skkn một số biện pháp chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm ở tổ chuyên môn khối 4+5 - trường tiểu học phổng lái - Pdf 19

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO ĐỔI
MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM Ở TỔ
CHUYÊN MÔN KHỐI 4+5 - TRƯỜNG
TIỂU HỌC PHỔNG LÁI PHỔNG LÁI, THÁNG 10 NĂM 2007

gần gũi với các em, có phối hợp được các lực lượng giáo dục khác mới dạy tốt
và đánh giá chính xác được từng đối tượng học sinh cụ thể.
Trước thực tế trên đây, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm mang tên
“Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chủ
nhiệm ở Tổ chuyên môn khối 4+5 - Trường Tiểu học Phổng Lái ”.

II – Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, xác định chức
năng, nhiệm vụ cụ thể của người giáo
viên chủ nhiệm; đồng thời thống nhất
các biện pháp chỉ đạo của nhà trường trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm, đáp ứng được
yêu cầu giáo dục toàn diện học sinh trong giai đoạn mới.
III - Đối tượng nghiên cứu
Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp; đổi mới nội dung
công tác chủ nhiệm lớp; các biện pháp chỉ đạo của nhà trường.
IV – Khách thể và địa bàn nghiên cứu:
1. Khách thể:
-Giáo viên: 04 GV trực tiếp đứng lớp khối 4+5.
-Học sinh: 76 HS khối lớp 4+5.
2. Địa bàn nghiên cứu:
-Trường tiểu học Phổng Lái – Thuận Châu – Sơn La
V – Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Xây dựng cơ sở lý thuyết:
-Xác định chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ nhiệm lớp; nội dung
công tác chủ nhiệm lớp; các biện pháp chỉ đạo của nhà trường.
-Nghiên cứu các tài liệu về Quản lý trường tiểu học, các Giáo trình đào
tạo giáo viên tiểu học bậc Đại học các môn: Giáo dục học - Tâm lý học - Nghiên

B – PHẦN NÔI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận
Trước hết, giáo viên chủ nhiệm là người quản lý giáo dục toàn diện
học sinh một lớp.
Cần hiểu quản lý giáo dục không chỉ là nắm được những chỉ số của quản
lý hành chính như là tên, tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình, trình độ học lực và
hạnh kiểm của học sinh mà còn phải dự báo xu hướng phát triển nhân cách
của học sinh trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục, dạy học
phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi học sinh. Muốn thực hiện chức năng
quản lý giáo dục toàn diện, giáo viên chủ nhiệm phải có những trí thức cơ bản
về tâm lý học, giáo dục học và phải có hàng loạt kỹ năng sư phạm như: kỹ năng
tiếp cận đối tượng học sinh, kỹ năng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, xã hội, kỹ năng
đánh giá, kỹ năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp và phải có nhạy cảm sư phạm để
có dự đoán đúng, chính xác sự phát triển nhân cách của học sinh , định hướng
và giúp các em lường trước những khó khăn, thuận lợi, vạch ra những dự định
để chúng tự hoàn thiện về mọi mặt.
Hai là, giáo viên chủ nhiệm là người tố chức tập thể học sinh tự
quản nhằm phát huy tiềm năng tích cực của mọi học sinh. Đây là một đặc điểm riêng biệt của GVCN mà các giáo viên khác (GV
chuyên, Đoàn Đội, Dự trữ ) không có. Giáo viên chủ nhiệm cần lưu ý xây dựng
đội ngũ tự quản xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ từng năm học và tính chất phát
triển của từng tập thể học sinh. Nhiều giáo viên chủ nhiệm chỉ căn cứ vào một
số tiêu chuẩn cán bộ lớp như: học giỏi, đạo đức tốt mà ít để ý đến các yếu tố
quan trọng khác như: có uy tín với bạn bè, biết quan tâm đến người khác, gương
mẫu, biết cảm hóa các bạn Để phát huy tốt vai trò của người tổ chức, người

