SKKN biện pháp chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm ở Tổ chuyên môn - Pdf 29

A – PHẦN MỞ ĐẦU
I – Lý do chọn đề tài
Điều 14, Điều lệ Trường Tiểu học (2007) đã quy định: “Học sinh được
tổ chức theo lớp học. Lớp học có lớp trưởng, lớp phó do tập thể học sinh bầu ra
hoặc do giáo viên chủ nhiệm chỉ định luân phiên; Mỗi lớp học có một giáo viên
chủ nhiệm phụ trách giảng dạy một hoặc nhiều môn học; Mỗi lớp học được chia
thành nhiều tổ học sinh, mỗi tổ có tổ trưởng, tổ phó do học sinh trong tổ bầu ra
hoặc do giáo viên chủ nhiệm chỉ định luân phiên trong năm học ”.
Trong các trường tiểu học nói chung, giáo viên dạy văn hoá (nhiều môn)
thường kiêm luôn làm giáo viên chủ nhiệm, vì vậy giáo viên chủ nhiệm lớp có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục tri thức và nhân cách cho học
sinh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, về lý luận cũng như trên thực tế chưa
có những nghiên cứu cụ thể, đầy đủ và đổi mới để tạo ra sự định hướng thống
nhất trong chỉ đạo và thực hiện cho công tác chủ nhiệm ở trường tiểu học. Bên
cạnh đó, công tác chủ nhiệm phần nào bị sao nhãng, bị “lạc hậu hoá” do các
giáo viên và các tập thể nhà trường tập trung vào công tác đổi mới chương trình,
đổi mới phương pháp và hình thức dạy-học. Ngoài ra, ở bậc tiểu học, việc làm
công tác chủ nhiệm của các giáo viên văn hoá gần như là đương nhiên, không
được tính theo tiết (để có chế độ, chính sách thoả đáng) như các giáo viên tiểu
học khác (VD: giáo viên chuyên một môn: Âm nhạc - Mĩ thuật - Thể dục, giáo
viên Đoàn - Đội, giáo viên dự trữ ) hoặc như giáo viên trung học cơ sở. Từ đó
làm cho hiệu quả của công tác chủ nhiệm, cũng như hiệu quả của quá trình giáo
dục toàn diện học sinh trong nhà trường tiểu học chưa đạt được theo yêu cầu.
Ở các trường học vùng dân tộc thiểu số, các em học sinh thường rụt rè,
nhút nhát, ngại giao tiếp, khả năng Tiếng Viết hạn chế thì công tác chủ nhiệm
lại càng được đặt lên hàng đầu. Đơn giản là vì: thầy cô có hiểu được các em, có
gần gũi với các em, có phối hợp được các lực lượng giáo dục khác mới dạy tốt
và đánh giá chính xác được từng đối tượng học sinh cụ thể.
Trước thực tế trên đây, tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm mang tên
“Một số biện pháp chỉ đạo đổi mới và nâng cao chất lượng công tác chủ
nhiệm ở Tổ chuyên môn khối 4+5 - Trường Tiểu học Phổng Lái ”.

-Sử dụng các phương pháp thu thập và xử lý dữ kiện: phiếu trắc nghiệm,
bút vấn, quan sát, phân tích nội dung, thang thái độ…
3. Đề xuất: Biện pháp chỉ đạo và một số nội dung đổi mới trong công
tác chủ nhiệm của người giáo viên chủ nhiệm trong trường tiểu học.
VI – Giới hạn đề tài:
1. Phạm vi nghiên cứu:
2
-Giáo viên và học sinh khối lớp 4+5 trường Tiểu học Phổng Lái – Thuận
Châu – Sơn La.
2. Địa bàn nghiên cứu:
-Do điều kiện công tác, thời gian, kinh phí…của bản thân, nên tôi chỉ tập
trung nghiên cứu nội dung đề tài trong phạm vi nhà trường nơi tôi hiện đang
công tác, trong năm học 2007-2008.
VII – Phương pháp nghiên cứu:
-Tham khảo tài liệu; Quan sát; Điều tra viết; Trò chuyện trực tiếp; Trắc
nghiệm khách quan; Phân tích nội dung.
VIII – Cái mới của đề tài:
-Tìm hiểu, nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp chỉ đạo đổi mới và
nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm ở Trường Tiểu học Phổng Lái… Áp
dụng hiệu quả và được thực hiện thường xuyên trong các lớp, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh khối lớp 4+5 nói riêng, các khối lớp
khác trong nhà trường nói chung.
3
B – PHẦN NÔI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận
Trước hết, giáo viên chủ nhiệm là người quản lý giáo dục toàn diện
học sinh một lớp.
Cần hiểu quản lý giáo dục không chỉ là nắm được những chỉ số của quản
lý hành chính như là tên, tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình, trình độ học lực và
hạnh kiểm của học sinh mà còn phải dự báo xu hướng phát triển nhân cách

