dụng tích hợp kiến thức lịch sử chỉ nhằm làm cho bài học thêm
sinh động, khắc sâu thêm kiến thức, phát huy khả năng liên hệ, chủ động, tích
cực của học sinh. Tuyệt đối không lạm dụng kiến thức lịch sử để biến giờ giảng
văn thành giờ dạy lịch sử, không liên hệ quá lan man làm mất trọng tâm của bài
6
học, không làm phân tán sự chú ý của học sinh, đồng thời việc lựa chọn kiến
thức lịch sử để đưa vào bài học phải đảm bảo tính phù hợp, hiệu quả, đảm bảo
Campuchia còn có ba "nước" Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, tất cả đặt dưới sự
lãnh đạo của quan toàn quyền Pháp! Như vậy các lực lượng thù địch đang lăm le
tái chiếm nước ta, ở miền Nam, thực dân Pháp nấp sau lưng quân đội Anh (thay
mặt đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật) đang tiến vào Đông Dương,
ở miền Bắc là quân đội Tưởng Giới Thạch, tay sai của đế quốc Mỹ, đã chực sẵn
ở biên giới; mâu thuẫn giữa Anh - Pháp - Mỹ và Liên Xô có thể làm cho Anh Mỹ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở lại Đông Dương. Trong khi đó, để
chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ hai này, thực dân Pháp đã tung ra những lý
lẽ trong dư luận Thế giới rằng: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp có
7
công khai hoá đất nước này, nay trở lại là lẽ đương nhiên sau khi phát xít Nhật
bị quân đồng minh đánh bại.
Tình hình trong nước: Để chống lại âm mưu đế quốc, bảo vệ chủ quyền
độc lập của mình, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh (do Đảng cộng sản Việt Nam
lãnh đạo) nhân dân ta tranh thủ thời cơ Hồng quân Liên Xô đánh bại phát xít
Nhật ngày 15/8/1945, đã đứng lên khởi nghĩa ở Hà Nội ngày 19/8, ở Huế ngày
23/8 và ở Nam Bộ ngày 25/8. Chỉ trong vòng một tuần lễ, nhân dân cả nước đã
giành được chính quyền. Ngày 26/8/1945, Bác Hồ rời chiến khu Việt Bắc trở về
Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Bác đã soạn thảo bản Tuyên ngôn
độc lập. Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chính phủ lâm thời
ra mắt quốc dân và Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa, trước khi quân Anh và quân Tưởng tràn vào Việt Nam.
Nếu không đặt “Tuyên ngôn độc lập” trong hoàn cảnh ra đời gắn liền với
những sự kiện lịch sử như trên, học sinh sẽ không thấy hết được giá trị và ý
nghĩa của bản Tuyên ngôn. Ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, nên
bản Tuyên ngôn độc lập không chỉ khẳng định chủ quyền của Việt Nam mà còn
có vai trò đánh đòn phủ đầu vào âm mưu tái chiếm Việt Nam của Thực dân
Pháp và âm mưu can thiệp vào Việt Nam của các đế quốc khác, tranh thủ sự
đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế. "Tuyên ngôn độc lập" đánh dấu một mốc
Lịch sử nêu rõ: mùa thu năm 1940, phát xít Nhật tràn qua biên giới Việt –
Trung vào Việt Nam để mở rộng căn cứ đánh Đồng minh. Vì quá bất ngờ nên
thực dân Pháp đã mở cửa nước ta rước Nhật. Bắt đầu từ đây nhân dân Việt
Nam chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Đã nhiều lần Việt Minh kêu gọi thực dân
Pháp đứng về phía Việt Minh để chống Nhật. Thực dân Pháp chẳng những
không nghe mà còn tiếp tục chém giết những người yêu nước thương nòi của
ta. Trong vòng 5 năm trời (từ mùa thu năm 1940 đến 19 tháng 3 năm 1945)
thực dân Pháp đã hai lần nhục nhã bán Việt Nam cho Nhật. Điều này chứng tỏ
rằng thực dân Pháp không hề đứng về phía Đồng minh chống Nhật mà là kẻ
đầu hàng phát xít Nhật một cách nhục nhã.
9
Các kiến thức lịch sử trên được giáo viên bình luận, thuyết trình xen kẽ
vào các ý chính, mỗi phần bình luận chỉ sử dụng tối đa là 2 đến 3 phút. Cách
tích hợp trên giúp học sinh hình dung rõ ràng về hoàn cảnh lịch sử trong nước
cũng như thế giới khi bản "Tuyên ngôn độc lập" ra đời, từ đó giúp các em cảm
nhận sâu sắc mục đích, giá trị và ý nghĩa của bản Tuyên ngôn cũng như cách
lập luận đanh thép, thuyết phục của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
3.2.2. Tích hợp kiến thức lịch sử khi dạy bài "Việt Bắc" của Tố Hữu
Bài thơ "Việt Bắc" là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một thành tựu
quan trọng của thơ ca kháng chiến chống Pháp.
