MỤC LỤC
Số TT
Nội dung
Trang
1
Phần I: Lí do chọn đề tài
2
2
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
3
3
I. Cơ sở lí luận.
3
4
II. Thực trạng của vấn đề.
5
- Xuất phát từ yêu cầu dạy học hiện nay – dạy học theo hướng đổi mới, phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập.
- Xuất phát từ thực tế dạy học Địa lý cấp THPT từ năm học 2002 đến nay tôi
nhận thấy đa số học sinh còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên khi học, khả năng tự
học, tự nghiên cứu còn hạn chế, đặc biệt với môn địa lí, bộ môn mà học sinh còn
chưa thuần thục về các kĩ năng địa lí cơ bản Do đó kết quả các bài kiểm tra thường
xuyên, định kì hoặc kết quả thi tốt nghiệp thường chưa cao.
- Tự học là công việc suốt đời của bất kì ai, đặc biệt trong xã hội học tập hiện
nay. Muốn tự học có kết quả, người học phải có một số cơ sở kiến thức và kĩ năng
cần thiết. Một phần trong đó do nhà trường trang bị, một phần quan trọng hơn là sự
học hỏi và rèn luyện thường xuyên của người học.
- Để giúp học sinh rèn luyện thành thạo kỹ năng địa lí cơ bản phục vụ cho
việc tự học cũng như góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả học tập bộ môn Địa
lý bậc THPT đặc biệt là việc học tập bộ môn Địa lí lớp 12 vì vậy tôi chọn đề tài :
“ Phương pháp hướng dẫn học sinh tự học địa lí lớp 12 thông qua rèn luyện kĩ
năng khai thác bản đồ - Atlat Địa lí ” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm.
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
2
1.Khái niệm Tự học:
- Tự học, nghĩa là người học phải tự mình làm việc với các tri thức cần học. Làm
việc ở đây được hiểu cả về phương diện trí óc đơn thuần ( phân tích, tổng hợp, so
sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa) cả về phương diện hoạt động vật chất ( vẽ biểu
đồ, trao đổi, tranh luận, thuyết trình)
- Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của thầy nhưng cũng có
với môn học này. Vì vậy mà đa số các em dùng rất ít thời gian cho môn học dẫn
tới học tập chưa hiệu quả, thường chỉ là học vẹt, chưa có khả năng tư duy và vận
dụng kiến thức địa lí. Đặc biệt là số lượng học sinh học giỏi và đạt điểm cao còn
hạn chế.
- Để học tập môn Địa lí một cách hiệu quả nhất, giáo viên cần hướng dẫn học sinh
chú ý sử dụng những phương pháp học tập quan trọng sau đây:
+ Phương pháp học từ bản đồ
+ Phương pháp học với bản đồ tư duy
+ Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam
+ Phương pháp liên hệ thực tế
+ Phương pháp xử lí bài tập biểu đồ, phân tích bảng số liệu
+ Phương pháp lập sơ đồ , biểu bảng
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi xin mạnh dạn đưa ra 3 phương pháp
hướng dẫn học sinh tự học cơ bản nhất đó là :
+ Phương pháp học từ bản đồ
+ Phương pháp học với bản đồ tư duy
+ Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam
II. THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC TẠI NHÀ TRƯỜNG
1. Hiện trạng dạy và học địa lí lớp 12 :
Với nội dung và thời lượng môn Địa lí lớp 12 thì việc giảng dạy chủ yếu nghiêng
về mặt lí thuyết và giảng dạy theo các phương pháp sau :
4
+ Nêu vấn đề .
+ Thuyết trình.
+ Trực quan.
+ Thảo luận nhóm…
Vấn đề thực hành khai thác số liệu thống kê trong chương trình lớp 12 rất ít. Trong
khi kiến thức lí thuyết của các bài học rất dài, giáo viên không còn nhiều thời gian
b. Về phía học sinh:
- Khả năng nhận dạng yêu cầu của đề bài còn yếu.
