skkn phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác nghệ thuật trào phúng trong hạnh phúc một tang gia trích tiểu thuyết số đỏ - vũ trọng phụng - Pdf 18

PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC NGHỆ
THUẬT TRÀO PHÚNG TRONG “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG
GIA”
TRÍCH TIỂU THUYẾT “SỐ ĐỎ” – VŨ TRỌNG PHỤNG
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn
đề đã được đề cập và bàn luận rất sôi nổi từ nhiều thập kỷ qua. Các nhà
nghiên cứu phương pháp dạy học đã không ngừng nghiên cứu, tiếp thu
những thành tựu mới của lý luận phương pháp dạy học hiện đại, đưa nền
văn học của nước nhà ngày càng hiện đại, tích cực hơn, đáp ứng được
nhu cầu học tập. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã thống
nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động của học sinh dưới sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh việc phát huy tính chủ động, tích cực
của học sinh thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy của giáo viên hết sức
quan trọng. Phương pháp dạy, tổ chức, định hướng trong bài dạy của
giáo viên đối với học sinh được ví như người cầm lái con tàu. Con tàu
đó có đi đúng hướng hay không, học sinh có tiếp thu được bài học theo
hướng tích cực hay không, điều đó phụ thuộc vào phương pháp, cách tổ
chức khai khác bài học của giáo viên.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp
giảng dạy, giúp cho học sinh tiếp cận được giá trị của tác phẩm văn
chương, đem lại kết quả cao hơn trong học tập của các em, tôi đã lựa
chọn đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm.
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận:
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, tác
phẩm văn học phản ánh đời sống khách quan thông qua hình tượng nghệ
thuật, qua đó nhà văn gửi gắm quan điểm, tư tưởng, thái độ của mình
trước cuộc sống. Tác phẩm văn học giúp con người có những nhận thức
sâu sắc về đời sống. Việc đọc hiểu tác phẩm văn học sẽ giúp học sinh có
cách nhìn về đời sống và về bản thân mình.

Phương pháp khai thác nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích Hạnh
phúc của một tang gia” trích tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện
1. Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng:
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: Trào phúng là một loại đặc
biệt của sáng tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh
nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm,
2
phóng đại, khoa trương, hài hước được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích,
tố cáo, phản kháng những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã
hội. Như vậy có thể thấy Trào phúng là nghệ thuật gây ra tiếng cười
mang ý nghĩa phê phán xã hội.
Với đặc điểm là loại tiểu thuyết hoạt kê, “Số Đỏ” của Vũ Trọng
Phụng đã miêu tả thật sống động bao nhiêu cảnh đời và con người hài
hước, giễu cợt. Không chỉ một cuộc đời của nhân vật chính – Xuân Tóc
Đỏ đáng cười, mà hầu như tất cả các nhân vật, các tình huống, các chi
tiết truyện đều đáng cười, đáng phê phán. Vũ Trọng Phụng dùng tiếng
cười như một thứ vũ khí sắc bén để đả kích xã hội thực dân tư sản thành
thị - xã hội “chó đểu” với nhiều dạng “quái thai” bịp bợm. Bằng các thủ
pháp phóng đại, khoa trương dưới nhiều biểu hiện, tác giả đã dựng lên
cho người đọc thấy một lũ người háo danh, vô đạo và bỉ ổi trong cái gia
đình danh giá ấy. Chương XV của tiểu thuyết với nhan đề: “Hạnh phúc
của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương
mẫu” đã miêu tả một đám tang cụ cố tổ, giống như một đám rước, một
đám hội, một cuộc tiễn đưa tập thể, cuộc hành trình tới mộ của cả một xã
hội – cái xã hội tư sản thành thị Âu hóa rởm, văn minh rởm hết sức lố
lăng và đồi bại đang hiện diện ở Việt Nam những năm 30 – 45 của Thế
kỉ XX. Mỗi một tình huống, mỗi một nhân vật, mỗi một lời nói, hành
động cứ tự nhiên bật ra tiếng cười. Tiếng cười mang nhiều sắc thái, cung
bậc, liên tục không dứt. Nó kéo dài trong suốt cuộc đưa tiễn. Để đạt được