Khi dạy đoạn trích "Việt Bắc" (Chương trình Ngữ văn 12 tập một), phần
"Tìm hiểu chung", mục tìm hiểu tác phẩm, giáo viên có thể dùng phương pháp
phát vấn trong thời gian 2 phút, yêu cầu học sinh trình bày vài nét về tập thơ
"Việt Bắc" và hoàn cảnh ra đời của bài thơ. Sau khi học sinh trình bày, giáo viên
nhấn mạnh: "Việt Bắc" là tập hùng ca của kháng chiến toàn dân tám năm ròng
rã chống thực dân Pháp, tập thơ phản ánh đầy đủ con đường chiến đấu gian lao
và sự trưởng thành của dân tộc Việt Nam qua những dấu ấn, hình ảnh về cuộc
kháng chiến.
Việt Bắc và dự báo những diễn biến tư tưởng trong hoà bình.
Ngoài ra, trong phần "Đọc - hiểu văn bản", khi phân tích các đoạn thơ,
giáo viên có thể tích hợp kiến thức lịch sử khi bình giảng một số câu thơ trong
bài thơ như:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Phân tích câu thơ "Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng", giáo viên sử
dụng phương pháp phát vấn, yêu cầu học sinh nêu hiểu biết "Mười lăm năm" là
thời gian nào? Có ý nghĩa gì? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên bình giảng tích
hợp kiến thức lịch sử: “Mười lăm năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ
năm 1940 thời dân ta kháng Nhật. Căn cứ địa Việt Bắc được thành lập vào năm
1941, sau 30 năm tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc, Người
dừng chân ở Pắc Bó, cùng Trung ương thành lập căn cứ địa Việt Bắc để chuẩn
bị cho Tổng khởi nghĩa. Tiếp theo là phong trào Việt Minh (liên minh chính trị
do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập vào ngày 19 tháng 5 năm 1941 với
mục đích là liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các
đoàn thể dân chúng yêu nước, cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp). Đồng thời
“mười lăm năm” cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ
vô vàn giữa cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc.
Hay khi phân tích hai câu thơ:
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa
Giáo viên dùng phương pháp phát vấn để học sinh trình bày hiểu biết về
các địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái… Tuy nhiên do trình độ và hiểu biết
của học sinh còn hạn chế nên sau khi học sinh trả lời, giáo viên tích hợp kiến
thức lịch sử để giới thiệu thêm: Những địa danh lịch sử ở mảnh đất Tân Trào đã
đi vào thơ ca và in đậm trong những trang sử vàng của dân tộc. Khu di tích lịch
sử Tân Trào là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cơ quan trung ương ở và làm
việc trong những ngày tiền khởi nghĩa và thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp, nằm trên địa bàn các xã của hai huyện Sơn Dương và Yên Sơn, tỉnh
tích hợp kiến thức lịch sử để làm rõ nguyên nhân dẫn đến nạn đói thảm khốc
năm Ất Dậu ở nước ta.
Tiếp theo ở phần tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác, giáo viên dùng phương
pháp phát vấn, yêu cầu học sinh đọc "Tiểu dẫn" trong sách giáo khoa và nêu
hoàn cảnh ra đời tác phẩm. Sau khi học sinh trình bày, giáo viên dùng phương
pháp thuyết trình, trong thời gian 1 phút, nhấn mạnh thêm về thời điểm nhà văn
Kim Lân viết tác phẩm: Truyện ngắn "Vợ nhặt" được nhà văn viết lại dựa vào
một phần cốt truyện của tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" đang viết dở dang và bị mất
bản thảo. Như vậy truyện không được viết ngay tại thời điểm nạn đói năm 1945
đang diễn ra, mà được viết vào năm 1954 sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp
đã thắng lợi. Vì vậy khác với các tác phẩm ra đời trước Cách mạng tháng Tám
(như "Chí Phèo", "Lão Hạc" của Nam Cao, "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố …), "Vợ
nhặt" của Kim Lân tái hiện hiện thực xã hội với những tín hiệu lạc quan như:
"Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu,
người ta còn phá cả kho thóc của Nhật, chia cho người đói nữa đấy", "Việt Minh
phải không?" hay qua hình ảnh "lá cờ đỏ bay phấp phới" hiện lên ở đoạn văn
cuối tác phẩm.
3.2.4. Tích hợp kiến thức lịch sử khi dạy tác phẩm "Rừng xà nu" của
Nguyễn Trung Thành
"Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành là bản anh hùng ca của thời kì
kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và cảm
hứng lãng mạn của văn học Việt Nam 1954 - 1975. Tác phẩm được đưa vào
giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 12 tập hai.