- Cách thức tính toán, xử lý số liệu, phân chia tỷ lệ trục tung, trục hoành trong khi
vẽ biểu đồ của học sinh rất hạn chế.
- Đa số học sinh còn cẩu thả trong khi làm bài, trong cách trình bày khi làm bài
thực hành hoặc trong các bài kiểm tra.
- Một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, không có động cơ học tập đúng
đắn dẫn đến khó khăn cho giáo viên khi giảng dạy.
- Khả năng tự học – tự nghiên cứu của học sinh còn hạn chế
III. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CƠ BẢN:
1. Phương pháp tư duy từ bản đồ:
Bản đồ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với môn Địa lí. Mỗi một đơn vị kiến thức
địa lí đều gắn với một khu vực lãnh thổ nhất định và lãnh thổ đó được thể hiện
trên bản đồ. Nếu học địa lí mà không suy nghĩ và liên hệ tới lãnh thổ của nó thì sẽ
bị rơi vào thế khó hiểu và lẫn lộn, nhanh quên. Giáo viên cần chú ý hình thành cho
các em học sinh thói quen sử dụng bản đồ và hướng dẫn các em cách lựa chọn và
sử dụng bản đồ phù hợp với từng bài học. Đồng thời, trong bài giảng cần triệt để
sử dụng các loại bản đồ, kết hợp với câu hỏi và bài tập có yêu cầu khai thác bản
đồ.
a. Các loại bản đồ giáo khoa địa lí:
- Bản đồ treo tường chủ yếu sử dụng trên lớp với số đông học sinh
- Bản đồ để bàn chủ yếu dùng cho làm việc cá nhân của học sinh ở lớp, ở nhà
- Bản đồ SGK biểu hiện một số nội dung của bài viết SGK.
6
- Tập bản đồ
- Bản đồ câm
- Bản đồ khung( bản đồ trống)
b. Một số kĩ năng làm việc với bản đồ:
quy ước phần giữa bản đồ là trung tâm thì đầu trên của kinh tuyến chỉ hướng Bắc,
đầu dưới chỉ hướng Nam.
+ Ngoài ra có thể dựa vào mũi tên chỉ hướng Bắc trên tờ bản đồ để xác định
hướng Bắc của bản đồ.
- Nhận biết các đặc điểm của địa hình qua đường bình độ.
+ Trị số đường bình độ tăng dần từ ngoài vào trong : vùng đất cao
7
+ Trị số đường bình độ giảm dần từ ngoài vào trong : vùng trũng
+ Hai đường bình độ đối xứng nhau : địa hình yên ngựa
+ Hệ các đường bình độ có dạng chữ V : sống núi
+ Hệ các đường bình độ có dạng chữ V ngược : thung lũng.
+ Các đường bình độ càng nằm gần nhau thì địa hình có độ dốc lớn.
- Vẽ bản đồ.
Có nhiều phương pháp vẽ bản đồ, trong đó thông dụng nhất là phuuwong pháp
hình học.
Trong chương trình địa lí 12 có bài thực hành yêu cầu vẽ lược đồ Việt Nam. Học
sinh phải vẽ được lược đồ tương đối chính xác( đường biên giới, đường bờ biển,
một số sông lớn và một số đảo) và xác định được chính xác một số đối tượng địa lí
trên lược đồ( điền một số địa danh quan trọng như Hà Nội, Đà Nẵng, TPHCM,
vịnh Bắc Bộ…)
Như vậy đối với các em học sinh, cần đặc biệt chú ý khai thác các bản đồ trong
sách giáo khoa trong khi học bài nhằm nắm chắc kiến thức trong mỗi bài học. Bên
cạnh đó, thì chương trình địa lí lớp 12 - Atlat địa lí Việt Nam có ý nghĩa rất quan
trọng.
