MỤC LỤC
STT
Nội dung
1
Mục lục
2
Đặt vấn đề
3
Giải quyết vấn đề
Trang
1
2 -> 3
3
-
Cơ sở lý luận của vấn đề
3-> 5
-
Các biện pháp đã tiến hành giải quyết vấn đề
25
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn học Việt Nam được hình thành từ hai bộ phận lớn đó là Văn học
dân gian và văn học viết. Trong chương trình Ngữ văn THPT bộ phận văn
học dân gian chiếm dung lượng khá lớn với nhiều thể loại phong phú.
Một trong những thể loại học sinh khá yêu thích nhưng cũng khó nắm bắt
đó là ca dao. Nhiều câu hỏi đã được đặt ra đối với giáo viên Ngữ văn :
Giảng văn tác phẩm văn học dân gian có khác với giảng văn tác phẩm
văn học viết hay không? Trong những tác phẩm được gọi là văn học dân
gian có thực sự có phần “ văn” để giảng như văn học viết hay không?
Giảng văn ca dao ngoài phần lời có nên đề cập đến phần nhạc và các yếu
tố khác có liên quan hay không?
Ca dao là tiếng nói của tình cảm. Đến với ca dao ta như bắt gặp những
tâm trạng tình cảm , rung động sâu xa tinh tế của chính lòng mình. Đối
với người giáo viên Ngữ văn làm thế nào để giúp học sinh thâm nhập
được vào thế giới nội tâm phức tạp ấy của con người là việc làm hết sức
khó khăn.
Vì vậy việc đi tìm phương pháp giảng dạy giúp học sinh cảm hiểu giá
trị nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp thẩm mĩ của ca dao là điều cần thiết
Để giờ học có hiệu quả, người giáo viên cần có thiết kế bài học tốt
không chỉ chú trọng khâu kiến thức bài học mà còn chú ý đến cách tổ chức
cho học sinh học tập, sử dụng các phương pháp dạy học phù hợp đối tượng
trong đó cần áp dụng các kĩ thuật dạy học mới phù hợp với từng kiểu bài để
phát huy khả năng tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh trong chiếm lĩnh
kiến thức. Đặc biệt chú trọng đến phương pháp giảng dạy phù hợp thể loại
chỉ với một thể loại , tiểu loại thậm chí là tác phẩm cụ thể. Chẳng hạn vấn đề
phân tích khai thác nhân vật trữ tình chủ yếu chỉ đặt ra đối với ca dao và
phần nào đó đối với bộ phận về tâm tình , vấn đề phân tích những xung đột
gia đình mang ý nghĩa xã hội chủ yếu chỉ đặt ra đối với thể loại cổ tích. Vì
thế mỗi thể loại cần có phương pháp giảng dạy khác nhau. Việc giảng dạy
đối với từng tác phẩm văn học dân gian cụ thể đòi hỏi phải dựa vào những
cơ sở và điều kiện khác nhau, trong đó có hai vấn đề quan trọng:
1. Phải dựa vào lí luận tổng quát về phương pháp nghiên cứu, giảng dạy văn
học dân gian
2. Phải dựa vào kết quả thành tựu nghiên cứu cơ bản về tác phẩm hoặc lĩnh
vực văn học dân gian cụ thể đó.
Ca dao nói chung và ca dao cổ nói riêng đều có đặc điểm chung là
giản dị, dễ hiểu và đều khó giảng. Sự dễ hiểu của ca dao chẳng những không
phải là điều kiện thuận lợi mà trái lại , còn chính là nguyên nhân trực tiếp
dẫn tới sự khó khăn trong giảng dạy ca dao.
Khó khăn lớn nhất ở đây là làm thế nào để đem lại cho học sinh những
nhận thức mới, cảm thụ mới về những bài ca dao giản dị quen thuộc, dễ
hiểu.
Hiện tại ở các trường phổ thông có khá nhiều cách giảng dạy ca dao khác
nhau dẫn đến cách cảm hiểu về ca dao đôi khi thiếu thống nhất.
Phổ biến nhất có lẽ là cách diễn nôm ca dao. Người giảng nói lại nội dung
trực tiếp của các câu ca dao bằng lời lẽ thông thường nôm na để học sinh “ dễ
hiểu”.Cách giảng này thường làm cho người dạy và người học không hào
hứng vì nội dung học tập không có gì mới mẻ. Thực chất của cách dạy này là
đơn giản hóa ca dao nên không đem lại hiệu quả.
