Phòng Gd&T Lệ Thủy Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Tr-
ờng Th số 2 liên Thủy
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
sáng kiến kinh nghiệm
MT S BIN PHP CH O I MI PPDH MễN
TING VIT TI TRNG TH S 2 LIấN
THY
Họ và tên: đặng thị Lan
P.Hiệu trởng Tiểu học số 2 Liên Thủy
Phần thứ nhất : mở đầu
Môn Tiếng Việt cấp tiểu học có tầm quan trọng đặc biệt, mục tiêu của môn học là:
nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe, nói,
đọc, viết ) để giúp các em học tập và giao tiếp trong môi trờng hoạt động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học môn Tiếng Việt góp phần rèn luyện cho học sinh các kỹ năng,
thao tác t duy cơ bản (phân tích, tổng hợp ). Đồng thời cung cấp cho học sinh kiến thức
về Tiếng Việt và những hiểu biết cơ bản về xã hội, tự nhiên, con ngời, văn hóa, văn học
Việt Nam và nớc ngoài. Đồng thời bồi dỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thực tiễn đã khẳng định những nét tính cách chính
của con ngời đều đợc hình thành từ trớc và đầu tuổi đi học. Để thực hiện mục tiêu của
cấp học nói chung, môn Tiếng Việt nói riêng đạt hiệu quả cao, điều đặc biệt quan trọng
là mồi thầy giáo, cô giáo cần xác định đúng vai trò, trách nhiệm của mình . Giáo viên là
ngời thiết kế, là ngời cố vấn, trọng tài, là nhân tố quyết định chất lợng giáo dục. Chính vì
lẽ đó, trong dạy học đòi hỏi luôn nhiệt tình, tâm huyết đào sâu suy nghĩ để nắm bắt vững
vàng về hệ thống kiến thứcTiếng Việt, thực sự coi trọng việc đổi mới phơng pháp, hình
thức, phơng tiện dạy học làm thế nào để tập trung rèn luyện cho học sinh tính năng động
Xuất phát từ nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của môn Tiếng Việt cấp Tiểu học và
tầm quan trọng của đổi mới phơng pháp dạy học. Xuất phát từ thực tế giảng dạy ở trờng,
là phó hiệu trởng phụ trách chuyên môn, tôi đã băn khoăn, trăn trở, suy nghĩ và mạnh
dạn đa ra một số biện pháp chỉ đạo thực hiện, rút kinh nghiệm đổi mới phơng pháp dạy
học môn Tiếng Việt cấp Tiểu học. Trong phạm vi bài viết này tôi chỉ đi sâu vào ba phân
môn đó là : Tập đọc; Luyện từ và câu và Tập làm văn.
Phần thứ hai : nội dung
I - Những cơ sở thực tiễn và lý luận đổi mới cách thực hiện PH-
ơng pháp dạy học (PPDH)
1- Cơ sở lý luận
Thực hiện đổi mới PPDH trớc hết cần phải nhận thức sâu sắc về cơ sở lí luận dạy
học. Từ cơ sở lý luận dạy học để vận dụng soi rọi vào quá trình dạy học. Nói đến cơ sở
lý luận dạy học trớc hết chúng ta phải tiếp cận hệ thống, tiếp cận nhân cách, tiếp cận
hoạt động và công nghệ dạy học.
Tiếp cận hệ thống là cách thức nghiên cứu đối tợng nh một hệ thống toàn vẹn, phát
triển tự động, tự sinh thành và phát triển thông quan việc giải quyết mu thuẫn nội tại do
sự tơng tác hợp quy luật của các thành tố tạo ra. Qua đó phát hiện ra yếu tố sinh thành,
yếu tố bản chất tất yếu và lô gic phát triển của đối tợng trở thành hệ toàn vẹn, tích hợp
mang chất lợng mới.