nghiêm túc để mỗi học sinh và tập thể lớp ý thức đầy đủ trách nhiệm phải tuân
thủ, tự giác thực hiện. GVCN cũng là người đại diện cho quyền lợi chính đáng
của học sinh trong lớp, bảo vệ học sinh về mọi mặt một cách hợp lý, phản ánh
với Hiệu trưởng, với các giáo viên khác (nếu có), với gia đình và đoàn thể trong
hoặc ngoài nhà trường về nguyện vọng chính đáng của học sinh, để có giải pháp
giải quyết phù hợp, kịp thời, có tác dụng giáo dục. Huy động có hiệu quả tiềm
năng của xã hội vào giáo dục là công việc không đơn giản, đòi hỏi GVCN lớp
chẳng những phải có trách nhiệm cao, say sưa với nghề nghiệp, yêu thương học
sinh mà còn đòi hỏi GVCN là một nhà hoạt động xã hội, có hiểu biết rộng, biết
vận động quần chúng, có năng lực thực hiện các mục tiêu, nội dung giáo dục.
GVCN phải là người có trí tuệ, có lương tâm, có uy tín, sống mẫu mực, biết tự
kiềm chế, có ý chí vượt khó, kiên định thực hiện hoài bão, ước mơ, lý tưởng
giáo dục thế hệ trẻ.
Bốn là, giáo viên
chủ nhiệm phải là người
đánh giá khách quan kết
quả học tập, rèn luyện
của mỗi học sinh và
phong trào chung của
lớp.
Đây là một công
việc rất quan trọng của
GVCN đối với quá trình
học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách của mỗi học sinh, vì sự đánh giá khách
quan, chính xác, đúng mực là một điều kiện để thầy – trò điều chỉnh mục tiêu,
kế hoạch cho các hoạt động của cả lớp và mỗi thành viên. GVCN cần tránh
cách nhìn thiên vị và chỉ chú ý đến một số nội dung nhất định. Khi đánh giá
từng cá nhân học sinh nên căn cứ vào năng lực, điều kiện cụ thể của từng em,
cần tránh quan điểm khắt khe, định kiến, thiếu quan điểm động và phát triển,
nhất là đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, có đặc điểm tâm sinh lý

trường của các thành viên trong Hội
đồng giáo dục. Đây có thể coi là một điểm yếu không chỉ của đội ngũ GVCN
Tổ 4+5 của nhà trường, mà còn ở diện rộng hơn.
3. Khả năng nghiên cứu và phân tích mọi đặc điểm của học sinh
trong lớp chủ nhiệm, tìm hiểu các yếu tố tác động đến các em như: đặc
6
điểm tâm sinh lý, năng lực cá nhân, hoàn cảnh gia đình, sự quan tâm của
người thân đối với con em của họ.
Theo các quy định của ngành giáo dục hiện nay, GVCN chỉ cần hoàn
thành Sổ chủ nhiệm là có thể được coi là hoàn thành nhiệm vụ chủ nhiệm lớp.
Việc xây dựng được Sổ chủ nhiệm, theo lý thuyết là một công việc rất nhiều
công sức và tinh thần trách nhiệm. Tuy nhiên, trên thực tế, các GV chủ yếu là
sao chép (có bổ sung) từ lớp dưới, nếu có điều chỉnh lớn thì phần nhiều là do có
sự kiểm tra, chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường. Điều này làm cho bản chất của
công tác chủ nhiệm giảm đi tính giáo dục và thực chất.
4. Việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn; tự
hoàn thiện phẩm chất nhân cách của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm.
Việc tự học, tự
bồi dưỡng của GV có
nhiều tiến bộ. Các thầy
cô giáo đều tham gia
các lớp đào tạo lại để
nâng cao chuẩn đào tạo.
Mỗi thầy cô đều cố
gắng là một tấm gương
sáng về đạo đức và tự
học. Tuy nhiên, để đạt
các yêu cầu về Chuẩn
nghề nghiệp GVTH trong thời kỳ mới, sự phấn đấu nỗ lực của từng GV vẫn là
những con đường dài ở phía trước.