Có người lại phức tạp hóa sự giản dị dễ hiểu của ca dao, lôi cuốn học sinh
bằng những lời lẽ văn hoa bóng bẩy. Cách này thường làm cho người học và
người dạy cảm thấy giờ học hấp dẫn sinh động song thực ra cũng không đem
khung thời gian , không gian và thể loại nhất định nào đó. Mỗi bài ca dao
đều là tiếng nói là sản phẩm của nhân dân sinh thành trong hoàn cảnh nhất
định. Nhưng do quy luật sinh thành tồn tại riêng của chúng mỗi tác phẩm văn
học dân gian không nhất thành bất biến cho nên không thể gắn chúng vào
thời điểm lịch sử nhất định như đối với tác phẩm văn học viết . Việc đi tìm
cái khung chung về không gian , thời gian, một bối cảnh lịch sử sinh thành
của tác phẩm văn học dân gian là cần thiết
2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a. Đối với khâu chuẩn bị:
* Về phía giáo viên:
Điều tra, quan sát, phân loại đối tượng học sinh chia thành các nhóm học
tập. Nắm chắc phương pháp giảng dạy ca dao với các bước cụ thể khi tiếp cận
và đọc - hiểu ca dao. Trang bị kiến thức về ca dao, sống với tác phẩm. Xem
xét bài ca dao ở nhiều góc độ để hiểu thấu đáo giá trị nội dung tư tưởng và
nghệ thuật của ca dao.
Sử dụng phương pháp dạy học tích cực, áp dụng kĩ thuật mới vào giảng dạy.
Phân nhóm cho học sinh thảo luận, nêu câu hỏi phát vấn.
Những kinh nghiệm qua thực tế giảng dạy
Những tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học.
Đối chứng qua giờ dạy ở trường, có khảo sát chất lượng, đánh giá rút kinh
nghiệm giờ dạy.
* Về phía học sinh:
Học sinh chuẩn bị bài ( soạn văn) chu đáo tiếp cận tác phẩm văn học dân
gian ( ca dao) bằng việc đọc , đọc diễn cảm , học thuộc lòng bài ca dao.
Soạn bài theo hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của
giáo viên
Phát hiện cái hay cái đẹp của ca dao về nội dung , nghệ thuật thông qua các
tín hiệu ngôn ngữ để tìm hiểu nội dung biểu đạt của ca dao
ca ru con) vừa thống nhất vừa khác nhau điều đó phản ánh rõ tính chất độc
lập tương đối của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong dân ca.
Như vậy khi xem xét thể loại của bài ca dao cần xem xét phương diện
“ ca” của nó tức là xem nó đã được sử dụng trong hình thức sinh hoạt dân
ca nào, trong đó loại dân ca gốc của nó là gì? Xem xét phương diện
“thơ” của nó tức là dựa vào phần lời của bài ca dao mà xem xét đặc điểm
nội dung, nghệ thuật.
Việc xác định tác giả, nhân vật trữ tình và đối tượng trữ tình cũng
là một mảng công việc quan trọng trong quá trình tìm hiểu , giảng dạy ca
dao. Trong ca dao tác giả và nhân vật trữ tình là thống nhất vì đó là tiếng
nói tâm tình trực tiếp của người lao động. Ở những bài ca dao mà nhân vật
trữ tình là người phụ nữ ( Người vợ lẽ, vợ lính, nàng dâu) chắc chắn tác
giả ban đầu của chúng cũng là những người phụ nữ có cảnh ngộ và tâm
trạng đúng như cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật trữ tình mà bài ca dao
phản ánh.
-Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
- Thân em như con hạc đầu đình
Muốn bay không cất nổi mình mà bay.
Những câu ca dao như vậy chắc chắn là sự tự bộc lộ của tác giả do đó tác
giả và nhân vật trữ tình chỉ là một.
