SKKN một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng đọc, hiểu và cảm thu thơ cho học sinh lớp 10 trường THPT số 2 bát xát - Pdf 32

Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU
Trang
1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………......... 1
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………............ 1
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu................…….....................……………… 1
4. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….......... 2
5. Thời gian nghiên cứu.....................................................................................2
6. Đóng góp của sáng kiến................................................................................ 2
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lí luận của vấn đề ...............................................................3
Chương II: Thực trạng của vấn đề.................................................................6
Chương III: Giải quyết vấn đề ...................................................................... 9
I. Giải pháp cụ thể........................................................................................... 9
II. Thiết kế minh họa........................................................................................16
III. Những kết quả bước đầu sau khi thử nghiệm sáng kiến………………….24
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

-1-

25
26


miền xuôi thì học sinh miền núi gặp nhiều hạn chế về hàng rào ngôn ngữ, về
cảm xúc và cảm thụ hình tượng văn học. Nhất là hình tượng văn học trong tác
phẩm thơ. Đó là điều tôi luôn trăn trở sau 8 năm đứng lớp. Vì thế tôi đã chọn
đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng hiểu và cảm thụ thơ cho
học sinh lớp 10 ở trường THPT số 2 Bát Xát” để mong góp được tiếng nói
nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng môn văn, đánh thức tâm hồn và khát
vọng của các em qua môn văn.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đưa ra một số phương pháp giúp các em học sinh khắc phục được
những hạn chế và khó khăn trong việc học tác phẩm thơ. Đồng thời cảm thụ
và hiểu được những tác phẩm thơ một cách sâu sắc.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu: Các bài thơ ở lớp 10 THPT. Do điều kiện thời
gian và năng lực có hạn nên chúng tôi chỉ giới hạn việc thực hiện đề tài này
cho học sinh lớp 10A2 trong trường.
-2-


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------- Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động dạy học văn bản thơ của giáo
viên và học sinh trong chương trình văn học lớp 10 ban cơ bản ở THPT.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích đề tài đặt ra, sáng kiến của tôi chủ yếu tập trung
vào phương pháp khảo sát văn bản, khảo sát thực trạng học văn của các em
học sinh, phương pháp điều tra giáo dục, phương pháp quan sát sư phạm,

từng nhận xét về thơ như sau “Trong các ngành nghệ thuật, cái phát triển
nhất là thơ ca. Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu
thơ”. Trong lao động, thơ Việt Nam kết tinh thành nhiều tác phẩm văn học
dân gian tuyệt tác. Những bài hát ví phường vải, ví phường cấy, hò tát nước,
hò kéo gỗ, hò chèo thuyền, hò kéo lưới... là chứng tỏ thơ đã thấm vào máu
thịt, đã kết tinh trong tâm hồn và trở thành món tinh thần của người lao động.
Trong chiến đấu, thơ Việt Nam cũng đóng vai trò rất lớn: từ bài thơ
"thần" của Lý Thường Kiệt đến những bài thơ yêu nước của Trần Quang
Khải, Phạm Ngũ Lão, rồi thơ động viên tinh thần chiến đấu của Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Thụ... Độc đáo đến mức có
những chiến sĩ ra trước pháp trường vẫn thản nhiên đọc thơ như Cao Bá Quát,
Mai Xuân Thưởng. Dùng thơ để tỏ khí tiết, chắc chỉ có dânViệt Nam thành
thạo từ xưa. Thơ làm cho tâm hồn con người ta bay bổng thanh cao, hướng
thiện, đó còn là thú chơi tao nhã của người Việt Nam bao đời nay.Trong
chương trình THPT, thơ chiếm một vị trí quan trọng, một tỉ lệ khá lớn trong
chương trình, cụ thể như sau: trong chương trình lớp 10 gồm có 14 tác phẩm,
chương trình 11: gồm có 20 tác phẩm và chương trình 12 có 8 tác phẩm kể cả
đọc thêm.
Nhưng văn thơ cũng như tình yêu là một hiện tượng rất khó định nghĩa.
Bởi thế việc nhận diện chính xác cũng không phải dễ dàng gì. Không phải
ngẫu nhiên mà lịch sử phê bình văn học Đông và Tây cứ trở đi trở lại hai cực:
hoặc thần bí hoá nó, hoặc xem nó là một cái tầm thường, dung tục. Tất nhiên
cả hai cực ấy đều sai lầm và nguy hại.
Hơn nữa, phép toán của văn chương không phải hai cộng hai là bốn, mà
có thể là năm, là sáu. Vì văn thơ là ở nghĩa bóng không phải nghĩa đen, ở
ngoài chứ không phải ở trong lời, và cũng như linh hồn là cái thần thái của
toàn bộ thể xác, nó không nằm ở chỗ nào rõ rệt mà nằm ở tất cả, làm sống lên
-4-