Mọi việc bắt đầu từ cái chết của cụ Tổ, cái chết của cụ già đáng phải
chết từ lâu ấy đã làm cho nhiều người trong gia đình ấy nhao lên mỗi
người theo một cách. Họ nhao lên vì đau đớn, vì lo lắng, vì bối rối trước
cái chết của người thân chăng? Không phải, chúng đã nhao lên vì hạnh
phúc. “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Và để
chứng tỏ lòng hiếu thảo của mình, đám con cháu ấy đã tổ chức một đám
tang thật to, thật long trọng, thật hoành tráng với đầy đủ các kiểu cách,
nghi lễ theo cả lối Ta, Tây, Tàu – một đám ma thật sự gương mẫu, “có
thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung
sướng, nếu không thì cũng gật gù cái đầu”. Bằng giọng văn tưng tửng,
bỡn cợt, hóm hỉnh. Tác giả mấy lần miêu tả điệp khúc: “Đám cứ đi! ”,
“Đám cứ đi! ” như muốn nói: Đám ma thật là to, thật là đông, thiên hạ
tha hồ mà chiêm ngưỡng. Đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả
thành phố nhốn nháo hẳn lên. Đủ các loại kèn (kèn ta, kèn tây, kèn tàu,
bu zích, lốc bốc xoảng) thi nhau mà rộ lên. Tiếng khóc của những người
đi đưa tang xen lẫn tiếng thì thầm về chuyện vợ con, nhà cửa, mua sắm,
tiếng thì thào của bọn đàn ông bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, than
thở việc vợ béo chồng gầy. Người đọc thấy khung cảnh pha tạp, hỗn độn
4
âm thanh, màu sắc, con người. Việc vĩnh biệt một con người mà như
chuyện mà như chuyện đùa vui, đám tang hay đám rước, đám hội mà vui
như ở hội chợ thế kia. Và đến lúc đám không “cứ đi” nữa mà dừng lại
để hạ huyệt. Đến đây màn kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm của sự giả
tạo. Vũ Trọng Phụng đã dựng lên hai chi tiết đặc sắc: Một là cậu Tú Tân
bắt mọi người phải cúi đầu, khom lưng để cậu chụp ảnh, hai là ông Phán
mọc sừng khóc tưởng chừng như ngất đi thì lúc ông oặt người để khóc là
lúc ông giúi vào tay Xuân năm đồng để thanh toán món nợ. Chúng nó
thật là những kịch sĩ thượng hạng của tấn trò đời. Cuối chương truyện
người đọc còn được nghe trong đám tang ấy một tiếng khóc vang lên của
ông Phán: Hứt ! Hứt ! Hứt ! cái âm thanh ấy nó mới phức điệu và đa

- Văn Minh vợ lại sung sướng theo đúng cái cách của một phụ nữ tân
thời, bà ta nhận ra từ cái chết của ông nội chồng là một dịp may hiếm có
để có thể mặc bộ tang phục tân thời, đồ xô gai tân thời của tiệm may Âu
hoá “để có thể ban cho những ai có tang đương đau đớn vì kẻ chết cũng
được hưởng chút ít hạnh phúc ở đời”
- Ông Phán mọc sừng - Đứa cháu rể quý hoá của người chết vô cùng
hả hê sung sướng vì đã được bố vợ hứa chia thêm cho vài nghìn đồng vì
đã có công giết chết cụ tổ, chính hắn cũng không ngờ đôi sừng hươu vô
hình trên đầu mình lại có giá trị đến thế và hắn lấy đó làm điều hãnh
diện. Sự bỉ ổi và vô liêm sỉ nhất ở ông Phán khi ở cuối chương truyện
ông khóc tưởng chừng đến ngất đi, giữa lúc ông oằn người khóc lóc là
lúc ông giúi vào tay Xuân Tóc đỏ món tiền năm đồng để thanh toán sòng
phẳng cho nó vì đã có công gọi ông ta là người chồng mọc sừng. Ông
thật là một kịch sĩ thượng hạng.
- Cô Tuyết: Một cô gái hư hỏng nhưng tự hào chỉ “hư hỏng một nửa”,
“chưa đánh mất cả chữ trinh”. Trong đám tang ông nội, Tuyết mặc bộ y
phục ngây thơ nửa kín nửa hở, cô đội cái mũ mấn xinh xinh…Tuyết đi
lại mời các quan khách rất nhanh nhẹn với nét mặt buồn lãng mạn rất
đúng mốt của nhà có đám tang nhưng không phải cô buồn vì cái chết của
ông nội mà buồn vì nhớ nhân tình.
- Cậu Tú Tân: Không háo danh, hám lợi như cha và anh của mình, Tú
Tân có niềm vui riêng, cái chết của ông nội là dịp may hiếm có để cậu có
dịp sử dụng và trổ tài chụp ảnh, vì thế mà cậu đã sướng điên cả người vì
sự kiện này. Bất nhân, vô đạo một cách vô tình khi mà trước lúc hạ huyệt
cho cụ tổ, Tú Tân đã bắt mọi người phải đóng một vở kịch ngay trong
đám tang: Đó là hắn bắt mọi người phải cong lưng, phải chống gậy, gục
đầu, lau nước mắt… để cho hắn chụp ảnh. Chất bi hài của truyện được
đẩy lên đến đỉnh điểm khi mà trong giờ phút ấy và cả đám tang bỗng bật
lên tiếng khóc của đứa cháu rể quý hóa – Phán mọc sừng, ông khóc
6