phong trào chung của
lớp. Đây là một công việc rất quan trọng của GVCN đối với quá trình học
tập, rèn luyện, phát triển nhân cách của mỗi học sinh, vì sự đánh giá khách quan,
chính xác, đúng mực là một điều kiện để thầy – trò điều chỉnh mục tiêu, kế
hoạch cho các hoạt động của cả lớp và mỗi thành viên. GVCN cần tránh cách
nhìn thiên vị và chỉ chú ý đến một số nội dung nhất định. Khi đánh giá từng cá
nhân học sinh nên căn cứ vào năng lực, điều kiện cụ thể của từng em, cần tránh
quan điểm khắt khe, định kiến, thiếu quan điểm động và phát triển, nhất là đối
với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, có đặc điểm tâm sinh lý đặc biệt
thì GVCN cần tham khảo. Điều quan trọng là sau khi đánh giá, cần nêu ra những
yêu cầu với thái độ nghiêm túc, tôn trọng nhân cách học sinh và với tấm lòng
thương yêu các em như con em mình. Yêu cầu của GVCN đặt ra phải được học
sinh tự giác chấp nhận, phải có nỗ lực, vượt khó, có quyết tâm thực hiện, khi đó
mục tiêu mới đạt được.
Chương II – Cơ sở thực tế
1. Vấn đề giáo viên chủ nhiệm nắm vững mục tiêu giáo dục của cấp
học, lớp học và chương trình dạy học, giáo dục của nhà trường.
Đội ngũ GV trong Tổ CM đều đạt trình độ trên chuẩn, có khả năng dạy
học tốt lớp phụ trách. Tuy nhiên, đa số GV đều chỉ nắm vững mục tiêu, chương
trình lớp mình dạy, một số ít (tổ trưởng, tổ phó) thì biết thêm về nội dung
chương trình hai khối lớp 4 và 5. Còn hiểu biết về mục tiêu, chương trình xuyên
suốt cấp học vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ tới việc tìm hiểu HS,
việc GV xây dựng kế hoạch chiến lược trong quá trình giáo dục toàn diện các
HS trong lớp.
2. Ý thức của giáo viên chủ nhiệm trong việc tìm hiểu để nắm vững
cơ cấu tổ chức của nhà trường, tham gia vào quá trình tự quản lý.
Mọi GV trong tổ đều xác định nhiệm vụ hàng đầu của mình là hoàn

Việc tự học, tự
bồi dưỡng của GV có
nhiều tiến bộ. Các thầy
cô giáo đều tham gia
các lớp đào tạo lại để
nâng cao chuẩn đào tạo.
Mỗi thầy cô đều cố
gắng là một tấm gương
sáng về đạo đức và tự
học. Tuy nhiên, để đạt
các yêu cầu về Chuẩn
nghề nghiệp GVTH
trong thời kỳ mới, sự phấn đấu nỗ lực của từng GV vẫn là những con đường dài
ở phía trước.

Chương III – Những thuận lợi và khó khăn cơ bản khi triển khai
I – Thuận lợi:
Các thành viên trong tổ hết sức ủng hộ và cam kết thực hiện thường
xuyên, cập nhật kết quả định kỳ. Trao đổi thẳng thắn về tất cả các nội dung của
đề tài đã đề cập, thảo luận dân chủ và rút kinh nghiệm.
II – Khó khăn:
Nội dung đề tài xác lập tương đối khó, tuy không mới nhưng không có
chuẩn mực cho mọi giáo viên chủ nhiệm, cho mọi lớp, mọi nhà trường và mọi vùng miền. Việc áp dụng và đánh giá kết quả của đề tài cần được nhìn nhận
trên tính toàn diện, tính ổn định và mang định hướng lâu dài.
Chương IV – Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất
lượng các nội dung công tác chủ nhiệm lớp:
1. Tìm hiểu, phân

