SKKN một cách rèn luyện sự sáng tạo cho học sinh trong một giờ đọc hiểu tác phẩm văn học nhằm nâng cao chất lượng học tập trong môn ngữ văn của học sinh - Pdf 32

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài.
Trong những năm qua, ngành giáo dục đã có nhiều cải cách quan trọng từ
giáo dục ở bậc tiểu học cho đến đào tạo đại học và sau đại học. Riêng ở phổ thông,
sự đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện, rõ nhất là về chương trình, sách giáo
khoa và đặc biệt là phương pháp dạy học. Đặc biệt trong năm học 2013 – 2014 theo
hướng đổi mới kiểm tra đánh giá, rõ rệt nhất là trong kì thi TNTHPT sắp tới đối với
bộ môn Văn, việc dạy cho học sinh cảm thụ, yêu thích tác phẩm văn học trong
chương trình nói chung và môn Văn nói riêng là việc làm cấp bách và cần thiết.
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay
đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích
cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn
luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức
vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui
hứng thú trong học tập. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một cách rèn luyện sự sáng
tạo cho học sinh trong một giờ đọc hiểu tác phẩm văn học nhằm nâng cao chất
lượng học tập môn Ngữ văn của học sinh lớp 12A2 trường THPT số 2 Văn
Bàn”. Với đề tài này tôi mong muốn giúp học sinh bước đầu có được sự sáng tạo
trong giờ đọc văn nói chung nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn và chất
lượng chung của nhà trường.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Dạy văn là dạy làm người, dạy cho học sinh luôn hướng tới “chân, thiện,
mĩ” học sinh được hoàn thiện nhân cách, đồng thời dạy cách nói, cách viết sao cho
đúng và hay. Vì lẽ nhiệm vụ của người dạy văn là rất quan trọng. Người giáo viên
không chỉ truyền thụ cho học sinh kiến thức văn hóa phổ thông về văn học mà còn
dạy cho các em cách làm người bởi “văn học là nhân học”. Để làm được điều đó
người giáo viên phải tìm tòi những cách dạy hay và phù hợp với đối tượng học sinh
của mình. Do đặc trưng môn học, môn văn là môn khá trừu tượng, đòi hỏi người
học phải hiểu tác phẩm, những vấn đề xung quanh tác phẩm nhưng hiểu thôi thì
chưa đủ mà còn phải cảm, khi còn phải đồng sáng tạo với nhà văn. Song ngày nay
do nhu cầu của xã hội nên nhiều em học sinh không “ mặn mà” với các môn xã hội

yếu một số phương pháp sau
1. Đúc rút kinh nghiệm từ bản thân trong quá trình giảng dạy môn ngữ văn ở
trường THPT.
2. Học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp.
3. Tham khảo một số tài liệu nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học
văn.
- Rèn luyện tư duy sáng tạo trong giảng dạy văn chương. ( Nguyễn Trọng
Hoàn- NXBGD 2001)
- Đổi mới giảng dạy văn trong nhà trường. ( ĐHSP Huế- 2002)
- SGK Ngữ văn 11, 12.
PHẦN II: NỘI DUNG
I. Những quan điểm chung.
1. Cơ sở lý luận:
a. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã phân tích và nhận
định sâu sắc thực trạng phương pháp giảng dạy ở nước ta thời gian qua còn chậm
đổi mới, chưa phát huy được khả năng sáng tạo của người học và yêu cầu đổi mới
2


mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện thành lối tư duy sáng tạo ở người học.
b. Luật giáo dục của nước CHXHCNVN trong điều 4 (yêu cầu về nội dung
phươg pháp giáo dục) cũng chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích
cực tự giác, chủ động , tư duy, sáng tạo ở người học, bồi dưỡng năng lực tự học,
lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục - trang 9 - 1998)
2. Cơ sở thực tiễn:
a. Trong bộ môn văn học ở trường phổ thông trung học nhiều năm nay thự tế
đã có nhiều đổi mới đáng kể nhưng vẫn còn có hiện tượng học sinh học theo kiểu
cũ: đọc thuộc, sao chép, nói lại ý sách vở thầy cô mà không hoặc ít có sự sáng tạo
khi tiếp xúc tác phẩm văn chương.