ngắn, hoặc đen, hoặc hung hung, hoặc lún phún hay rầm rậm, loăn
quăn…” tân thời nhất. Họ đi bên linh cữu người chết với một vẻ mặt cảm
động, song sự cảm động của họ không phải vì tưởng nhớ đến người đã
khuất, cũng không phải vì tiếng kèn Xuân nữ bi ai não ruột, mà cảm
động vì …được ngắm không mất tiền làn da trắng đang thập thò trong
7
làn áo mỏng của cô Tuyết. Các vị đến để khoe tài, khoe đức, khoe sự
giàu sang nhưng Vũ Trọng Phụng đã lật tẩy cái sự dâm ô của các vị.
- Đám giai thanh gái lịch: Họ đến đưa tang với một vẻ mặt nghiêm
cẩn, nhưng xen vào đó là những lời chê bai nhau, hẹn hò nhau, bình
phẩm nhau, chim nhau, cười tình với nhau bằng vẻ mặt buồn rầu của
người đi đưa đám. Chúng nó thật là những kẻ bỉ ổi mang bộ mặt đạo đức
giả của cái được gọi là văn minh, gương mẫu, tân thời.
-Nỗi vui sướng, hạnh phúc bất thường, kỳ di, thậm chí quái gở này,
qua ngòi bút Vũ Trọng Phụng như có sức lây lan rất rộng: Từ người bề
trên đến người bề dưới, từ người trong tang gia đến ngoài tang gia, từ
khổ chủ đến khách khứa đi đưa đám, từ người sống đến người chết. Nó
được duy trì theo diễn biến của đám tang, từ lúc phát phục đến khi cất
đám, đưa đám và cả đến khi hạ huyệt. Xem thế để thấy niềm hạnh phúc
mà cái chết kia mang lại thật vô bờ bến và mang niềm sung sướng đến
tất thảy mọi người.
c. Ngôn ngữ trào phúng
Về mặt ngôn từ:
Với đặc trưng của loại tiểu thuyết trào phúng, tác giả đã sử dụng
một tần số lớn các lớp ngôn từ mang tính gây cười nhằm phê phán, đả
kích. Trong chương truyện, những lời đối thoại rất ít, chủ yếu là lời trần
thuật của người kể chuyện với sự vận dụng các thủ pháp cường điệu, nói
ngược, mỉa mai…sử dụng đan xen, linh hoạt, song tính chất khách quan
chân thực vẫn hiện lên rất rõ nét. Ngay từ đầu tên chương truyện nhà văn
thông báo: “Hạnh phúc một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào –

trong một câu văn để làm bật sự vô nghĩa lí của cuộc đời kiểu như:
“Hạnh phúc một tang gia”, “cái chết kia đã làm cho nhiều người sung
sướng lắm”, “tang gia ai cũng vui vẻ cả”, hay đoạn nói về thuốc thánh
đền bia “công hiệu đến nỗi họ mất mạng”, hoặc “đám ma to tát có thể
làm người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu
không cũng phải gật gù cái đầu”…được sử dụng dày đặc trong đoạn
trích. Cách trần thuật này làm chúng ta thấy thực giả lẫn lộn, danh hão và
lòng hiếu thảo xen lẫn nhau. Có khi tác giả lại mỉa mai bằng cách nói
ngược, ví như sau khi ghi lại hàng loạt câu nói trơ trẽn, nhảm nhí của
đám giai thanh gái lịch, tác giả viết “và còn nhiều câu nói vui vẻ, ý nhị
khác nữa, rất xứng đáng với những người đi đưa đám”. Những câu nói
ấy là hư cấu ư? Nhưng ở đây nó hợp lí và hình như đều có thật cả. Đằng
sau những câu nói như vô lí kia lại là sự thật của đời sống: Sự tàn nhẫn
và dối trá.
Có thể nói đoạn trích “Hạnh phúc một tang gia” là một chuỗi cười dài,
liên tục, không ngớt từ lúc cụ Tổ trút hơi thở cuối cùng cho đến khi cụ
vùi sâu ba tấc đất. Thời gian không dài song Vũ Trọng Phụng đã phát
9
hiện và diễn tả thật tài tình những cái bất thường, kì dị chứa đựng những
mâu thuẫn trào phúng rồi phóng đại nó lên qua đó ông lật tẩy tính chất
bịp bợm của tầng lớp gọi là thượng lưu, trí thức trong xã hội thực dân tư
sản thành thị được thu hẹp trong gia đình cụ Cố, tất cả tính chất giả tạo
của nó được trình diễn trong một cuộc diễn trò: Một cuộc báo hiếu linh
đình nhất của một gia đình đại bất hiếu.
3. Phương pháp thực hiện bài dạy cụ thể.
a. Cách giới thiệu bài mới cần hấp dẫn.
Đây là hoạt động đầu tiên của bài học, việc vào bài hấp dẫn sẽ tạo
được tâm thế và hứng thú trong giờ học cho học sinh, tránh vào bài một
cách đơn điệu nhàm chán. Giáo viên có thể vào bài bằng nhiều cách khác
nhau như kể một mẫu chuyện, đưa một thông tin hấp dẫn, đặt một số câu

tang gia lại vui vẻ. Nhan đề giật gân, hài hước, trào phúng
- Câu hỏi phân tích. Câu hỏi dạng này nhằm phát huy năng lực
cảm thụ văn học của học sinh, giúp các em khám phá nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm. Khi giáo viên đặt câu hỏi, học sinh có thể trình bày
những hiểu biết của mình về những vấn đề giáo viên đưa ra để có những
cảm nhận đúng đắn, sâu sắc.
Ví dụ: Vì sao cái chết của cụ cố tổ lại là niềm hạnh phúc của mọi
thành viên trong đại gia đình cụ? Hãy phân tích tâm trạng hạnh phúc ấy?
Định hướng: Niềm vui lớn nhất cho đại gia đình bất hiếu này là tờ
di chúc của cụ cố tổ thế là đã đến lúc thực hiện:
+ Ông Phán mọc sừng: sung sướng và tự hào về giá trị đôi sừng
hươu vô hình.
+ Cụ cố Hồng: mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai đê cho
thiên hạ phải ngợi khen. Nhân vật điển hình cho loại người ngu dốt và
háo danh.
+ Ông Văn Minh: thích thú vì cái “chúc thư không còn là lý
thuyết viễn vông nữa” và đăm đăm chiêu chiêu suy nghĩ về ơn và tội của
Xuân tóc đỏ.
+ Cậu Tú Tân: điên người lên vì đã sẵn sàng mấy cái máy ảnh mà
mãi không được dùng đến.
+ Bà Văn Minh: sốt cả ruột vì mãi khôgn được mặc đò xô gai tân
thời
+ Ông Typn: bực mình vì mãi không thấy sản phẩm cuả mình ra
mắt công chúng.
+ Cảnh sát sung sướng vì có việc làm.
11
- Câu hỏi nêu vấn đề. Loại câu hỏi này gây hứng thú nhận thức
trong học sinh, có tác dụng động viên khuyến khích học sinh giải quyết
vấn đề một cách sinh động và nhằm phát hiện những tình huống có vấn
đề, giúp học sinh làm rõ vấn đề còn tiểm ẩn trong tác phẩm. Khi đưa ra