Ví dụ: Quá trình dạy học đợc coi là một hệ thống, nó bao gồm nhiều thành tố và các
thành tố này có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hởng qua lại với nhau, quyết định
chất lợng của nhau Mối quan hệ giữa thầy, trò, phơng tiện và điều kiện dạy học, mục
đích, nội dung và PPDH với quá trình kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học có
những quan hệ phụ thuộc nhau. Toàn bộ quá trình dạy học này chịu sự ảnh hởng của môi
trờng kinh tế - xã hội .
Trong quá trình dạy học, thầy và trò cũng là chủ thể có mối quan hệ. Quá trình dạy
học muốn kiến tạo và phát triển nhân cách phải thông qua sự thống nhất ba mặt đó là :
+ Tính riêng biệt, độc đáo của cá nhân: Dạy học phải tạo đợc môi trờng thuận lợi
nhất cho mỗi cá nhân phát huy đợc tiềm năng để trở thành chính mình.
+ Hòa đồng các mối quan hệ liên nhân cách: Giúp ngời học tham gia vào các hoạt
then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới
cách thực hiện PPDH sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của bao thế hệ học trò,
chủ nhân tơng lai của đất nớc. Nh vậy đổi mới PPDH sẽ tác động vào mọi thành tố của
quá trình giáo dục và đào tạo. Nó tạo ra sự hiện đại hóa của quá trình này.
Đổi mới cách thực hiện PPDH là đổi mới cái gì? Đổi mới nh thế nào?. Chúng ta cần
nhấn mạnh rằng: không phải cái gì cũng tồi và cái gì cũng hoàn hảo. Hiệu quả hay
không của PPDH là do ngời sử dụng, tiến hành nó nh thế nào? Xét bản thân phơng pháp
thì không có phơng pháp nào là phơng pháp tồi, không có phơng pháp nào là phơng pháp
tích cực hay thụ động, mà phơng pháp ấy trở nên tồi, thụ động khi con ngời ta không
khai thác hết tiềm năng của nó hoặc sử dụng nó không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối t-
ợng, thực tế không có phơng pháp nào tồn tại lại không có ý nghĩa nào đó. Đổi mới
PPDH thực chất không phải thay thế các PPDH cũ bằng các loại PPDH mới.
Nh vậy đổi mới PPDH không phải là sự thay thế các phơng pháp quen thuộc hiện có
bằng phơng pháp mới lạ. Thực chất chúng ta phải hiểu lại cho đúng cách làm, cách tiến
hành các PPDH, cách linh hoạt sáng tạo trong khi sử dụng nó ở những hoàn cảnh và tình
huống khác nhau để PPDH có tác động tích cực đến ngời học. Ngoài ra, cùng với sự phát
triển của phơng tiện dạy học và của chính khoa học về PPDH, một số PPDH hiện đại cần
đợc bổ sung trong " va li PPDH " của giáo viên.
* Cơ sở thực tiễn của đổi mới PPDH là xuất phát từ sự phát triển sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc đòi hỏi những con ngời năng động, sáng tạo, tự lực, tự
cờng. Hơn nữa thế giới đã chuyển sang thời kỳ kinh tế tri thức, cho nên đầu t vào chất
xám sẽ là cách đầu t hiệu quả nhất cho sự hng thịnh của mỗi quốc gia. Vì vậy mà nhu
cầu học tập của ngời dân ngày càng nhiều, trình độ dân trí ngày càng tăng, xã hội học
tập đang hình thành và phát triển của khoa học công nghệ đã mở ra những khả năng và
điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng phơng tiện công nghệ thông tin vào quá trình dạy
học. Nh vậy, khi đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học và cách đánh giá kết quả học tập
của học sinh thì PPDH buộc phải cũng phải thay đổi theo. Đổi mới PPDH là nội dung
hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lợng dạy và học. Trong giáo dục tiểu học để
thục hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục Tiểu học đặt ra là " Giúp học sinh hình thành
- Giáo viên dạy giỏi cấp huyện: 03 tỉ lệ 23,1%
- Giáo viên dạy giỏi cấp trờng : 06 tỉ lệ 46,2%
d. Nhận thức
- 100% tổng số giáo viên nhận thức tốt về quan điểm, mục tiêu, ý nghĩa của việc đổi
mới giáo dục phổ thông. Tuy nhiên trong vận dụng PPDH mới vẫn còn một bộ phận giáo
viên thực hiện đổi mới PPDH còn chậm.