Trong cảm nhận tác phẩm văn học, người đọc phải dùng liên tưởng, tưởng
tượng để hình dung, để hiểu ý đồ, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng nhà văn trong tác
phẩm, bởi vì nhà văn đã dùng liên tưởng, tưởng tượng làm phương tiện, cách thức,
thủ pháp nghệ thuật để sáng tác tác phẩm văn học. Quá trình tiếp xúc, tiếp thu một
giờ giảng văn trên lớp của học sinh phải nhờ ào tài năng, kĩ năng của người thầy
qua các thao tác đọc, phân tích, bình giảng, nhận xét để bằng các giác quan, học
sinh có thể hiểu tác phẩm qua hệ tjống ngôn ngữ, hình tượng, các thủ pháp nghệ
thuật trong tác phẩm. Sự dẫn dắt của người thầy rất quan trọng, vì thế thầy muốn
dẫn dắt học sinh bước vào khám phá tác phẩm thì trước hết phải hiểu tác phẩm,
thâm nhập vào tác phẩm một cách tự nhiên, thoải mái và có khả năng phân tích,
đánh giá tác phphẩm và qua sự cảm thụ của mình hướng cho học sinh cảm thụ cái
hay, chỗ độc đáo của tác phẩm để từ đó từng bước hiểu ra vấn đề nhà văn đặt ra và
giải quyết trong tác phẩm.
Đề cập đến bản chất của giờ giảng văn, GS Đặng Thai Mai cho rằng: “giảng
văn trước hết là theo dõi trong nếp áng văn tất cả cái tinh vi về tư tưởng, cái độc
đáo về nghệ thuật của một tác giả. Hiểu như vậy giảng văn trước hết là chỉ ra sự
thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kĩ thuật và tư tưởng trong một tác
phẩm văn chương ”(Giảng văn Chinh phụ ngâm- Đặng Thai Mai- ĐHSPI HN;
1992). Vậy thì muốn chỉ ra sự thống nhất ấy trong tác phẩm rõ ràng lao động của
giáo viên dạy văn vừa phải có tính nghệ thuật vừa phải có tính sư phạm. Mà tính
nghệ thuật của giờ giảng văn tất nhiên lại phải phụ thuộc vào tài năng của giáo viên
và trìnhđô, khả năng của học sinh. Như trên đã nói, tiếp xúc với tác phẩm văn
chương, học sinh cần có sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú, rõ ràng mới có thể
cảm nhận được cái hay của tác phẩm, cái tài của tác giả. Việc đó theo tôi hoàn toàn
phụ thuộc vào khả năng tiếp thu của học sinh qua tài năng dẫn dắt của giáo viên.
Vậy thì việc đầu tiên theo tôi người thầy dạy văn cần phải làm đó là phải bằng mọi
cách tác động vào tư duy sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp nhận tác phẩm
văn học. Sự tác động ấy có thể bằng nhiều hình thức khác nhau. Có thể đó là giọng
đọc thiết tha diễn cảm khi phân tích tác phẩm trữ tình, giọng đọc hài hước dí dỏm
khi tiếp cân tác phẩm trào phúng, giọng đọc đanh thép mạnh mẽ khi thể hiện thái

- Giảng bài “ Ai đã dặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ta
có thể dẫn dắt học sinh bằng lời giới thiệu, lời dẫn về con sông Hương của Huế ở
vẻ đẹp tự nhiên, văn hoá, lịch sử; hoặc cho học sinh nghe đoạn nhạc “Dòng sông ai
đã đặt tên?” kết hợp một số hình ảnh về sông Hương, xứ Huế và hỏi cảm nhận của
học sinh về dòng Hương.
- Giảng bài “ Sóng ” của Xuân Quỳnh, ta có thể bắt đầu bằng một đoạn bài
hát về biển, một bài thơ có cùng chủ đề hoặc một trò chơi, một bài hát về tình yêu
từ đó gợi dẫn về vấn đề cơ bản cần tìm hiểu trong tác phẩm.
1.2. Phải khơi gợi ở học sinh sự liên tưởng, tưởng tượng phong phú từ những gì
đã có trong văn bản ngôn từ của tác phẩm bằng hệ thống câu hỏi có khả năng tạo
được tâm lí thoải mái trong tư duy của các em khi tiếp cận tác phẩm ở các dạng câu
hỏi từ khái quát đến cụ thể, từ khẳng định đến gợi mở, định hướng.
Ví dụ 1: Khi tìm hiểu tác phẩm Việt Bắc, đoạn thơ :
Ta về mình có nhớ ta
...................................
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Giáo viên có thể hỏi học sinh: em có cảm nhận gì về đoạn thơ trên?
Học sinh sẽ trả lời: Đoạn thơ là bức họa về thơ, một bức tranh tứ bình về
thiên nhiên và con người Việt Bắc tuyệt đẹp.
Ví dụ 2: Khi tìm hiểu tác phẩm “ Chiếc thuyền ngoài xa”, GV có thể hỏi: Cảm
nhận của em về bức tranh thiên nhiên ở đoạn đầu tác phẩm?
Học sinh: Bức tranh được đặc tả với vẻ đẹp vừa cổ kính vừa mơ màng. Giữa không
gian bao la của biển, của bầu trời, hình ảnh chiếc thuyền cùng con người đang thu
lưới sau một đêm lao động vất vả ẩn hiện trong những mảng màu sáng tối của ánh
bình minh trên biển sớm mờ sương. Cảnh mang vẻ đẹp lãng mạn, gợi lên một cuộc
sống thanh bình, yên ả và cũng thấy được tình yêu mà người nghệ sĩ dành cho nghề
5