Tuy bản đồ có ý nghĩa quan trọng, nhưng nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi các em học
sinh học tập gắn với kiến thức bài học, có kiến thức cơ bản về địa lí, biết khai thác
và sử dụng. Nếu không, bản đồ chỉ như một bức tranh khó hiểu mà thôi.
2. Phương pháp sử dụng bản đồ tư duy
việc, hợp tác để hoàn thành yêu cầu của giáo viên.
Giáo viên sử dụng BĐTD để hệ thống kiến thức một cách khoa học và logic,
nội dung bài học được thể hiện trên bản đồ một cách trực quan mà không bị bỏ sót
ý. Không những thế, sử dụng BĐTD còn giúp giáo viên tạo ra các hình thức học tập
khác nhau, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, phối hợp sử dụng các thiết
bị dạy học với nhau…góp phần thiết thực vào việc đổi mới phương pháp dạy học
hiện nay.
BĐTD có mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất với sách giáo khoa. Sách giáo
khoa là cơ sở để học sinh tiếp nhận kiến thức, cùng với việc sử dụng và khai thác
kiến thức từ thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu bài và thể hiện lại sự hiểu biết ấy
9
thông qua BĐTD. Đây còn là một kênh thông tin phản hồi rất thiết thực từ học sinh
đối với giáo viên. Giáo viên có thể dựa vào đó để nắm bắt được lượng thông tin mà
học sinh tiếp nhận được, từ đó có hướng điều chỉnh đối với cả học sinh và cách dạy
của chính mình cho phù hợp.
* Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ
Vì thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút nên
yêu cầu của giáo viên thường không quá khó, không đòi hỏi nhiều sự phân tích, so
sánh…để trả lời câu hỏi. Giáo viên thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội
dung bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi. Giáo viên sẽ chấm điểm
tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh. Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào
tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu. Do đó, cần phải có sự thay đổi trong
việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra
“phần nhớ” mà cần chú trọng đến “phần hiểu”. Cách làm này vừa tránh được việc học
vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập. Sử dụng
BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của học sinh đối với
bài học cũ. Các bản đồ được giáo viên đưa ra ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh
điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin
* Sử dụng BĐTD trong việc củng cố kiến thức
* Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu
nên bài tập về nhà mà giáo viên giao cho học sinh (hoặc nhóm học sinh) trước hết
11
phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép (trình độ học sinh, thời
gian, kinh tế…). Yêu cầu đối với bài về nhà cũng cần khó hơn, phức tạp hơn và cần
sự đầu tư lớn hơn (cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn
thể hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của học sinh. Bài
tập về nhà nên thiên về tính mở nên giáo viên cần định hướng cho học sinh cách tìm
kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu, đặc biệt là từ mạng Internet bằng cách cung
cấp cho học sinh một số trang web thông dụng và chuẩn xác.
Như vậy có thể thấy kiến thức địa lí có hệ thống và có mối quan hệ lôgic rất chặt
chẽ. Có nhiều nội dung có thể vẽ sơ đồ tư duy nhằm thể hiện được nội dung bài
học một cách đơn giản hóa, dễ nhớ và thấy rõ được mối liên hệ giữa các đối
tượng. Ví dụ sơ đồ nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng
ngành,… Đặc biệt có thể dùng nhiều trong chương trình địa lí lớp 12. Sau mỗi bài
học, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ ngay sơ đồ tư duy đơn giản về kiến
thức bài học. Qua đó, học sinh có thể khắc sâu nhanh nội dung bài học và thấy
được mối liên hệ của các nội dung trong bài cũng như có thể thấy mối liên hệ với
nội dung các bài học trước.
3. Phương pháp học với Atlat Địa lí Việt Nam
a. Đặc điểm Atlat Địa lí Việt Nam:
Atlat Địa lí Việt Nam có nhiều trang bản đồ , được sắp xếp một cách có hệ thống.