2 - Thực trạng của việc sử dụng PPDH
Cùng với quá trình triển khai thực hiện nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chơng
trình giáo dục phổ thông thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học nớc ta nói chung, sự
chuyển biến mạnh mẽ của ngành giáo dục Lệ Thủy nói riêng. Trờng Tiểu học số 2 Liên
thủy đã có những nỗ lực, cố gắng trong việc triển khai thực hiện đổi mới phơng pháp dạy
học dạy học. Một số tiết dạyTiếng Việt đã thể hiện sự linh hoạt, nhẹ nhàng. Hiện nay đổi
mới PPDHnói chung,môn Tiếng Việt nói riêng đã đợc quan tâm đúng mức, là vấn đề cấp
bách, then chốt của chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đây
là vấn đề đang tác động và thu hút sự tập trung của đội ngũ. Tuy nhiên vẫn còn một bộ
phận giáo viên cha thực sự chú ý đến việc vận dụng PPDH theo hớng tích cực hóa hoạt
động của học sinh, hoặc thực hiện mang tính hình thức, năng lực giáo viên cha đáp ứng
với yêu cầu đặt ra. Cụ thể:
*Luyện từ và câu: Nhiều giáo viên cha đặt bài dạy Luyện từ và câu trong hệ thống
kiến thức đã học và sắp học, mối quan hệ của hệ thống các bài tập trong một tiết học,
cha khai thác triệt để các PPDH luyện theo mẫu, PP thực hnàh giao tiếp cha khắc sâu
kiến thức sau mỗi bài tập hoặc khái quát kiến thức cuối tiết học.
*Tập đọc: Quy trình dạy học thể hiện rõ ràng , cụ thể tuy nhiên trong từng hoạt
động bộc lộ những hạn chế nhất định qua các hoạt động luyện đọc(hớng dẫn, định hớng
giọng đọc,sự nhanh nhạy trong khâu phát hiện và chữa lỗi ); Hoạt động tìm hiểu bài
,đọc mẫu tiếp sức cho học sinh hoặc cha linh hoạt ở khâu tổ chức luyện đọc diễn cảm.
*Tập làm văn: Do đặc điểm phân môn là rèn kỹ năng tổng hợp (nghe, nói, đọc,
viết)đòi hỏi học sinh biết phát huy cao độ trí tuệ và cảm xúcđể thực hiện tốt các yêu cầu
của bài học. Là môn học mang tính tích hợp cao. Nhng thực tế học sinh khả năng vốn từ
tạo nên uy tín, sự tồn tại, sống còn của nhà trờng. Việc dạy học của giáo viên Tiểu học
vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật, là ngơì thầy tổng thể dạy đủ 9 môn
học mà mỗi môn học chứa đựng một phơng pháp, cách thức tổ chức khác nhau. Do vậy,
khi lên lớp giáo viên phải đồng thời sử dụng nhiều phơng pháp, hình thức, phơng tiện
dạy học khác nhau trên các phân môn khác nhau trong một buổi học. Do đặc thù của cấp
học nên đòi hỏi ngời giáo viên Tiểu học phải bằng nhiều hình thức bồi dỡng " Học tập
suốt đời" để tích lũy vốn hiểu biết, về tri thức, khoa học, nắm thật vững chắc về chuẩn
kiến thức của từng lớp học, môn học vận dụng các PPDH đúng đặc trăng các phân môn
trong môn Tiếng Việt. Chú ý quan tâm đầu t bồi dỡng đội ngũ một cách toàn diện mới
có đợc đội ngũ vừa hồng, vừa chuyên mới có thể đảm đơng đợc công việc của trờng,
ngành phân công, mới làm tròn sứ mạnh của mình .