Trong ca dao cổ nhất là bộ phận ca dao trữ tình việc xác định nhân vật
trữ tình gắn liền với xác định đối tượng trữ tình của nó. Nhân vật trữ tình
chính là chủ thể bộc lộ tình cảm còn đối tượng trữ tình chính là chủ thể
tiếp nhận tình cảm. Hai loại chủ thể này đồng thời là đối tượng trao đổi
tình cảm của nhau. Trong ca dao đối đáp nam nữ hai loại nhân vật này
thường xuyên đổi vị trí cho nhau. Khi bên này là chủ thể bộc lộ thì bên kia
là chủ thể tiếp nhận và ngược lại:
Trong mỗi bài ca dao đối tượng trữ tình có thể là một cũng có thể là một
số nhân vật khác nhau. Bài “ Tóc quăn chải lược đồi mồi” nhân vật trữ
tình là người con ở đang bất bình với chủ nhà cao độ và quyết định bỏ chủ
ra về. Đối tượng trữ tình gồm nhiều nhân vật thuộc những đối tượng khác
nhau ( Chúng bạn chăn trâu, cái rổ, cái rế, cái cọc cầu ao, con trâu và có
lúc là tất cả mọi người như là than thở với đời chứ không phải riêng ai)
Vì thế đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất trong bài ca rất phong phú và thay
đổi tùy từng đối tượng. Với chúng bạn, người con ở xưng mình là “ tớ”
một cách thân mật , tự nhiên:
Giã ơn chúng bạn chăn trâu
Tớ về Đồng Bãi hái dâu chăn tằm
Tớ ở chưa được nửa năm
Chúa nhà mắng tớ, tớ nằm không yên.
Với những công cụ lao động, những đồ dùng thân thuộc hàng ngày anh
xưng “ tao” và “ mày” coi chúng như người bạn đặc biệt của mình.
Giã ơn cái rổ cái sề
Tao chẳng ở nữa tao về nhà tao
Giã ơn cái cọc cầu ao
Nửa đêm gà gáy có tao có mày
Giã ơn con trâu kéo cày
Tao không ở nữa ai chăn mày trâu ơi!
Ca dao thường sử dụng biểu tượng nên khi tìm hiểu bài ca dao cần xem
xét biểu tượng trong bài. Bài ca dao “ Khăn thương nhớ ai” nỗi thương
nhớ được diễn tả cụ thể và gợi cảm. Đó là nhờ cách nói riêng mang tính
nghệ thuật của ca dao. Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu
được biểu lộ cụ thể sinh động bằng các biểu tượng “ Khăn , đèn , mắt” đặc
biệt là hình ảnh Khăn. Khăn , đèn được nhân hóa, còn mắt là phép hoán
dụ để nói đến nhân vật trữ tình. Cô gái hỏi khăn, đèn , mắt chính là cô tự
Cái cầu đó có khi là cành hồng, cành trầm , nhiều khi là ngọn mồng tơi .
Đó là những cái cầu không có thực được dệt nên bằng ước mơ táo bạo của
con người. Nhưng chính những cái cầu ảo đó lại đem đến một vẻ đẹp rất
dân gian , rất đồng quê mà chỉ ca dao mới có được.
Đặt trong hệ thống hình ảnh cái cầu nói trên càng thấy rõ vẻ đẹp của cái
cầu dải yếm. Ước muốn đã độc đáo tạo ra cái cầu để thực hiện ước muốn
đó lại càng độc đáo hơn.
Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm đẻ chàng sang chơi
Ở đây con sông không thực mà cái cầu lại càng ảo. Có con sông ấy thì
mới có cái cầu ấy. Nó đích thực là cái cầu tình yêu trong ca dao mà lại là
cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu trong sự ràng
buộc của lễ giáo phong kiến . Nó táo bạo, mãnh liệt nhưng cũng rất trữ
tình ý nhị biết bao bởi nó là cái yếm vật mềm mại luôn quấn quýt bên
người con gái: Nó chính là người con gái Người con gái muốn dùng cái
vật thân thiết gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu.
Cái cầu dải yếm được tạo nên từ chính máu thịt, cuộc đời, trái tim rạo rực
yêu đương của những người con gái làng quê.Nó trở thành cái cầu tình yêu
đẹp nhất trong ca dao và chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian thì mới sáng
tạo ra được một cái cầu như thế: Vừa gần gũi thân quen vừa táo bạo mà
trữ tình đằm thắm đầy nữ tính. Trong hệ thống hình ảnh cái cầu của ca
dao, nó là kết tinh đẹp đẽ nhất bởi từ cái cầu- dải yếm này không chỉ có
tâm hồn đẹp của người lao động trong tình yêu mà còn có cả cách nói đẹp
của họ trong việc biểu đạt tình yêu đó.