nghiệp của mình, một người nghệ sĩ luôn đam mê, hết mình vì cái đẹp, bởi cái đẹp

- Phải biết và có thói quen cảm nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại, đặc trưng thi
pháp.
1.5. Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ở giờ giảng văn không chỉ dừng
lại ở những thao tác trên mà nó còn đòi hỏi ở cả thầy lẫn trò một cách học, cách dạy
hợp lý, khoa học, linh hoạt, không phải bài nào cũng giảng và liên tưởng theo một
cách, không phải tác giả tác phẩm nào cũng một dạng lời bình mà phải tùy thuộc
vào hoàn cảnh, tác phẩm cụ thể để hướng dẫn học sinh cách cảm thụ, cách phát
hiện. Về phía học sinh, theo tôi nếu cầu toàn 100% học sinh đều cảm thụ tốt tác
phẩm văn học bằng tư duy của các em thì khó mà đạt được. Vì vậy phải tùy đối
tượng, tùy năng lực cảm thụ văn học của từng đối tượng mà hướng dẫn chỉ đạo các
em phát hiện sáng tạo phù hợp: Hệ thống câu hỏi đặt ra phải linh hoạt, phải có sự
6


phân chia đối tượng, có câu hỏi khó cho học sinh giỏi, câu hỏi phù hợp cho học
sinh trung bình, thậm chí khi đặt câu hỏi mà học sinh không trả lời được thì giáo
viên phải gợi dẫn, giúp học sinh tìm hiểu nhã tự, biện pháp tu từ để hcọ sinh hiểu
nội dung của câu, của đoạn, của bài thơ ...Có thế một giờ giảng văn mới đảm bảo
được cùng lúc sự sáng tạo cho các em.
1.6. Để giúp học sinh có được sự sáng tạo trong giờ giảng văn, giáo viên nên
hướng dẫn cho học sinh đi theo con đường thi pháp học bởi vì thi pháp học sẽ giúp
học sinh hiểu đúng, nhanh chóng phát hiện ra những điểm sáng thẩm mỹ ở tác
phẩm. Muốn vậy, người thầy phải nắm và vận dụng linh hoạt, vững vàng lý luận thi
pháp trong quá trình giảng văn.
Ví dụ: Với thơ, nên đi từ mạch cảm hứng, cảm xúc của nhân vật trữ tình hoặc hình
tượng trữ tình trong tác phẩm ( Chẳng hạn khi tìm hiểu bài thơ “ Sóng” của Xuân
Quỳnh ta có thể phân tích hình tượng sóng và hình tượng em; Khi tìm hiểu bài thơ
“Đất Nước ” của nguyễn Khoa Điềm ta phân tích theo mạch trữ tình- chính luận
của nhân vật trữ tình trong bài thơ).
Với văn xuôi, có tác phẩm giảng bằng thi pháp nhân vật, có tác phẩm giảng