Để kế hoạch bồi dỡng thực hiện chủ động, đúng quy trình mang lại hiệu quả thiết
thực, ngời cán bộ quản lý phải nghiên cứu, thiết lập kế hoạch bồi dỡng kĩ càng, chu đáo
phù hợp với tình hình thực tế trờng mình theo quy trình khép kín.
2- Lập kế hoạch bồi dỡng: Xác định đây là khâu cực kỳ quan trọng
Sau khi tiến hành quan sát, nắm bắt tình hình đội ngũ ( Trình độ, hoàn cảnh, điều
kiện, năng lực s phạm, năng lực giảng dạy, ) .Từ đó ngời quản lý có cách nhìn tổng
quát, thiết lập quy trình bồi dỡng: Xác định nội dung trọng tâm cần bồi dỡng, chú trọng
những điểm yếu, thiếu, đối tợng đợc bồi dỡng, lực lợng tham gia bồi dỡng, hình thức bồi
dỡng, thời điiểm bồi dỡng. ở trờng tôi đã thực hiện nh sau:
Ví dụ:
*Nội dung cần bồi dỡng là : Kỹ năng tổ chức dạy trên lớp môn Tiếng Việt đi sâu
chuyên đề: Dạy Luyện từ và câu, Tập làm văn, Tập đọc, những vấn đề đội ngũ vớng
mắc, khó khăn.
* Đối tợng: Toàn thể cán bộ giáo viên đứng lớp , chú trọng những đồng chí yếu.
* Hình thức bồi dỡng : thông qua sinh hoạt chuyên môn, tổ chuyên môn, coi tổ
chuyên môn là hạt nhân, là nơi bồi dỡng chuyên môn cho đội ngũ hoặc thông qua dự giờ
kiểm tra thờng xuyên.
* Xây dựng lực lợng bồi dỡng
Sau mỗi chuyên đề, tiết dạy thao giảng, dự giờ, tổ chuyên môn tổ chức thảo luận rút
ra những thnàh công, hạn chế định ra hớng khắc phục. Với cách làm này đã góp phần
bồi dỡng năng lực chuyên môn cho đội ngũ về thực hiện đổi mới PPDH môn tiếng Việt.
Với cách làm một số dạng bài điển hình trên các phân môn sau đó chuyên môn khái
quát hóa, nhân rộng điển hình để giáo viên thực hiện .
Ví dụ : Một số biện pháp chỉ đạo dạy các phân môn
1. Phân môn luyện từ và câu
Một số biện pháp dạy dạng bài, kiểu bài luyện từ và câu ở lớp 2
* Khi dạy bài : Mở rộng vốn từ về vật nuôi - Câu kiểu Ai thế nào?( lớp 2 tuần 17)
Đây là kiểu bài tập mở rộng vốn từ qua tranh vẽ.
Mục tiêu là: Mở rộng vốn từ , các từ chỉ đặc điểm của loài vật (Bài tập 1)
Khi dạy bài tập này giáo viên cần biết: Dạng bài tập này vừa có tác dụng giúp học
sinh nhận biết " Nghĩa biểu vật" của từ ( từ nào biểu thị sự vật, hoạt động, tính chất)
vừa có tác dụng giúp học sinh mở rộng, phát triển vốn từ. Đây là hình thức luyện tập về
từ ở mức độ đơn giản nhận biết đặc điểm, tính chất của sự vật các từ cho sẵn là tính từ :
nhanh, chậm. khỏe, trung thành.