khuyết tật ).
1.3. Tìm hiểu những đặc điểm về tâm lý của mỗi học sinh: Khả năng
nhận thức, tư duy ở mỗi em (thông minh, nhanh nhẹn hay bình thường hay
chậm ) trong học tập, vui chơi, giao tiếp; tác phong, sở thích, nhu cầu; tính tình
trong hoạt động cá nhân và tập thể (cẩn thận, chín chắn hay cẩu thả, bồng bột,
hiền lành hay nóng nảy )
1.4. Tìm hiểu tính cách và những hành vi đạo đức của từng học sinh:
Thể hiện ở tính chăm học hay lười học, mạnh dạn hay nhút nhát, nhân hậu hay
ích kỷ, tự lập hay ỷ lại Đặc biệt cần quan tâm đến thái độ, cách ứng xử với các
bạn, với thầy cô, với người thân trong gia đình; sở thích và năng khiếu nổi bật
của từng em
2. Xây dựng tập thể học sinh trong lớp đạt tiêu chí “Sao tự quản”:
8
2.1. GVCN phải tổ chức “bộ máy tự quản” của lớp: Bao gồm: Lớp
trưởng, lớp phó, các tổ trưởng, Đội Cờ
đỏ của lớp
2.2. Quy định rõ chức năng
nhiệm vụ (giao việc), hướng dẫn các nội
dung ghi chép sổ theo dõi cho từng cán
bộ “tự quản”.
2.3. Giáo viên chủ nhiệm tự lập
kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tự
quản xuyên suốt năm học.
3. Tổ chức thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện:
3.1. Giáo dục đạo đức, pháp luật và nhân văn cho học sinh: Tổ chức thi
đua học tập, rèn luyện trong học sinh, có kiểm tra, đánh giá, tuyên dương, khen
thưởng cá nhân, nhóm, tổ trong hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học; Hoạt
động theo chủ đề về chính trị-xã hội (tuỳ theo từng thời điểm và tình hình của
lớp, của trường, của địa phương, đất nước và thế giới ), hoạt động kết nghĩa,
hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, chào mừng các sự kiện chính trị xã hội trong

tác động sư phạm đối với cả lớp hoặc từng học sinh. Chẳng hạn, GVCN đề nghị
nhà trường về việc khen thưởng hay phê bình HS; đề xuất nội dung, hình thức
và tạo điều kiện, phương tiện để thực hiện các nội dung hoạt động trong lớp
+Với các lực lượng khác (nếu có): Cần phối hợp với các lực lượng như:
bảo vệ, văn thư, thư viện, y tế nhà trường để giáo dục học sinh. GVCN cần đề
xuất yêu cầu và đề nghị họ cùng thống nhất biện pháp tác động sư phạm đối với
học sinh khi cần thiết.
4.2. Liên kết với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường:
+Liên kết với gia đình:
GVCN có kế hoạch định kỳ
thông báo cho gia đình học sinh
biết kết quả học tập, tu dưỡng
của con em họ. Ngược lại gia
đình cũng thông tin kịp thời cho
GVCN biết về những thay đổi
tích cực hoặc không tích cực của
học sinh ở nhà, ở cộng đồng để
động viên khuyến khích hay
nhắc nhở kịp thời GVCN cùng gia đình phải thường xuyên tự điều chỉnh và
hoàn thiện việc liên kết giáo dục học sinh, được thực hiện bằng nhiều cách như:
Họp cha mẹ học sinh; Qua Ban đại diện CMHS hay cán bộ lớp; Thăm hỏi trực
tiếp gia đình học sinh; Mời cha mẹ học sinh đến trường trao đổi trực tiếp; Hoặc
trao đổi qua điện thoại (nếu có), qua thư tay
10
+Liên kết với chính quyền địa phương: Thực chất đây là sự liên kết giáo
dục giữa nhà trường với xã hội. Các lực lượng xã hội bao gồm: các cơ quan nhà
nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần
chúng Việc liên kết giáo dục cần hướng vào các nội dung sau: Tổ chức việc
học tập, vui chơi, rèn luyện nhằm hình thành tri thức xã hội và nhân cách học
sinh; Bảo vệ trật tự, bảo vệ cơ sở vật chất trường lớp; Tạo điều kiện mọi mặt cho