SÓNG
- Xuân Quỳnh –
I. Mục tiêu bài học: Giúp HS
1. Kiến thức:- Cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn và niềm khát khao của người phụ nữ
về một tình yêu thuỷ chung, bất diệt.
- Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật kết cấu, xây dựng hình
ảnh, nhịp diệu và ngôn từ của bài thơ.
2. Kỹ năng: Rèn kỹ năng nghị luận bài thơ, đoạn thơ.
3. Thái độ: Kỹ năng sống:
- Giao tiếp: trình bỳ trao đổi về mạch cảm xúc của bài thơ, về sự thể hiện hình
tượng sóng và em trong bài thơ.
- Tư duy sáng tạo: phân tích, so sánh, bình luận về vẻ đẹp của tình yêu trong thơ ca,
về vẻ đẹp của gương mặt thơ Xuân Quỳnh.
- Tự nhận thức về vẻ đẹp tình yêu trong cuộc sống, qua đó tự rút ra bài học cho cá
nhân.
II. Phương pháp, phương tiện.
- Phương pháp: Phát vấn, giảng bình, thảo luận nhóm, gợi mở.
- Phương tiện: SGK, GA, TBTG.
III. Tiến trình tổ chức giờ học:
- ÔĐTC:
- KTBC: Tình cảm của cháu giành cho người bà trong bài thơ Đò Lèn? Liên
hệ bản thân em?
- BM: *HĐ1: Khởi động: GV cho hoc sinh nghe bài hát Thuyền và biển
nhạc Phan Huỳnh Điểu, thơ Xuân Diệu. Sau khi nghe xong. Gv hỏi; Bài hát viết về
đề tài gì? Cảm nhận chung về bài hát? Sau đó dẫn vào bài học.
HĐ giáo viên và học sinh
Yêu cầu cần đạt
*HĐ 2: Tìm hiểu chung
I. Tìm hiểu chung:
.- Gv: Nêu vài nét về tác giả XQ, 1. Tác giả: Xuân Quỳnh (1942 - 1988) (SGK)

III. Đọc hiểu văn bản:
1. Hình tượng “sóng” với khát vọng tình
* HĐ4:Đọc hiểu văn bản.
yêu:
- Bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng
-Gv: Hình tượng bao trùm, xuyên “sóng”. “Sóng” là hình ảnh ẩn dụ của tâm
suốt bài thơ là hình tượng sóng. trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân,
Mạch liên kết các khổ thơ là phân thân của cái tôi trữ tình. Bài thơ được
những khám phá liên tục về sóng. kết cấu trên cơ sở nhận thức sự tương đồng,
Hãy phân tích hình tượng sóng?
hoà hợp giữa hai hình tượng trữ tình: “sóng”
và “em” (cấu trúc song hành). “Sóng” và
- Hs: trả lời cá nhân.
“em” tuy hai mà một, có lúc phân chia, có lúc
- Gv: nhận xét và chốt ý.
hoà nhập  sự phong phú, phức tạp, nhiều
-Gv: Giữa sóng và em trong bài khi mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tâm
thơ có mối quan hệ ntn? Nhận xét hồn người con gái đang yêu.
về NT kết cấu của bài thơ?
- Mở đầu bài thơ là trạng thái tâm lý đặc biệt
- Hs: trả lời cá nhân.
của một tâm hồn khao khát yêu đương đang
- Gv: nhận xét và chốt ý.
tìm đến một tình yêu rộng lớn hơn với nhiều
trạng thái đối cực, khi dịu êm, khoan thai, khi
dồn dập, dữ dội: Dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng
lẽ (kết cấu đối lập, đặt từ cuối câu tạo điểm
- Gv: Chỉ ra sự tương đồng giữa nhấn).
trạng thái tâm hồn của người phụ - Trái tim người con gái đang yêu không chịu
nữ đang yêu với những con sóng? chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn

đồng hành với nỗi nhớ - nỗi nhớ thường trực
-Gv: Nhận xét về thể thơ, âm cả khi thức, khi ngủ, bao trùm cả ko gian và
điệu, nhịp điệu bài thơ? Âm điệu, thời gian - ko chỉ tồn tại trong ý thức mà còn
nhịp điệu đó được tạo nên bởi len lỏi vào trong tiềm thức, xâm nhập vào cả
những yếu tố nào?
giấc mơ. Nỗi nhớ cồn cào, da diết, ko thể nào
- Hs: trả lời cá nhân.
yên, ko thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn, dào dạt
- Gv: nhận xét và chốt ý.
như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi,
vô hạn - Thể thơ 5 chữ, ngắt nhịp linh hoạt,
phóng túng, nhịp thơ là nhịp sóng (sóng biển sóng lòng) dào dạt, sôi nổi, mãnh liệt: “Con
-Gv: Khơi gợi để phát huy cảm
sóng ... còn thức”.
nhận riêng của mỗi HS.
- Khát khao yêu đương của người con gái
được bộc lộ mãnh liệt nhưng cũng thật giản dị:
sóng khát khao tới bờ cũng như em luôn khát
-Gv: Cảm nhận hai khổ cuối của khao có anh. Ty của người con gái vừa thiết
bài thơ?
tha mãnh liệt, vừa trong sáng, giản dị, thuỷ
- Hs: trả lời cá nhân.
chung, duy nhất: “Dẫu ... phương” (phương
- Gv: nhận xét và chốt ý.
tâm trạng, phương của người phụ nữ đang yêu
say đắm, thiết tha).
- Người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết yêu đời
vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới
một niềm tin vào hạnh phúc tương lai, vẫn tìm
vào cái đích cuối cùng của một tình yêu lớn