Cách dạy dạng bài tập này là giáo viên phải chuẩn bị đồ dùng dạy học và phơng
pháp sử dụng cụ thể :
+ GV vẽ phóng to tranh minh họa ở SGK - TV2-Tập 1, trang 142
+ 4 thẻ từ dùng để viết tên 4 con vật: Trâu, rùa, chó, thỏ
+ Thẻ từ viết 4 từ chỉ đặc điểm: nhanh, chậm, khỏe, trung thành
- GV tổ chức cho học sinh họat động cá nhân ( 100% HS đều đợc tham gia) sau đó h-
ớng dẫn HS lần lợt đối chiếu từng từ cho sẵn với hình ảnh tơng ứng thông qua tổ chức
một trò chơi " gắn nhanh đúng, các từ chỉ đặc điểm phù hợp với con vật " ở bài tập
này đòi hỏi GV phải vận dụng đồ dùng thiết bị dạy học linh hoạt, hình thức phù hợp
giúp học sinh nắm đợc nghĩa biểu vật đồng thời đợc mở rộng thêm vốn từ về vật nuôi với
những con vật gần gũi, thân thuộc xung quanh các em.
* Dạy kiểu bài tập điền từ vào chỗ trống dạng từ có sẵn cần điền.
Bài: Từ ngữ về Bác Hồ ( trang 104 - TV2- tập 2)
những nội dung, lý thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ.
3 - PP thực hành giao tiếp : là phơng pháp đặc thù bởi vì mọi hiện tợng ngôn ngữ,
ngữ pháp trong sách giáo khoa không nằm ngoài môi trờng giao tiếp của lứa tuổi học
sinh. PP này không chỉ là phơng pháp hớng dẫn HS vận dụng lý thuyết đợc học và thực
hiện các nhiện vụ trong quá trình giao tiếp, mà còn là PP cung cấo lý thuyết cho HS
trong quá trình giao tiếp. Việc sử dụng PP thực hành giao tiếp trong dạy học phân môn
luyện từ và câu là rất cần thiết, giúp HS có cơ hội vận dụng và tích lũy kinh nghiệm
trong việc sử dụng ngôn ngữ trong các quá trình tình huống giao tiếp cụ thể.
Ngoài các PPDH nói trên trong giờ Luyện từ và câu tùy từng nội dung dạy học, điều
kiện lớp học và đối tợng HS từng vùng miền, GV có thể vận dụng nhiều PPDH khác để
giờ học gây đợc hứng thộhc tập của các em nh PP trò chơi học tập, PP thảo luận nhóm,
PP đóng vai
2 - Phân môn Tập đọc
a. Những biện pháp hớng dẫn HS biết cách nghĩ hơi đúng khi đọc
Để đọc đợc lu loát, ngời đọc phải có cấch nghỉ hơi đúng nhất là khi đọc những câu
dài:
- Trớc hết, cần nghỉ hơi ở những chỗ có dấu kết thúc câu hoặc dấu ngăn cách các bộ
phận với câu (các dấu chấm, chấn hỏi, chấm lửng hoặc các dấu phẩy, chấm
phẩy ) ngời đọc cần nghỉ một khoảng bằng khoảng thời gian phát âm một tiếng.
Trong từng trờng hợp dấu kết thúc câu đồng thời cũng kết thúc đoạn để xuống dòng,
quãng nghỉ sẽ dài gấp đôi khoảng nghỉ phát âm một tiếng.
- Bên cạnh những dấu kết thúc câu hoặc ngăn cách các bộ phận câu còn có một số
dấu câu có cách dùng đặc biệt, cụ thể là:
* Dấu chấm lửng thể hiện lời nói ngắt quãng:
- Ngắt quảng giữa một tiếng. Ví dụ: Bỗng một tiếng " kít ít" làm cậu sững lại
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 54) trong trờng hợp này, ngời đọc không nghỉ hơi mà phải
phát âm kéo dài chỗ có dấu chấm lửng.
- Ngắt quảng giữa các tiếng hoặc từ . Ví dụ: Ông ơi cụ ơi ! Cháu xin lỗi cụ.