Như vậy cách học với Atlat Địa lí Việt Nam được bắt đầu với từng trang bản đồ,
sau đó kết hợp nhiều trang bản đồ với nhau. Trên mỗi trang bản đồ hoặc kết
hợp nhiều trang, có thể khai thác một chủ điểm hoặc khai thác nhiều chủ
điểm\
+ Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở DHNTB
- Những kiến thức phải huy động từ vốn kiến thức đã có:
+ Đất miền NTB và NB rất đa dạng với nhiều loại đất khác nhau
+ Đất feralit nâu đỏ trên đá bazan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên
khoảng 1,3 triệu ha. Đất này được hình thành trên cơ sở phong hóa đá bazan
có tầng phong hóa dày, khá phì nhiêu.
+ Đất xám bạc màu trên phù sa cổ tập trung nhiều ở ĐNB với trên 900000ha
+ Đất phù sa:
• Đất phù sa của ĐBSCL là loại đất tốt, có thành phần cơ giới nặng, phần
lớn diện tích được bồi đắp vào mùa lũ.
13
• Đất phù sa của DHNTB hình thành bởi sự bồi tụ của phù sa sông và
biển, đất có thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, đất chua, nghèo
mùn và chất dinh dưỡng.
• Đất phèn có đặc tính chua, đất mặn có loại mặn ít, loại mặn nhiều…
- Kết hợp cả Atlat Địa lí Việt Nam và kiến thức đã học, ta có :
+ Đất ở miền NTB và NB có nhiều loại khác nhau ( đất feralit và đất phù sa)
+ Đất feralit :
•
Đất feralit nâu đỏ trên đá bazan : tập trung ở các cao nguyên Tây Nguyên
khoảng 1,3 triệu ha. Đất này được hình thành trên cơ sở phong hóa đá bazan
có tầng phong hóa dày, khá phì nhiêu.
•
Đất feralit trên các loại đá khác : chiếm diện tích lơn và phân bố rộng rãi ở
•
Đất phèn , đất mặn chiếm diện tích lớn ở ĐBSCL, ngoài ra còn có ở vùng
cửa sông ven biển ở DHNTB. Đất phèn có đặc tính chua, đất mặn có
loại mặn ít, loại mặn nhiều…
•
Đất cát ven biển : phân bố dọc bờ biển, nhiều nhất ở DHNTB, đất nghèo
mùn và chất dinh dưỡng.
14
b.2.Học theo các chủ điểm với Atlat :
Mỗi trang Atlat chỉ trình bày một hoặc một số nội dung. Việc học với Atlat trước
hết được bắt đầu thực hiện với từng trang. Sau đó tiến hành với nhiều trang. Do
vậy việc học theo từng chủ điểm có nhiều lợi thế trong việc nắm kiến thức địa lí.
Có thể học với Atlat Địa lí Việt Nam theo các chủ điểm sau:
- Trình bày và giải thích vị trí địa lí của quốc gia, miền, vùng, tỉnh, trung tâm công
nghiệp hoặc thành phố lớn…và ý nghĩa của vị trí địa lí.
- Trình bày và giải thích về đặc điểm chung của tự nhiên Việt nam.
- Trình bày và giải thích một yếu tố, thành phần địa lí tự nhiên, dân cư , xã hội
- Trình bày và giải thích sự đa dạng của tài nguyên, một số thiên tai chủ yếu…
- Trình bày và giải thích một miền tự nhiên, so sánh các miền tự nhiên
- Trình bày và giải thích về một trung tâm công nghiệp, một vùng nông nghiệp,
vùng công nghiệp. So sánh các trung tâm , các vùng.
