MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATGT
An toàn giao thông
CNTT
Công nghệ thông tin
GD-ĐT
Giáo dục và Đào tạo
GDCD
Giáo dục công dân
THPT
Trung học phổ thông
Trang1
Phần 1 : MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Năm học 2013-2014 là năm tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học do Bộ GD-ĐT (GD-ĐT) ban hành. Năm thực hiện nhiệm vụ của ngành giáo
dục, tiếp tục đổi mới phương pháp dạy - học. Đặc biệt sẽ tập trung đổi mới
hình ảnh chưa cập nhật kịp thời và thiếu sự đa dạng. Việc tập huấn, bồi dưỡng,
hội thảo chuyên đề bộ môn còn ít. Vì thế đã làm cho giáo viên không có cơ hội
để bồi dưỡng, học hỏi bạn bè đồng nghiệp nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp
vụ bộ môn.
- Thế kỷ XXI - thế kỷ của khoa học và công nghệ, chúng ta đang từng bước
tiếp cận với những thành tựu mới của khoa học – ki thuật. Vì thế, sự chuẩn bị
nguồn lực cho đất nước bước vào thời kì đổi mới là một trong những nhiệm vụ
cấp thiết của toàn xã hội và ngành giáo dục đào tạo nói riêng. Muốn theo kịp các
nước tiên tiến và đón đầu sự phát triển đòi hỏi phải đổi mới giáo dục một cách
đồng bộ là tất yếu.
- Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời
gian đầu tư vào mỗi bài dạy. Từng bước áp dụng các phương tiện hiện đại như:
máy chiếu đa năng, máy chiếu đa vật thể, projector..v.v. băng hình, tranh ảnh
vào trong giảng dạy bộ môn GDCD là con đường hữu hiệu có tác dụng tăng hiệu
Trang3
quả tiết học lên gấp bội. Mặt khác nếu ứng dụng thành công CNTT vào dạy học
bộ môn GDCD, đưa ra các kinh nghiệm khả thi thì chắc chắn rằng chất lượng
học tập bộ môn sẽ được nâng cao và chắc chắn rằng học sinh sẽ rất hứng thú học
môn học này cũng như bao môn học khác trong chương trình phổ thông.
1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về việc ứng dụng CNTT
vào môn GDCD ở trường THPT số 1 Huyện Mường Khương để giảng dạy một
số bài trong chương trình giáo dục công dân, nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn GDCD 11, học sinh lớp
11 ở trường THPT số 1 huyện Mường Khương năm học 2012 - 2013.
1.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
dạy và học các môn học khác trong nhà trường.
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục - Đào tạo ở tất cả các cấp học,
bậc học, ngành học theo hướng sử dung CNTT như một phương tiện hỗ trợ đắc
lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học, học tập ở tất cả các môn học....
Thực hiện chỉ thị trên, hầu hết các bộ môn trong nhà trường ở các cấp học,
bậc học, ngành học, đều chú trọng ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp
dạy học. Phải nói rằng, hiện nay với sự phát triển như vũ bảo về lĩnh vực CNTT,
nước ta đã từng bước tiếp cận và ứng dụng những thành tựu trong lĩnh vực còn
khá mới mẽ này. Tuy vậy, việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học ở nước ta vẫn
còn hạn chế so với các quốc gia trên thế giới. Vì vậy việc đổi mới phương pháp
dạy học là việc làm cần thiết và quan trọng của ngành giáo dục trong giai đoạn
hiện nay.
Với đặc trưng của môn học là một môn khoa học, vấn đề đặt ra là làm thế
nào để nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học của thầy và trò đó là vấn đề hết
sức quan trọng. Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy bộ môn GDCD,
bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở để tìm ra những phương pháp dạy học nhằm
gây hứng thú cho học sinh khi học bộ môn của mình để đạt kết quả cao. Đó cũng
là vấn đề được giáo dục quan tâm đặc biệt hiện nay.
Trang5
2.2.Thực trạng của vấn đề:
a. Thuận lợi- khó khăn
* Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của ngành Giáo dục - Đào tạo tỉnh nhà.
- Ban giám hiệu nhà trường có quyết tâm cao và tập trung chỉ đạo, đẩy
mạnh đổi mới phương pháp dạy học.
+ Nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy
móc phục vụ cho đổi mới phương pháp dạy học: các phòng học bộ môn, thư
viện, phòng máy.
thầy(cô) giáo giảng quên cả việc ghi bài.
- Một số học sinh gặp khó khăn trong việc ghi chép: không biết lựa chọn
thông tin, nội dung chính để ghi vào bài học, ghi chậm hoặc không đầy đủ.
b.Thành công- hạn chế:
* Về phía giáo viên:
- Một số giáo viên đã cố gắng ứng dụng CNTT vào dạy học, tuy nhiên
trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, còn mang nặng tính chất
trình diễn. Nhiều giáo viên còn ôm đồm kiến thức làm mất thời gian mà hiệu
quả giờ dạy chưa cao.