Ở phần "Tìm hiểu chung", khi hướng dẫn tìm hiểu khái quát về tác phẩm,
giáo viên có thể tích hợp kiến thức lịch sử bằng phương pháp phát vấn, thuyết
trình … Vì bối cảnh của truyện là cuộc sống, chiến đấu của đồng bào người dân
tộc Strá ở ngôi làng Xô-man xa xôi hẻo lánh của núi rừng Tây Nguyên, trong
12
hứng thú, và tiếp thu bài học nhanh hơn so với những giờ học khác. Không
những vậy mà những tiết học Lịch sử có tích hợp kiến thức Ngữ văn cũng làm
cho học sinh hứng thú và bài học sinh động hơn.
Kết quả nghiên cứu tại hai lớp: 12A3 (năm học 2012-2013) và 12A4 (năm
học 2013-2014) cho thấy như sau: đối với học sinh lớp 12A3 (năm học 20122013), giáo viên tiến hành bài giảng ít chú trọng thao tác tích hợp kiến thức lịch
sử (tức là có tích hợp nhưng ít chú trọng), thì mức độ hứng thú và hiểu bài của
học sinh còn thấp. Đối với học sinh lớp 12A4 (năm học 2013-2014), giáo viên
chú trọng hơn đến việc tích hợp kiến thức lịch sử trong một số tác phẩm như:
"Tuyên ngôn độc lập" (Hồ Chí Minh), "Việt Bắc" (Tố Hữu), "Tây Tiến" (Quang
Dũng), "Vợ nhặt" (Kim Lân), "Rừng xà nu" (Nguyễn Trung Thành) và một số
tác phẩm khác thì hiệu quả tiết dạy đã nâng lên rõ rệt, học sinh hứng thú, tiếp
thu bài học nhanh hơn, hiểu bài và sôi nổi phát biểu xây dựng bài nhiều hơn.
13
Sau đây là số liệu được tổng hợp qua phiếu thăm dò ý kiến của học sinh
lớp 12A3 (năm học 2012-2013) và học sinh lớp 12A4 (năm học 2013-2014)
trường THPT Số 1 Si Ma Cai:
Phiếu thăm dò ý kiến học sinh
STT
Nội dung thăm dò
Rất hứng
thú
Kết quả
Trung
Hứng thú
bình
3
12
11
4
Tổng số
100%
10%
40%
36.7%
13.3%
Học sinh lớp
12A4 (năm học
2013-2014)
36
6
19
15
12
3
Tổng số
100%
50%
40%
10%
Học sinh lớp
12A4 (năm học
2013-2014)
36
23
11
2
Tổng số
bổ trợ thêm cho kiến thức văn học, chứ hoàn toàn không nhằm mục đích dạy
kiến thức lịch sử. Cách làm của giáo viên cần khéo léo, linh hoạt, tuyệt đối
không lạm dụng biến giờ giảng văn thành giờ dạy lịch sử.
Việc tích hợp kiến thức lịch sử trong các giờ giảng văn không chỉ dừng lại
ở chương trình Ngữ văn lớp 12, mà có thể áp dụng rộng rãi trong chương trình
Ngữ văn lớp 10 và lớp 11 THPT, đối với cả văn học Trung đại và văn học Hiện
đại. Đồng thời với việc tích hợp kiến thức lịch sử trong giờ giảng văn, giáo viên
dạy bộ môn Lịch sử cũng có thể nâng cao hiệu quả giờ dạy Lịch sử bằng việc
tích hợp kiến thức Ngữ văn. Và việc dạy học liên môn cũng có thể thực hiện ở
các môn khoa học khác.
15
III. PHẦN KẾT LUẬN
Đổi mới phương pháp dạy học hiện đang là vấn đề cốt lõi để nâng cao
chất lượng dạy học, đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải
cách giáo dục ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, việc dạy học tích hợp nhằm đổi
mới phương pháp dạy học là một công việc không dễ dàng, phụ thuộc rất nhiều
vào năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó, để làm tốt việc dạy học tích hợp, mỗi
người giáo viên nói chung, cũng như người giáo viên dạy văn nói riêng, cần
không ngừng nâng cao tinh thần học hỏi, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ,
Dạy học tích hợp đã và đang mang lại cho cả thầy và trò không gian mới
nhiều hứng thú trong lớp học. Ngày nay với sự hỗ trợ của máy tính và một số
phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giáo viên có thể tổ chức bài giảng
có nội dung tích hợp một cách sinh động, không những mang lại hứng thú và
hiểu biết cho học sinh, mà chính giáo viên trong quá trình sưu tầm tài liệu dạy
học cũng tự làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân người viết về việc nâng cao
hiệu quả một số giờ giảng văn qua việc tích hợp kiến thức lịch sử. Do điều kiện