loại: thơ cách luật và thơ tự do.
2. Thi pháp thơ :
Aristote (384 - 322 TCN) là người đầu tiên nghiên cứu về thi pháp.
Công trình "Poetica" (Nghệ thuật thi ca) của ông ra đời cách đây 2400 năm
vẫn là nền tảng của mọi công trình nghiên cứu về thi pháp suốt mấy chục thế
kỷ. Qua nhiều bước thăng trầm, đến nay, các nhà nghiên cứu đã đi đến tương
đối thống nhất quan niệm về thi pháp: "Thi pháp là tổ hợp những đặc tính
thẩm mỹ nghệ thuật, phong cách của một hiện tượng văn học, các thành tố
nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng".
Thi pháp, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những vấn đề loại hình, thể
tài, những nguyên tắc, phương pháp phản ánh thực tại và các phạm trù không
gian, thời gian nghệ thuật, hình tượng tác giả, điểm nhìn nghệ thuật, quan
niệm về thế giới và con người,...
Trên cơ sở soi dọi định nghĩa thi pháp vào thơ, các nhà nghiên cứu đều
thống nhất rằng: Đặc điểm nổi bật nhất của thi pháp thơ là tính trữ tình. Theo
Bakhtine, bản chất của thơ "Là tiếng nói bộc bạch, chẳng hạn một bài thơ
-5-


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------diễn đạt một nỗi buồn, oán thán, một niềm vui, một nỗi nhớ, một suy tưởng";
thơ là sự bộc bạch trực tiếp cảm xúc, là một lời tâm tình gan ruột, một tấc
lòng tác giả. Khi giảng dạy và học tập thơ, phải giải mã được tình cảm mãnh
liệt ấy. Đặc điểm thi pháp này chính là căn cứ cơ bản để phân biệt thơ và văn
xuôi. Thơ thiên về cảm xúc, là sự bộc lộ bản thân người nghệ sĩ trước con

giới về sau hãy gương những chiến sĩ cách mạng đi trước”… Còn nhiều nữa
những lỗi của các em mà phạm vi của một bài viết không thể dẫn ra hết được.
Sai chính tả, không viết hoa danh từ riêng, dùng dấu câu sai, hoặc cả bài
không có một dấu câu là chuyện muôn thuở. Viết câu què câu cụt, diễn đạt rối
rắm cũng là những điều thường gặp trong bài làm của các em.
Không chỉ thế, trong thói quen tiếp nhận văn học của học sinh vùng cao
là các em thường đem “đức tính thật thà của mình để chiếm lĩnh tác phẩm
thơ” Dẫu biết rằng sự thật là là một đức tính tốt, song cảm thụ tác phẩm văn
chương một cách thật thà thì rất tai hại. Vì sự thật thà trong nhận thức văn
chương đã tước bỏ gần hết những yếu tố đẹp trong văn chương: “đức tính thật
thà là nấm mồ lớn chôn vùi mọi vẻ đẹp của văn chương”. Bởi vậy các em
không hiểu được tầng nghĩa sâu của tác phẩm. Hơn nữa vốn từ ngữ phổ thông
của các em học sinh ở vùng cao rất nghèo, nên trong quá trình trả lời câu hỏi
hay diễn đạt một bài văn ngôn từ thường lặp đi lặp lại rất nhiều. Rồi khả năng
tự lập để phát hiện vấn đề còn hạn chế, còn ỉ lại cho giáo viên khi khám phá
tác phẩm. Tinh thần và thái độ học tập chưa cao.
Bản thân tôi, có những giờ lên lớp cảm thấy ức chế vô cùng. Công lao
chuẩn bị cho bài giảng mong rằng khi lên lớp sẽ truyền đạt được tới các em.
Nhưng khi lên lớp, cô thì cố gắng giảng giải phân tích còn các trò thì ánh mắt
lơ đãng, vô cảm. Khi tôi ra câu hỏi, chỉ được vài em học khá xung phong.
Những em còn lại khi giáo viên đưa mắt xuống lớp thì những ánh mắt vội
vàng cụp xuống như khước từ trả lời. Phát hiện và nhìn thấy chỗ thiếu và chỗ
yếu của học sinh là quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là làm sao khắc phục
-7-