Mặt khác trong ca dao cũng có những mô típ , đó là sự lặp lại các hình
ảnh quen thuộc như: Con cò , bến nước, cây đa,hay lối lặp từ ngữ như:
Chiều chiều , thân em
Hiện tượng liên kết tác phẩm thành chuỗi diễn ra phổ biến ở ca dao. Vì
nghệ thuật và ý nghĩ hiện đại của nó. Cái khó là vấn đề vận dụng cụ thể ,
trong đó bao gồm vấn đề cảm thụ cái hay của bài ca dao và khả năng
truyền đạt thể hiện sự cảm thụ ấy. Ở đây người giảng ca dao phải biết kết
hợp chặt chẽ hai loại tư duy: Tư duy lô gic bằng khái niệm qua hệ thống
thuật ngữ nghiên cứu văn học dân gian và tư duy hình tượng với hệ thống
ngôn ngữ phong phú đa dạng giàu tính cụ thể và gợi cảm của đời sống. Sự
kết hợp này được thể hiện bằng việc phân tích chủ đề qua việc phân tích
nội dung nghệ thuật, đến việc tìm đến mối quan hệ của bài ca dao với đời
sống hiện nay hoặc qua phân tích đặc điểm nghệ thuật mà rút ra nội dung
ròi từ việc phân tích nội dung, chủ đề bài ca dao mà rút ra ý nghĩa hiện đại
của nó.
Chẳng hạn bài ca dao “ Con cò mà đi ăn đêm” là bài ca dao trữ tình có
tính chất ngụ ngôn độc đáo. Lí tưởng thẩm mĩ, triết lí sống cao đẹp được
tác giả trình bày dưới hình thức một câu chuyện ngụ ngôn về con cò gặp
tai nạn trong lúc kiếm ăn. Bài ca dao có hai nhân vật “ Con cò” và “ Ông”
đều do nhân dân sáng tác ra để bộc lộ tư tưởng thẩm mĩ và triết lý sống
cao đẹp của mình. Cần tập trung khai thác sâu vào hình tượng con cò. Con
cò rất yêu đời, han sống: “ Ông ơi ông vớt tôi nao” đó là lời khẩn cầu tha
thiết về sự yêu đời ham sống của nó. Ham sống nhưng không sợ chết. Vì
thế con cò trong cơn hoạn nạn “ Lộn cổ xuống ao” vẫn đủ tỉnh táo để
lường trước cái chết có thể đến với mình. Và nó yêu cầu điều thứ hai nếu
điều thứ nhất là cứu sống không được chấp nhận.
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Con cò không muốn chết nhưng điều làm cho nó sợ hơn cả cái chết là
sự chết trong “ nước đục”. Nó chủ động chọn cái “chết trong” nếu phải
chết. Sự lựa chọn ở đây vừa đau xót vừa cao thượng. Cái cao thượng và
cái bi ở đây bắt nguồn từ triết lí sống “ Chết trong còn hơn sống đục”.
độc đáo và nên thơ đó. Sự gắn bó giữa sự và tình giữa hư và thực trong
câu ca dao này chính là ở chỗ đó. Sự trong ca dao bao gồm sự việc và cảnh
vật, nó có thể là có thực hoàn toàn hoặc hư cấu hoàn toàn hoặc vừa có
thực vừa hư cấu. Nhưng dù thé nào thì sự có mặt của nó trong bài ca dao
cũng là do yêu cầu của tình cảm và nhằm bộc lộ tình cảm
Vì vậy sự và tình trong ca dao có sự kết chặt như hòa nhập vào nhau
không thể tách rời. Dạy ca dao nếu sa vào sự việc, cảnh vật mà quên mất
tình cảm hoặc coi nhẹ tình cảm của tác giả thì không đạt hiệu quả.