12
c. Trích ngang giáo án “Hạnh phúc của một tang gia”- Tiểu thuyết “Số
đỏ” của Vũ Trọng Phụng.
Hoạt động của thầy và
trò
Nội dung cần đạt

Tiết 2
- HS tóm tắt đoạn trích
SGK
- Mâu thuẫn trào phúng là
gì?mâu thuẫn trong đoạn
trích là gì?
- Thế nào là hình huống
trào phúng?
- Trong đoạn trích có tình
huống trào phúng gì?thể
hiện ở đâu?
I. Tìm hiểu chung. Tiết 1
II. Đọc - hiểu chi tiết:
(Cho học sinh tóm tắt đoạn trích. Sau đó
xem 3 đến 5 phút clip về đám tang trên
phim để học sinh cảm nhận được giữa
đoạn phim vừa xem về đám tang thật và
đám tang trong đoạn trích có điểm khác
biệt cơ bản nào)
1.Mâu thuẫn và tình huống trào phúng
- Mâu thuẫn trào phúng là tạo nên tiếng
cười dựa trên sự đối lập tương phản giữa

khi cụ cố tổ qua đời
+ Cách miêu tả có chân
thực không? có phóng đại
không? Tiếng cười trào
phúng bật ra từ đâu?
+ Em thích nhất chi tiết
nào? vì sao ?
- Đại diện nhóm trình bày
vấn đề.
tìm lang băm đông, lang băm tây, lang tì,
lang phế…Đặc biệt là đốc tờ Xuân.
+ Họ vui mừng vì cái chúc thư đi vào thời
kì thực hành.
- Tình huống đó được thể hiện ở nhan đề
của đoạn trích .
+ Hạnh phúc: niềm vui, sung sướng của
con người khi đạt được mơ ước của mình
+ Tang gia: Gia đình có người chết: đau
thương buồn tiếc nuối…Nhan đề hài hước
ngược đời: Đám tang lại đem lại niềm vui
cho mọi người.
b. Niềm vui của từng thành viên trong
gia đình.
* Con trai trưởng (cụ cố Hồng)
- Thản nhiên nằm trên gác hút thuốc
phiện và gắt 1872 “Biết rồi khổ lắm nói
mãi”, mơ màng đến lúc được mặc đồ xô
gai, tỏ ra là người có hiếu, thích được
khen: nhớn, già thế kia…
=> kẻ háo danh, khoe khoang, tàn nhẫn,

phù phiếm.
*Ông TYPN
- Hồi hộp chờ đợi giây phút sp chế tạo
của mình ra mắt công chúng
* Đứa cháu rể (ông Phán mọc sừng)
-Vui mừng vì cái sừng hươu vô hình trên
đầu.
- Vui vì khoản thừa kế được chia, ông ta
nghĩ ngay đến cuộc doanh thương với
Xuân.
=> mỗi người có niềm hp riêng nhưng đều
có chung một thái độ:
+ sốt ruột, điên lên, bực mình… háo hức
chờ phát tang như chờ đón lễ hội
+ Hồi hộp chờ chia gia tài kếch xù của
người chết
-> Bọn chúng là một lũ vô nhân đạo, bất
hiếu, háo danh, trái với truyền thống đạo
lí .
c. Niềm vui của những thành viên ngoài
gia đình
* Xuân tóc đỏ
- Sung sướng, tự hào, hãnh diện vì "có
công lớn"
- Uy tín và danh dự càng to. Cơ hội được
trọng vọng, thăng tiến càng lớn. Nhờ có
15
Nhóm 3 thảo luận
- Đám tang diễn ra như
thế nào?(Nghi thức, quang