(Tiếng Việt 3, tập 1, trang 55) ; chúng cháu đánh giặc Mỹ đến một trăm năm cũng
kĩ năng cần đạt đối với HS lớp 5), GV hớng dẫn HS tìm hiểu bài theo một số yêu cầu
sau:
- Nêu rõ câu hỏi để định hớng cho học sinh đọc thầm ( đoạn, bài) và trả lời đúng nội
dung. Có thể kết hợp cho 1 học sinh đọc thành tiếng, những học sinh khác đọc thầm, sau
đó trao đổi, thảo luận theo vấn đề GV nêu ra. Ví dụ:
+ GV yêu cầu HS cả lớp đọc thầm khổ thơ thứ nhất trong bài Hạt gạo làng ta
( tuần 4) trả lời câu hỏi:
*Hạt gạo đợc làm nên từ những gì?
+ Giáo viên mời một HS đọc thành tiếng, lớp đọc thầm khổ thơ cuối (bài hạt gạo
làng ta) sau đó nêu ý kiến trao đổi câu hỏi:
* Vì sao tác giả gọi hạt gạo là " Hạt vàng" ?
- Tùy theo trình độ học sinh trong lớp, GV có thể dùng nguyên văn câu hỏi, bài tập
trong SGK hoặc chia tách nội dung câu hỏi thành 1- 2 ý nhỏ để HS dễ thực hiện, hoặc bổ
sung thêm câu hỏi phụ có tác dụng gợi ý, dẫn dắt HS trả lời câu hỏi hoặc thực hiện tốt
hơn bài tập trong SGK. Ví dụ:
+ Câu hỏi 2 trong bài Cái gì quý nhất? (tuần 9) - Mỗi bạn đa ra lý lẽ nh thế
nào để bảo vệ ý kiến của mình? nêu tách thành 3 ý nhỏ để HS dễ trả lời : Hùng đa ra lý
lẽ thế nào để bảo vệ ý kiến của mình? (Quý nhất là hạt gạo ). Quý đa ra lý lẽ nh thế nào
để bảo vệ ý kiến của mình? (quý nhất phải là vàng ). Nam đa ra lý lẽ nh thế nào để bảo
vệ ý kiến của mình? (quý nhất là thì giờ)
+ Trớc khi trả lời câu hỏi 2 trong bài Chuyện một khu vờn nhỏ (tuần 11) -
Mỗi loài cây trên ban công nhà bé Thu có những đặc điểm gì nổi bật? giáo viên yêu cầu
học sinhđọc thầmđoạn 2( có thể kết hợp cho học sinh đọc thành tiếng) và trả lời câu hỏi
phụ: Ban công nhà bé Thu trồng những cây gì? Sau khi HS nêu đợc tên 4 loài cây (cây
quỳnh, cây hoa ti gôn, cây hoa giấy, cây đa ấn Độ ). GV cho các em đọc thầm lại đoạn 2
để trả lời toàn bộ câu hỏi trên hoặc tách thành nhiều ý cho từng học sinh trả lời (nêu đặc
diểm nổi bật của từng loại cây).
Tuy nhiên GV cần thận trọng và cân nhắc kĩ để tránh đặt thêm những câu hỏi khai
thác nội dung vợt quá yêu cầu bài học, không phù hợp với trình độ lớp 5, nhất là những
cách của nhân vật cần đọc với giọng cao ra sao?
- GV đọc mẫu minh họa, gợi ý hoặc tạo tình huống cho học sinh nhận xét, giải
thích , tự tìm ra cách đọc.
Ví dụ: "Các em lắng nghe và phát hiện cách đọc của cô( thầy): ngừng nghỉ( ngắt
nhịp) ở chỗ nào, nhấn giọng hay cao giọng, kéo dài giọng ở từ ngữ nào ? Vì sao cô
( thầy) đọc hai câu hỏi của bé Ê-mi-li: - Đi đâu cha? - Xem gì cha?( bài Ê-mi-li, con
Tiếng việt 5, tập 1, trang 49) với giọng nhẹ nhàng, tình cảm , không cao giọng ở các từ
dùng để hỏi?
- Tạo điều kiện cho từng HS đợc thực hành luyện tập diễn cảm toàn bài (theo cặp,
theo nhóm) để các em rút kinh nghiệm; tổ chức cho HS đọc diễn cảm trớc lớp để các em
học tập lẫn nhau và đợc cô(thầy) động viên, uốn nắn.