Có thể thấy rằng quá trình lĩnh hội phân tích lí giải một bài ca dao bao
gồm nhiều khâu , nhiều bước cụ thể. Người giáo viên văn học khi dạy ca
dao cần làm cho học sinh hiểu : Bài ca dao ra đời trong hoàn cảnh và
trường hợp nào? Được lưu hành sớm nhất và nhiều nhất ở đâu? Thuộc thể
loại nào? Chủ thể nhân vật trữ tình của bài ca dao là gì? hay bài ca dao là
tiếng nói của ai? Người ấy như thế nào? Đối tượng trữ tình của bài ca là
gì? Xác định nội dung truyền đạt phô diễn của bài ca dao là gì? ( Vấn đề
chủ yếu mà tác giả bài ca dao muốn nói) Hình thức nghệ thuật bài ca dao
là gì? ( Sự phô diễn tâm tư tình cảm bằng phương pháp ,phương tiện nghệ
thuật như thế nào) Ngoài ra cần làm rõ bài ca dao có mối liên hệ gì với
cuộc sống hiện nay?
Thứ tự trước sau của các khâu các bước trên diễn ra linh hoạt thay đổi theo
từng đối tượng cụ thể bởi trong thực tế khi tìm hiểu ca dao có nhiều bài
khác nhau. Nhưng cho dù thế nào thì cũng không thể thay đổi nguyên tắc
chung và tinh thần nội dung cơ bản của chúng.
3. Thực trạng học sinh học tập bộ môn văn
Từ thực trạng học sinh nói chung và học sinh trường THPT số 1
Mường Khương còn ngại học văn, không yêu thích môn học bởi đây là môn
học khó cần ở học sinh khả năng cảm thụ văn chương tốt, trí tưởng tượng
phong phú, sự ham hiểu biết, vốn sống, vốn kinh nghiệm mà lứa tuổi học
văn học dân gian hiểu được vẻ đẹp tâm hồn của người bình dân xưa qua ca
dao.
Đối với giáo viên việc tập trung vào tìm hiểu phương pháp giảng dạy theo
đặc trưng thể loại đã có hiệu quả nhất định trong giảng dạy, luôn có ý thức
đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng yêu cầu giáo dục trong thờì đại
mới. Với đề tài trên đã tạo được sự thống nhất về phương pháp tiếp cận,
giảng dạy ca dao, một thể loại văn học dân gian trong chương trình Ngữ văn
THPT nhằm phát huy khả năng tích cực chủ động của học sinh trong quá
trình chiếm lĩnh kiến thức.
THỰC HÀNH SOẠN GIẢNG:
Ngày soạn :
Ngày giảng:
Tiết 26+ 27
CA DAO THAN THÂN YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
A. Mục tiêu bài học:
1. Kiến thức:
- Nắm được khái niệm ca dao qua tác phẩm cụ thể.
- Cảm nhận được tiếng hát than thân và lời ca yêu thương tình nghĩa
của người bình dân trong xã hội phong kiến qua nghệ thuật đậm màu sắc dân
gian của ca dao.
- Vận dụng kiến thức về đặc trưng thể loại để phân tích những tác
phẩm cụ thể.
*Kiến thức trọng tâm:
Các thể thơ thường được sử 3. Thể thơ: Lục bát, lục bát biến thể, thể
dụng trong các sáng tác ca dao? vãn…
Đặc trưng nghệ thuật của ca 4. Nghệ thuật: Nghệ thuật truyền thống,
dao?
mang đậm sắc thái dân gian.
Khái quát nội dung của ca dao?
- Giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ
- Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu,
có lối diễn đạt mang tính công thức.
5. Nội dung: Diễn tả đ/s tâm hồn, tinh
HĐ 2: Đọc văn bản:
-Tgian: 8 phút
-Ptiện: SGK
-Ppháp: Giảng, vấn đáp, thảo
luận-sử dụng kĩ thuật Khăn trải
bàn
GV định hướng cách đọc, đọc
mẫu.
Gọi HS sinh.
Kết hợp phân tích với chú thích
chân trang để giải thích từ khó.
GV cho HS thảo luận nhóm 2
trong 2 phút theo câu hỏi: Chia
nhóm các bài ca dao theo chủ
đề?
GV nhận xét, chốt ý.
diết, bồn chồn.
-Bài 5: Ước muốn mãnh liệt trong t/y
-Bài 6:Nghĩa tình gắn bó, thuỷ chung của
vc
II.Đọc hiểu văn bản:
1.Bài ca dao số 1,2:
*Điểm chung:
- Lời hát than thân của người phụ nữ.
- Sử dụng hình ảnh so sánh ẩn dụ"số
phận bất hạnh, nỗi đau tủi phận.