- Trình bày và giải thích về một vùng kinh tế hay một cung kinh tế trọng điểm…
b.3.Một số kĩ thuật sử dụng các trang của Atlat Địa lí Việt Nam:
*/ Phương pháp sử dụng trang mở đầu :
Cần đọc và làm việc kĩ, đồng thưoif luyện tập nhiều lần đối với trang mở đầu của
kiểu khí hậu với những đặc trưng cơ bản; tính chất theo mùa của khí hậu;
ảnh hưởng của khí hậu tới sản xuất và đời sống; các miền hoặc khu vực khí
hậu…
- Thủy văn : mạng lưới sông ngòi; đặc điểm chính của sông ngòi; các sông lớn
trên lãnh thổ; giá trị kinh tế của sông ngòi…
- Công nghiệp : giá trị sản xuất công nghiệp qua các năm; cơ cấu ngành công
nghiệp; các trung tâm công nghiệp , điểm công nghiệp; các ngành công nghiệp chủ
yếu
- Giao thông : các loại hình giao thông; các tuyến đường giao thông chính; các đầu
mối giao thông, cac cảng, sân bay và chức năng vai trò của chúng.
- Các vùng kinh tế : vị trí địa lí; quy mô( lãnh thổ - dân số ); nguồn lực phát triển;
các ngành kinh tế chủ yếu trong vùng; hướng chuyên môn hóa và sản phẩm hàng
hóa; khả năng phát triển…
Dàn ý của mỗi thành phần , yếu tố hay miền vùng địa lí trên là cơ sở để ôn luyện
kiến thức đia lí gắn với việc sử dụng Atlat tránh việc bỏ sót ý.
16
Trong khi làm bài, tùy yêu cầu câu hỏi, xác định các kiến thức nào cần khai thác,
kiến thức nào không cần trình bày hoặc không cần đi sâu phân tích vì không phải
trọng tâm của đề.
b.5. Làm việc với biểu đồ, số liệu trong Atlat:
Khi khai thác Atlat cũng cần chú ý đến việc phân tích các lát cắt, số liệu, biểu đồ
trong Atlat. Đó là các thành phần bổ trợ làm rõ nội dung trang Atlat hoặc bổ
sung cho nội dung tờ bản đồ.
Ví dụ: ở trang bản đồ Nông nghiệp, khi trình bày về cây công nghiệp, tờ bản đồ
chỉ thể hiện được các cây công nghiệp, các vùng chuyên canh cây công nghiệp.
Muốn hiểu rõ hơn cần khai thác biểu đồ hình cột thể hiện diện tích gieo trồng
cây công nghiệp và tỷ lệ diện tích gieo trồng cây công nghiệp so với diện tích
Trong quá trình dạy học ở chương trình lớp 12, tôi tiến hành thực nghiệm trên 2 lớp
12A4, 12A5.
Kết quả khảo sát chất lượng bộ môn đầu năm học 2013 - 2014 (Khi chưa tiến hành
thực nghiệm)
Kết quả
STT
Lớp
Tổng
số học
sinh
Giỏi
SL
(hs)
Khá
Tỷ
lệ
SL
(hs)
(%)
Trung bình
Tỷ
lệ
12A4
15
0
0
5
33.3
7
46.7
3
20
0
0
2
12A5
19
Đông?.
B¶n ®å hµnh chÝnh khu vùc §«ng Nam ¸
19
Câu hỏi hướng dẫn
Học sinh quan sát
khai thác Atlát
Atlat để trả lời
Em hãy xác định vị trí của
Biển Đông trên bản đồ châu
Á.
Nằm ở phía Đông Nam
châu Á.
Kết luận được rút ra
sau khi tìm hiểu
(GV chuẩn kiến thức)
Ở Đông Nam Á.
Trung quốc, Việt Nam,
Biển Đông có các quốc gia, Thái
lãnh thổ nào bao bọc?.
triển rất nhanh.
cho năng suất cao.
Biển Đông có nhiều sông
có khí hậu gió mùa, có ngòi (nước ngọt) từ đất
Độ mặn ở mức độ
lượng mưa lớn, biển Đông liền đổ ra, nên độ mặn trung bình.
có độ mặn như thế nào?.
Ngoài hải sản biển Đông
còn có tài nguyên gì?.
nước biển không cao.