Trong giờ dạy tập đọc đọc mẫu của GV đợc xem nh là một trực quan cực kỳ quan
trọng nhằm tạo hứng thú và thu hút sự chú ý của HS. Vì vậy GV phải xác định đợc đọc
mẫu cái gì? đọc mẫu bao giờ? đọc mẫu nh thế nào cho đúng với yêu cầu của bài dạy.
3. Phân môn Tập làm Văn
Ví dụ : Dạy bài Tập làm văn miêu tả ở lớp 4
* Mục đích : Rèn luyện kỹ năng cơ bản : quan sát đối tợng miêu tả, lựa chọn sắp xếp
ý, xây dựng đoạn bài, nhằm xây dựng kỹ năng, xây dựng văn bản hoàn chỉnh.
* Biện pháp : GV cần thực hiện tuân theo các yâu cầu cơ bản sau đây:
1. Rèn kỹ năng quan sát đối tợng miêu tả (Quan sát tỉ mỉ các bộ phận theo trình tự
hợp lý)
2-Kỹ năng lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả: ( Chọn nét nổi bật, sắp xếp ý hợp lý theo 3
phần: Mở bài, thân bài, kết bài)
3-Kỹ năng dựng đoạn, viết bài : mỗi đoạn văn miêu tả có một nội dung nhất định, khi
viết lời văn chân thực, giàu hình ảnh và cảm xúc, dùng các biện pháp nghệ thuật nhân
hóa, so sánh
* Lu ý về cách diễn đạt:
1- Tả đồ vật : Thờng dùng nhiều từ ngữ gợi tả hình dạng, đặc điểm, có thể so sánh
nhân hóa làm cho đồ vật thêm sinh động( anh, chị, bác. cô .chú )
ngời học, làm thế nào để mọi học sinh đều đợc tham gia hoạt động học tập với tâm thế
hứng thú, tự giác, biết phát hiện, , tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội
tri thức vận dụng rèn kỹ năng thực hành.Rõ ràng vai trò chủ thể của học sinh đợc đề cao
hơn còn giáo viên thì phải lao động công phu hơn, phải xác định rõ mục đích kiến thức,
kỹ năng của mỗi tiết học, dạng bài chuẩn bị kế hạch dạy cho chu đáo, tỉ mỉ sao cho tất
cả HS đều đợc làm việc. Khi diều khiển hoạt động của lớp học giáo viên phải khéo léo
linh hoạt dẫn dắt học sinh tìm hiểu, vận dụng tạo đợc môi trờng giao tiếp tự nhiên,
thân thiện, không áp đặt. Khi đánh giá học sinh ý kiến của giáo viên là quan trọng song
giáo viên không phải là ngời duy nhất đánh giá kết quả học tập của học sinh mà phải tạo
mọi điều kiện để các em tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau. Giáo viên luôn coi trọng năng
lực, cá tính của học sinh.
-Để đảm bảo sự thành công của việc đổi mới PPDH môn Tiếng Việt, nhà trờng cần
có sự đổi mới trong công tác quản lý chỉ đạo đảm bảo toàn diện. Đổi mới PPDH không
thể triền khai nếu không phát triển chuyên môn của đội ngũ giáo viên.
2 - Kết quả đạt đợc năm học 2006 -2007
* Chất lợng về học lực môn Tiếng Việt
Năm học
Giỏi Khá
Trung
bình
Yếu
TB trở
lên
Khá + Giỏi
SL % SL % SL % SL % SL % SL %
2006-2007 67 21,2 199 63,0 40 12,7 10 3,1 306 96,8 266 82,4
* Chất lợng về đội ngũ
Số giờ
dạy
tiếp tục áp dụng, rút kinh nghiệm vào những năm học tới, tôi rất mong sự đóng góp ý
kiến của quý lãnh đạo cấp trên.
Liên thủy, ngày 22 tháng 5 năm 2007
Ngời viết
Đặng Thị Lan