=> bằng bút pháp trào phúng hiện thực tác
giả vạch trần bộ mặt giả rối, rởm đời, chó
đểu của xã hội đương thời xã hội suy đồi
đạo đức.
đ. Cảnh đám ma gương mẫu
- Nghi thức: Ta, Tàu, Tây. Hàng trăm câu
đối, vòng hoa, lợn quay đi lọng, kiệu bát
16
- Thái độ của tác giả trước
thực trạng ấy?
- Đại diện nhóm trình bày
vấn đề.
Nhóm 4 thảo luận:
- Cảnh hạ huyệt được tác
giả miêu tả như thế nào?
chi tiết nào đáng chú ý
nhất?
HS khái quát lại nét đặc
sắc về nội dung và nghệ
thuật đoạn trích.
cống, vài trăm người đi đưa, ảnh chụp như
hội chợ, quần áo như buổi dạ hội…
=> Quá đầy đủ, long trọng nhưng hổ đốn,
bát nháo cốt để khoe sang, giàu một cách
lố bịch và hợm hĩnh (Thật là một đám ma
to tát khiến người chết cũng phải mỉm cười
sung sướng, nếu không gật gù cái đầu)
- Không khí:
+ Sôi nổi hỗn loạn
+ Vui vẻ, đông đúc, nhộn nhịp. Đám đi

- Nghệ thuật.
d. Sử dụng phương tiện dạy học.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển và việc đổi mới
phương pháp dạy học cần áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học là
hướng đi đúng đắn nhằm mang lại hiệu quả và hứng thú trong giờ học. Ở
bài này giáo viên cần áp dụng máy chiếu nhằm tránh sự nhàm chán trong
giờ dạy, ở đây giáo viên dùng sơ đồ hóa để tóm tắt tiểu thuyết Số đỏ,
dùng tư liệu phim để trình chiếu một số trích đoạn ngắn như: Lúc cụ Cố
tổ hấp hối, cảnh đám ma gương mẫu hoặc cảnh hạ huyệt. Khi phân tích
các nhân vật cần trình chiếu ảnh chân dung (cắt từ phim) về các nhân
vật.
Song để tránh tình trạng “chiếu – xem ” thì giáo viên cũng cần kết
hợp với việc ghi bảng, trong khi trình chiếu cần dành thời gian nhất định
cho học sinh quan sát và suy ngẫm.
Có thể nói việc sử dụng công nghệ thông tin và đồ dùng dạy học
trong mỗi tiết học là cách thức góp phần làm tăng hiệu quả giờ dạy. Đây
là một việc rất cần thiết để tiết học còn thêm phần sinh động.
4. Kết quả thực nghiệm
Qua việc thực hiện phương pháp dạy học đoạn trích “Hạnh phúc
một tang gia” theo đặc trưng thể loại tiểu thuyết trào phúng bằng việc
khai thác theo hướng từ những yếu tố nghệ thuật trào phúng trong việc
kết hợp với việc sử dụng các phương tiện dạy học tôi nhận thấy tiết học
sôi nổi hơn, mỗi em học sinh hứng thú hơn trong việc xây dựng bài mới
và đặc biệt hơn nữa các em được quyền sáng tạo trong tiếp nhận tác
phẩm. Đặc biệt hơn khi dạy đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”
trích Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng ở hai lớp 11E và lớp 11N
(học lực của 2 lớp tương đương nhau) đã đem lại kết quả khác nhau.
18
- Cụ thể: Lớp 11E tôi vận dụng phương pháp theo đề tài này, còn
lớp 11N thì thực hiện theo cách dạy cũ.

19
Cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương tiện dạy học
sao cho vừa đảm bảo tính hấp dẫn của giờ học vừa không mất đi chất
văn.
Học sinh cần có sự chuẩn bị bài chu đáo, không lệ thuộc vào tài
liệu.
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm
2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình, không sao chép nội dung
của người khác.
LÊ TRỌNG VINH
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ngữ Văn 11, Cơ bản, tập 1, Nxb Giáo dục, 2009
2 Phan Trọng Luận, Phương pháp dạy học Ngữ văn, Nxb Giáo dục,
2009
3 Phan Trọng Luận, Thiết kế giáo án Ngữ văn 11, Nxb Giáo dục,
2010
4 Sách giáo viên ngữ văn 11, Nxb Giáo dục, 2009
5 Sách tham khảo Ngữ văn 11, Nxb Giáo dục, 2010
20
MỤC LỤC
TT Mục Tr
1 A. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 B. NỘI DUNG 1
3 I. Cơ sở lí luận 1
4 II. Cơ sở thực tiễn 2
5 III. Giải pháp và tổ chức thực hiện 2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status