2. Xây dựng tập thể học sinh
trong lớp đạt tiêu chí “Sao tự quản”:
2.1. GVCN phải tổ chức “bộ
máy tự quản” của lớp: Bao gồm: Lớp trưởng, lớp phó, các tổ trưởng, Đội Cờ đỏ của lớp
2.2. Quy định rõ chức năng nhiệm vụ (giao việc), hướng dẫn các nội
dung ghi chép sổ theo dõi cho từng cán bộ “tự quản”.
2.3. Giáo viên chủ nhiệm tự lập kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tự
quản xuyên suốt năm học.
3. Tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện:
3.1. Giáo dục đạo đức, pháp luật và nhân văn cho học sinh: Tổ chức thi
đua học tập, rèn luyện trong học sinh, có kiểm tra, đánh giá, tuyên dương, khen
thưởng cá nhân, nhóm, tổ trong hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học; Hoạt
động theo chủ đề về chính trị-xã hội (tuỳ theo từng thời điểm và tình hình của
lớp, của trường, của địa phương, đất nước và thế giới ), hoạt động kết nghĩa,
hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, chào mừng các sự kiện chính trị xã hội trong
nước và trên thế giới
3.2. Tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển nhận thức, trí tuệ của
học sinh: Thông qua tập thể lớp, GVCN đề ra những yêu cầu học tập đối với các
em, xây dựng suy nghĩ tập thể lành mạnh, giúp các em xác định nghĩa vụ, thái
độ, động cơ học tập đúng đắn Hướng dẫn cán bộ lớp tổ chức các nhóm học tập,
ví dụ như: Đôi bạn cùng tiến, Em yêu Toán, Câu lạc bộ Tiếng Việt Phân tích
nguyên nhân học sinh học yếu kém để giúp đỡ, tổ chức phụ đạo hàng tuần (1 – 2
buổi) với các hình thức khác nhau: theo lớp, nhóm hay từng cá nhân
3.3. Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục, vui chơi: Thường xuyên
tổ chức cho cả lớp các trò chơi, các động tác thể dục-thể thao, xem phim tập thể,
dịch các bài hát ra tiếng địa phương
4. Liên kết với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để

biết kết quả học tập, tu dưỡng
của con em họ. Ngược lại gia
đình cũng thông tin kịp thời cho
GVCN biết về những thay đổi
tích cực hoặc không tích cực của
học sinh ở nhà, ở cộng đồng để
động viên khuyến khích hay
nhắc nhở kịp thời GVCN cùng
gia đình phải thường xuyên tự điều chỉnh và hoàn thiện việc liên kết giáo dục
học sinh, được thực hiện bằng nhiều cách như: Họp cha mẹ học sinh; Qua Ban
đại diện CMHS hay cán bộ lớp; Thăm hỏi trực tiếp gia đình học sinh; Mời cha
mẹ học sinh đến trường trao đổi trực tiếp; Hoặc trao đổi qua điện thoại (nếu có),
qua thư tay
+Liên kết với chính quyền địa phương: Thực chất đây là sự liên kết giáo
dục giữa nhà trường với xã hội. Các lực lượng xã hội bao gồm: các cơ quan nhà
nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần
chúng Việc liên kết giáo dục cần hướng vào các nội dung sau: Tổ chức việc
học tập, vui chơi, rèn luyện nhằm hình thành tri thức xã hội và nhân cách học
sinh; Bảo vệ trật tự, bảo vệ cơ sở vật chất trường lớp; Tạo điều kiện mọi mặt cho
các hoạt động giáo dục của lớp, của trường
5. Đánh giá kết quả giáo dục học sinh:
Cần khẳng định rằng: đánh giá kết quả giáo dục học sinh là một trong
những nội dung lớn và hết sức quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp.Bởi lẽ nó
không chỉ phản ánh
kết quả giáo dục
học sinh mà còn
phản ánh nội dung,


Chương V: Những kết quả giáo dục toàn diện bước đầu trong công
tác chủ nhiệm ở khối 4+5:

1. Kết quả giáo dục cuối năm học 2006-2007: (đối chứng)
Khối
lớp
Kết quả các môn học (Trung bình trở lên)
Hạnh
kiểm
(THĐĐ)

Khen
thưởng
(HSG,
HSTT)
Ghi
chú
TV Toán Khoa
Sử-
Địa
Đạo
đức

thuật
Âm
nhạc


thuật

Khen
thưởng
(HSG,
HSTT
Ghi
chú

TV Toán Khoa
Sử-
Địa
Đạo
đức

thuật
Âm
nhạc

thuật
Thể
dục
4
95%

98% 98% 96% 100%

100%

100%

100%Chương VI – Bài học kinh nghiệm
Học sinh tiểu học tồn tại với tư cách là đối tượng giáo dục, đồng thời
cũng là chủ thể giáo dục. Để giáo dục các em có kết quả tốt, GVCN phải hiểu
các em một cách đúng đắn, đầy đủ và cụ thể, từ đó lựa chọn những tác động sư
phạm thích hợp. Trái lại, thực tiễn giáo dục cho thấy nếu không hiểu rõ HS thì
những tác động sư phạm được lựa chọn sẽ không phù hợp, do đó không cho kết
quả mong muốn, thậm chí thất bại.
Muốn tổ chức tốt công tác giáo dục HS, GVCN phải chăm lo tổ chức,
xây dựng lớp thành một tập thể yêu thương nhau, biết tự quản lẫn nhau bằng
tình cảm hồn nhiên, ngây thơ của trẻ. Bởi lẽ tập thể lớp chính là môi trường, là
phương tiện trực tiếp tác động tới sự phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt nói riêng,
tài năng và nhân cách nói chung của HS. Vì vậy, GVCN phải phối hợp với các
lực lượng giáo dục, xây dựng lớp mình phụ trách thành một tập thể tiến bộ, biết
tự quản, biết tự đánh giá
Khác với GV
chuyên, GV Đoàn-Đội, GV
dự trữ GVCN phải tổ chức,
quản lý, giáo dục HS hàng
tuần, hàng tháng và tham gia
tổ chức các hoạt động chung
toàn trường. Cần nhớ rằng,
chỉ có thông qua các hoạt
động mới rèn luyện, hình
thành và phát triển các kỹ
năng tổ chức, giao tiếp, sự
sáng tạo cho HS; giúp các

cứu sâu hơn quá trình tương tác GV - HS trong quá trình lên lớp, mối liên hệ
giữa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; đồng thời đổi mới công tác
quản lý, chỉ đạo để nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ GV trong nhà
trường trong thời kỳ mới.
Phổng Lái, ngày 25 tháng 05 năm 2008
Người viết
Nguyễn Hữu Hải TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Giáo dục 2005; Điều lệ Trường tiểu học 2007; Chuẩn nghề nghiệp
giáo viên tiểu học;
2. “Phương pháp nghiên cứu khoa học” – Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên -
Nhà xuất bản Giáo dục 2006;
3. “Công tác quản lý học sinh ở trường phổ thông” – Hà Nhật Thăng - Nhà
xuất bản Giáo dục 2006;
4. Giáo trình đào tạo GVTH trình độ Đại học (nhiều tác giả) – Nhà xuất bản
Đại học sư phạm Hà Nội 2005;
5. Tài liệu “Đào tạo Cử nhân Hiệu trường trường tiểu học” (nhiều tác giả) -
Học viện Quản lý giáo dục Hà Nội 2004;
6. Tạp chí “Giáo dục tiểu học” – Các số năm 2004, 2005, 2006
7. Hồ sơ giáo viên tiểu học (theo mẫu quy định của Sở GD&ĐT tỉnh Sơn La
năm học 2006-2007, 2007-2008)


8
13
14 Phần kết luận
1.Đánh giá sơ bộ đề tài
2.Kiến nghị, đề xuất
3.Hướng nghiên cứu tiếp theo
15
15
15 Tài liệu tham khảo
Mục lục

16
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status