- Trong tiến trình lên lớp với bài giảng điện tử, một số giáo viên thao tác
hơi nhanh nên dẫn đến việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và mức độ hiểu bài của
học sinh chưa được cao.
*Về phía học sinh:
- Một số học sinh chưa thật thích nghi với phương pháp học hiện đại này,
chỉ thụ động ngồi nghe, xem phim, ảnh và sôi nổi bình luận hoặc say sưa nghe
thầy(cô) giáo giảng quên cả việc ghi bài.
- Một số học sinh gặp khó khăn trong việc ghi chép: không biết lựa chọn
thông tin, nội dung chính để ghi vào bài học, ghi chậm hoặc không đầy đủ.
Căn cứ vào những thực trạng trên bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra một
số kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn GDCD như sau:
2.3 Giải quyết vấn đề:
Căn cứ vào những thực trạng trên bản thân tôi xin mạnh dạn đưa ra một
số kinh nghiệm ứng dụng CNTT vào dạy học bộ môn GDCD như sau:
Trang7
Một là: Xây dựng thư viện tư liệu.
Để phục vụ cho công tác giảng dạy, đối với môn GDCD kho tư liệu là điều
kiện cần thiết và đặc biệt quan trọng vì đặc trưng của bộ môn GDCD là bộ môn
trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức đa dạng, phong phú: Triết học, đạo
số hàng hóa trên thị trường, khi cần thực hiện thao tác: mở các băng hình, các
đĩa CD- Rom, lựa chọn các đoạn phim có thể làm tư liệu giảng dạy, sử dụng
phần mềm như: HeroSuperPlayer 3000 hoặc Herosoft 2001 hay Camtasia
studio, cắt các đoạn phim rồi lưu vào máy tính thành các file dữ liệu trong thư
viện tư liệu để phục vụ giảng dạy.
+ Khai thác các hình ảnh tĩnh, động, các phần mềm trên các đĩa CD- ROM,
VCD... Chỉ cần kích chuột vào insert/Picture/promfile... vào ổ đĩa CD-ROM lựa
chọn tranh, ảnh, hình vẽ cần tìm rồi đưa vào bài giảng.
Với bộ môn GDCD tôi chỉ khai thác những nội dung cần thiết ở các đĩa VCD
hoặc khai thác vận dụng các đĩa CD-ROM của các phân môn khác như CDROM vật lý, Địa lý. . . khi gặp những nội dung cần thiết, vì hiện nay vẫn chưa
có phần mềm nào dành cho môn GDCD.
Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện tư
liệu phong phú, đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy. Tuy nhiên cần lưu
trữ thành trong file dữ liệu để dễ dàng tìm kiếm khi sử dụng. Hiện nay đối với
bản thân tôi đã lưu trữ được một số file dữ liệu để phục vụ cho quá trình giảng
dạy bộ môn GDCD như: các dữ liệu về hình ảnh dân số, tài nguyên và mô
trường, về vấn đề ATGT, về các tệ nạn xã hội, về các hoạt động đền ơn đáp
nghĩa, về các thắng cảnh của quê hương đất nước, và một số di tích lịch sử của
địa phương và của đất nước.
Hai là: Xây dựng bài giảng điện tử:
Chúng ta có thể sử dụng giáo án điện tử để dạy các bài có tính chất thuyết
trình, kiến thức trừu tượng, đặc biệt là những bài học mà có thể khai thác các tư
liệu, hình ảnh, video, phần mềm ...
Giáo viên phải tự soạn bài giảng điện tử dựa vào các phần mềm ứng dụng sẵn
có như PowerPoint, đây là phần mềm thiết kế bài giảng điện tử tương đối đơn
giản, phù hợp với giáo viên giảng dạy các bộ môn không chuyên như môn
GDCD, hoặc có thể tham khảo bài giảng điện tử sẵn có trên các đĩa CD-ROM
Trang9
Trang10
môi trường và trách nhiệm của công dân, học sinh đối với chính sách tài nguyên
và bảo vệ môi trường... từ những hình ảnh trực quan đó học sinh quan sát, nhận
xét và có phản ứng trước những hành động xả rác bừa bãi, những hành vi không
giữ gìn môi trường giúp các em khắc sâu được kiến thức một cách nhanh chóng.
Sau đây là một số hình ảnh cụ thể khi thiết kế bài 12 Chính sách tài
nguyên và bảo vệ môi trường và Chương trình GDCD 11:
1.Tình hình tài nguyên và môi trường ở nước ta hiện nay:
Tài nguyên thiên nhiên phong phú
Trang11
Trang12
Chặt phá rừng
Trang13
Săn bắt động vật
Trang14
nhiễm môi trường
Trang22
Áp dụng công nghệ hiện đại để khai thác tài nguyên:
Khai thác dầu khí
Trang23
Khai thác than
3.Trách nhiệm của công dân đối với chính sách tài nguyên và bảo vệ môi
trường:
Trang24
Trang25