Đông Nam Á là nơi giao
nhau của hai vành đai sinh
khoáng.
Trữ lượng muối, dầu
khí, kim loại lớn
Như vậy, những kết luận được đưa ra trên đây chính là đặc điểm tự nhiên cơ bản
của biển Đông. Vậy, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tự các em đã tìm được đặc
diểm tự nhiên của biển Đông qua kênh hình (Atlát), đó chính là sản phẩm công sức
của học sinh, nên học sinh có thể thuộc bài tại lớp và rất khó quên.
20
tỉnh thành phố thuộc
các vùng KTTĐ ở nước
ta.
Phòng, Quảng Ninh...
Học sinh quan sát atlát - Vùng KTTĐ Miền Trung:
kể tên các tỉnh thành Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng,
của các VKTTĐ.
QN, Q.Ngãi, Bình Định.
- Vùng KTTĐ phía Nam: TP
HCM, Đồng nai, Vũng tàu,
Long An, Tiền Giang...
- Thuận lợi cho giao
Vị trí địa lý của các thông, tiếp giáp với các
vùng kinh tế trọng điểm vùng giàu nguyên liệu.
của nước ta có đặc
điểm chung nào?
Đều giáp biển, thuận lợi
cho giao lưu với các vùng
- Giáp biển thuận lợi trong nước và với nước
cho giao lưu với nước ngoài.
ngoài.
Học sinh quan sát cơ
Cơ Cấu CN của các
và
của
cho
các
kết
chiếm tỷ lệ cao nhất; thứ nhì
- Học sinh quan sát là tỷ trọng của khu vực dịch
các biểu đồ.
vụ; thấp nhất là tỷ trọng của
- So sánh tỷ trọng (%) khu vực Nông-Lâm-Ngư.
các khu vực (ngành)
trong cơ cấu GDP.
- Kết luận VKTTĐ có cơ
cấu kinh tế phát triển hơn
hẳn các vùng khác trong cả
luận.
nước.
23
Quan sát bản đồ em có
Kết quả
Tổng
STT
Lớp
số học
sinh
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
SL
Tỷ
SL
Tỷ
SL
Tỷ
(%)
(%)
(%)
1
12A4
15
1
6.7
6
40
6
40
2
13.3
2
Tuy kết quả đạt được khá khả quan tuy nhiên các em vẫn còn tồn tại các lỗi sau:
- Trình bày cẩu thả, còn tẩy xóa, chữa lỗi trong bài làm .
- Học sinh chỉ nhận xét được một vế của yêu cầu, chưa có sự so sánh giữa các đối
tượng để rút ra kết luận cần thiết.
c. Bài học kinh nghiệm:
- Việc rèn luyện phương pháp tự học địa lí cho học sinh thông qua rèn luyện kỹ
năng khai thác Atlat trong dạy học Địa lí rất quan trọng và cần thiết, đòi hỏi người
giáo viên phải tích cực, kiên nhẫn trong quá trình hướng dẫn học sinh.
- Thời lượng các tiết thực hành trong chương trình học rất ít, trong khi yêu cầu về kĩ
năng địa lí là rất nhiều do đó giáo viên phải lựa chọn cách thức hướng dẫn cho học
sinh nhanh gọn nhất, dễ hiểu nhất và mang lại hiệu quả cao nhất.
- Giáo viên cần tập trung sửa chữa các lỗi cơ bản và lỗi thường gặp của học sinh
trong quá trình khai thác Atlat. Đối với học sinh yếu kém chưa xác định được cách
thức vẽ thì cần hướng dẫn chi tiết cụ thể. Đối với học sinh khá giỏi cần chú ý các lỗi
sai về thiếu sót các thông tin cơ bản tránh bị trừ điểm trong quá trình thực hiện .
- Đối với học sinh phải cần cù, chịu khó, tích cực làm các bài tập thực hành trong
sách giáo khoa, sách tham khảo để các kỹ năng dần hoàn thiện hơn.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
25