- Diễn đạt theo công thức:
“Thân em như…”"khiến cho lời than
thân càng thêm ngậm ngùi, chua xót.
*Nét riêng:
a. Bài ca dao số 1:
- So sánh: Thân em-lụa đào
"Tự ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân của
mình.
- “ Phất phơ giữa chợ…” phụ thuộc vào
người mua (quyết định giá trị sử
dụng)"số phận lệ thuộc của người phụ
nữ.
dựng hình ảnh này?
b. Bài ca dao số 2:
- Hình ảnh so sánh: Thân em- củ ấu gai.
- Đặc điểm: Ruột trong trắng> < vỏ ngoài
đen
mòn mỏi của sự chờ đợi, có cái cô đơn
của sự ngóng trông, có nỗi đau của con
người lỡ duyên thất tình, ánh lên vẻ đẹp
của mối tình son sắt.
Nhận xét như thế nào về câu thơ => Một tình yêu đích thực, đắm say,
cuối?
mãnh liệt..
HĐ 4(2 phút): Củng cố, dặn dò.
*Củng cố: Tiếng hát than thân và tiếng
hát yêu thương trong 3 bài ca dao đầu
*Dặn dò: Học bài, chuẩn bị tiết 2.
Tiết 27: Đọc văn.
CA DAO THAN THÂN YÊU THƯƠNG TÌNH NGHĨA
( Tiếp theo)
đoạn thơ còn sử dụng biện pháp nghệ
thuật nào nữa? tác dụng của nó?
Tìm những câu thơ có nội dung tương
tự diễn tả nỗi nhớ của người con gái?
Em có nhận xét gì về cách sử dụng
III. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN ( Tiếp)
3. Bài ca dao số 4:
Nỗi thương nhớ người yêu da diết
được bộc lộ qua việc sử dụng các h/a
biểu tượng : Khăn , đèn , mắt
*Hình ảnh chiếc khăn:
Vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ,
quấn quýt bên người con gái cùng chia
sẻ buồn vui với họ.
- “Khăn thương nhớ ai”->lặp lại 3 lần
biện pháp nhân hoá->diễn tả nỗi nhớ
thương triền miên dồn lắng, tích tụ,
làm nổi bật tình trạng bồn chồn nhớ
mong da diết của người đang yêu.
H/a khăn được nhân hoá bộc lộ nỗi
nhớ được lặp lại 6 lần
- Hỏi khăn-> hỏi mình -> hình thức
câu hỏi tu từ: Hỏi để bộc lộ lòng mình.
- Biện pháp nghệ thuật liệt kê liên tiếp
+ nghệ thuật đảo thanh và sử dụng
hình ảnh trái chiều: rơi xuống đất ->
ai->Vắt lên vai ->chùi nước mắt thể
hiện nỗi nhớ thương trào dâng dồn dập
đi, dáng đứng “Ra ngẩn vào
ngơ”"biến thành cảnh khóc thầm:
“Nhớ ai em những khóc thầm
Hai hàng nước mắt đầm đìa như mưa”
- Sáu câu 24 chữ: 16 thanh bằng ->Nỗi
nhớ bâng khuâng, da diết, đậm màu
sắc nữ tính, người con gái biết kìm nén
cảm xúc của mình, không bộc lộ một
cách dễ dãi.
* Hình ảnh ngọn đèn:
+ Từ hình ảnh khăn->đèn: nỗi nhớ trải
dài theo thời gian từ ngày sang đêm.
+ “Đèn thương nhớ ai”.-> ẩn dụ diễn tả
nỗi nhớ.
+ Đèn không tắt->gợi hình ảnh người
con gái trằn trọc thương nhớ khôn
nguôi
-> khẳng định tình cảm nồng cháy
* Hình ảnh đôi mắt:
+ Thương nhớ
+ Ngủ không yên-> Hình ảnh cô gái
trằn trọc trong giấc ngủ vì nhớ người
yêu. Nỗi nhớ thương được giãi bày
trực tiếp bằng cách tự hỏi mình, hỏi để
khẳng định tình cảm của mình.
Nỗi nhớ xâm chiếm cô gái cả trong
tiềm thức lẫn vô thức. Nỗi nhớ đi vào
chiều sâu trong tâm hồn
=> 10 câu đầu diễn tả nỗi nhớ thể hiện
sự vận động trong ko gian 3 chiều .