nhớ này.
HĐ6. Củng cố dặn dò, hướng dẫn học bài:
- GV yêu cầu học sinh khái quát nội dung của bài học (những ấn tượng cảu
học sinh sau khi học xong bài học).
- Học thuộc bài thơ và viết một bài suy nghĩ của cá nhân về tình yêu học trò
hiện nay.
- Chuẩn bị nội dung bài học tiếp theo. Gv hướng dẫn cụ thể nội dung tiết học
sau.
IV. Rút kinh nghiệm sau giờ dạy: Dạy bài thơ này, giáo viên cần cho học
sinh tìm hiểu trước về nhà thơ Xuân Quỳnh, tìm những bài thơ của các nhà thơ
khác nhưng cùng chủ đề tình yêu, liên hệ thực tế việc yêu đương tự do không có
giới hạn hiện nay của học sinh, học sinh tự rút ra bài cho bản thân mình, chú ý đến
việc gaío dục kĩ năng sống cho học sinh.
III. KẾT QUẢ.
Trong năm học 2013-2014, qua 3 lớp 12A1,12A2,12B1 tôi trực tiếp giảng dạy,
tôi đã vận dụng một số thao tác trên ở bài giảng văn ”Sóng” và bài “ Ai đã đặt tên
cho dòng sông” để không ngừng góp phần rèn luyện, khơi gợi cho học sinh khả
năng sáng tạo ở các em. Thực tế qua các giờ dạy tôi thấy có sự thành công, đạt
được yêu cầu mục đích đã định nhưng mức độ nắm bắt bài học của từng đối tượng
học sinh khác nhau cũng chưa đồng đều. Song kết quả tương đối khả quan ở lớp
12A2. Một kết quả tôi nhận thấy rõ là các em hoạt động tích cực, tham gia thảo
luận có hiệu quả và đặt ra nhiều vấn đề khá thú vị. Qua đó các em rèn luyện kĩ năng
động não, hợp tác, phản biện.
Kết quả cụ thể như sau:
Lớp TS Bài Số HS được điểm Số HS được Số HS đạt Ghi
học khảo dưới TB trước khi điểm dưới TB điểm TB tăng. chú
sinh sát
áp dụng
sau khi áp dụng
12A2 34

người dạy và người học phải có một trường liên tưởng, một sự tưởng tượng phong
phú, linh hoạt để từ đó người dạy có thể đưa người học vào tác phẩm bằng hệ thống
các câu hỏi, bằng lời bình, cách đọc, lời phân tích và người học tiếp nhận tác phẩm
bằng quá trình tích luỹ từ ngữ, vốn hiểu biết và khả năng cảm nhận được tác phẩm
văn chương để lĩnh hội từ người dạy những gì tâm đắc nhất, đồng thời mở rộng tầm
hiểu biết, suy nghĩ trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đã từng nói: “ Học sinh nhớ nhiều, học nhiều là điều đáng khuyến khích nhưng đó
quyết không phải là điều chủ yếu. Điều chủ yếu là dạy học sinh cách suy nghĩ sáng
tạo. Chúng ta phải xem lại cách giảng dạy văn trong trường phổ thông của chúng
ta, không nên dạy như cũ bởi vì dạy như cũ thì không những việc dạy văn không
hay mà việc đào tạo con người cũng không có kết quả. Vì vậy dứt khoát chúng ta
phải có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí óc của
mình và diễn tả suy nghĩ đó theo cách của mình thế nào cho tốt nhất”. Thiết nghĩ
dạy học sinh biết suy nghĩ sáng tạo trong giờ đọc văn là điều cần thiết. Đây không
phải là việc làm trong ngày một ngày hai mà phải có quá trình rèn luyện, không
ngừng phấn đấu, chuẩn bị chu đáo của thầy và cả trò mới có thể mang lại một giờ
văn hay và có hiệu quả đặc biệt mới có thể phát huy hết khả năng sáng tạo của học
sinh và có tính thiết thực.

12


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Rèn luyện tư duy sáng tạo trong giảng dạy văn chương. (Nguyễn Trọng
Hoàn- NXBGD 2001).
- Đổi mới giảng dạy văn trong nhà trường ( ĐHSP Huế- 2002)
- SGK Ngữ văn 12 (NXBGD)
- Luật giáo dục của nước CHXHCNVN- 1998.
- Giảng văn Chinh phụ ngâm- Đặng Thai Mai- ĐHSPI HN; 1992.
- Các tài liệu tham khảo khác.

2
3
11
12

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status