môi trường, có ý thức cộng đồng và hợp tác.
+Đối với bản thân: đánh giá ý thức trách nhiệm với bản thân qua cách ăn
mặc, nói năng, bước đầu có hoài bão, có ước mơ
Chương V: Những kết quả giáo dục toàn diện bước đầu trong công
tác chủ nhiệm ở khối 4+5:
1. Kết quả giáo dục cuối năm học 2006-2007: (đối chứng)
Khối
lớp
Kết quả các môn học (Trung bình trở lên)
Hạnh
kiểm
(THĐĐ
)
Khen
thưởn
g
(HSG,
HSTT)
Gh
i
chú
TV Toán Khoa
Sử-
Địa
Đạo
đức

thuật
Âm
nhạc

Âm
nhạc

thuật
Thể
dục
4
95% 98% 98% 96% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 20%
Lớp
tiên
tiến
5
98% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 18%
Lớp
tiên
tiến
Chương VI – Bài học kinh nghiệm
Học sinh tiểu học tồn tại với tư cách là đối tượng giáo dục, đồng thời
cũng là chủ thể giáo dục. Để giáo dục các em có kết quả tốt, GVCN phải hiểu
12
các em một cách đúng đắn, đầy đủ và cụ thể, từ đó lựa chọn những tác động sư
phạm thích hợp. Trái lại, thực tiễn giáo dục cho thấy nếu không hiểu rõ HS thì
những tác động sư phạm được lựa chọn sẽ không phù hợp, do đó không cho kết
quả mong muốn, thậm chí thất bại.
Muốn tổ chức tốt công tác giáo dục HS, GVCN phải chăm lo tổ chức,
xây dựng lớp thành một tập thể yêu thương nhau, biết tự quản lẫn nhau bằng
tình cảm hồn nhiên, ngây thơ của trẻ. Bởi lẽ tập thể lớp chính là môi trường, là
phương tiện trực tiếp tác động tới sự phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt nói riêng,
tài năng và nhân cách nói chung của HS. Vì vậy, GVCN phải phối hợp với các
lực lượng giáo dục, xây dựng lớp mình phụ trách thành một tập thể tiến bộ, biết

liệu, mua sắm vật phẩm phục vụ cho công tác chủ nhiệm lớp.
-Với nhà trường: Tổ chức triển khai đề tài trên diện rộng (tất cả các lớp
trong trường); phối hợp với Ban đại diện cha mẹ HS triển khai các hoạt động có
liên quan tới công tác của GVCN.
-Với Tổ Chuyên môn khối 4+5: Tiếp tục thực hiện các nội dung đề tài, bổ
sung các điều chỉnh, kiến nghị phát sinh, giúp cho đề tài có thêm các cơ sở thực
tế để hoàn thiện hơn.
3. Hướng nghiên cứu tiếp theo:
Trên cơ sở xây dựng được mối quan hệ dạy và học tốt đẹp giữa GVCN
và HS trong lớp, giữa GV với gia đình HS, với cộng đồng; chúng tôi sẽ nghiên
cứu sâu hơn quá trình tương tác GV - HS trong quá trình lên lớp, mối liên hệ
giữa các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; đồng thời đổi mới công tác
quản lý, chỉ đạo để nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ GV trong nhà
trường trong thời kỳ mới.
Phổng Lái, ngày 25 tháng 05 năm 2008
Người viết
Nguyễn Hữu Hải
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Giáo dục 2005; Điều lệ Trường tiểu học 2007; Chuẩn nghề nghiệp
giáo viên tiểu học;
2. “Phương pháp nghiên cứu khoa học” – Mai Ngọc Luông, Lý Minh Tiên -
Nhà xuất bản Giáo dục 2006;
3. “Công tác quản lý học sinh ở trường phổ thông” – Hà Nhật Thăng - Nhà
xuất bản Giáo dục 2006;
4. Giáo trình đào tạo GVTH trình độ Đại học (nhiều tác giả) – Nhà xuất bản
Đại học sư phạm Hà Nội 2005;
5. Tài liệu “Đào tạo Cử nhân Hiệu trường trường tiểu học” (nhiều tác giả) -
Học viện Quản lý giáo dục Hà Nội 2004;
6. Tạp chí “Giáo dục tiểu học” – Các số năm 2004, 2005, 2006

Phần kết luận
1.Đánh giá sơ bộ đề tài
2.Kiến nghị, đề xuất
3.Hướng nghiên cứu tiếp theo
15
15
15
Tài liệu tham khảo
Mục lục
16
17
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status