Sáng kiến kinh nghiệm




gia, cho nên các em học yếu, học kém môn văn. Sự học kém này cũng là một
trong những nguyên nhân khiến cho các em chưa hứng thú với môn văn
Thứ ba, đa số giáo viên dạy văn chúng ta chưa am hiểu sâu sắc hệ
thống chất liệu thiết kế mình đang giảng dạy. Rồi có những giáo viên dạy văn
thì phân tích từ ngữ một cách sơ sài, chưa được chú ý và đầu tư đúng mức.
Trong khi yêu cầu của việc đánh giá cho từ này là “ thần”, từ kia “đắt” hay
“giàu gợi cảm”... luôn phải được khảo sát dựa trên cơ sở phân tích khoa học
và thấu đáo về nhiều mặt, trong đó không thể thiếu mặt ngôn ngữ. Nhiều khi
phân tích từ giáo viên còn dựa vào cảm tính chủ quan của bản thân, thiếu căn
cứ khoa học… Bên cạnh đó một số giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi còn
quá dài và khó đối với học sinh. Khi được hỏi lý do vì sao trong giờ học các
-8-


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------em không phát biểu, nhiều em cho rằng câu hỏi quá khó, nên các em không
trả lời được.
Hơn nữa, với một chương trình Ngữ văn trong nhà trường dày đặc như
hiện nay, thời gian phân phối chương trình nhiều bài không phù hợp như dung
lượng kiến thức lớn mà thời lượng ngắn, thầy cô thì không đủ thời gian để
truyền đạt cho học sinh niềm đam mê văn học mà cứ phải vội vàng giảng một
cách sơ sơ chung chung về tác phẩm. Kết quả là học sinh cũng chỉ được tiếp
cận tác phẩm ở bề mặt. Trong khi những tác phẩm đã được đưa vào chương
trình sách giáo khoa đều là những tác phẩm đã qua sự chọn lọc của thời gian
và bao thế hệ người đọc cho nên đều có giá trị nhân văn sâu sắc, là mảnh đất

ngọc có sẵn với những cảm nhận áp đặt của người khác. Và nếu như xã hội
đang thay đổi từng ngày từng giờ cùng với những quan niệm về lối sống, đạo
đức, thẩm mĩ... của con người thì tại sao lại bắt các em phải coi giá trị của
những tác phẩm văn học là bất biến, là trường tồn mãi với thời gian. Văn học
không thể mang trong nó những đặc tính có tính chất xác định rõ ràng. Giá trị
của tác phẩm văn học không bất biến theo thời gian mà có những giá trị biến
đổi trong những thời đại khác nhau, trong những thế hệ hay những con người
khác nhau. Chính phương pháp giáo dục áp đặt bắt học trò phải cảm nhận văn
học theo khuôn khổ đã giết chết sự hứng thú học văn của các em học sinh. Vì
vậy, dạy văn nói chung và tác phẩm thơ nói riêng phải tạo điều kiện cho học
sinh qua môi giới của từ ngữ tái hiện được hình tượng nghệ thuật, nội dung
tác phẩm trong tâm trí các em. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Bình từng nói “
Quá trình dạy tác phẩm chỉ có thể thực hiện được một cách có hiệu lực thật
sự khi nào nội dung tác phẩm được tái hiện trong trí tưởng tượng và trở
thành một sự kiện trong tâm hồn” các em. Bởi vì một khi các em chưa tái hiện
được hình ảnh trong tâm trí của mình thì tác phẩm vẫn là một hiện tượng xa
lạ, bên ngoài. Nhưng để các em cảm thụ được, rồi cảm thụ tốt thì người giáo
viên phải kiên trì, thực hiện từng bước một:
1. Làm giàu ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là cái vốn khởi đầu cho những ai muốn cảm thụ được môn
văn và học giỏi văn. Và cảm thụ tác phẩm văn chương thông qua thế giới hình
tượng, kể cả quan điểm của tác giả… tất cả đều phải bắt đầu hiểu ngôn ngữ
trong tác phẩm vì “ trong dạy văn thì từ là rất quan trọng… phải hiểu tất cả ý
nghĩa của từ, ý nghĩa sâu xa, ý nghĩa phong phú, phải hiểu tất cả các cách
dùng từ”. Do đó việc giải toả hàng rào ngôn ngữ trong quá trình dạy tác phẩm
thơ là nhiệm vụ, là yêu cầu đối với tất cả các giáo viên dạy văn. Và đối với
những trường THPT ở vùng cao có nhiều học sinh dân tộc thì nhiệm vụ đó,
yêu cầu đó cần phải được chú trọng hơn, sát hợp hơn. Để làm được điều ấy,
người giáo viên chúng ta phải như con ong chăm chỉ giúp đỡ từng em một. Có
thể thực hiện một số cách làm như sau:

2. Nhiệm vụ then chốt tiếp theo là phải làm cho các em đọc tác phẩm:
Đọc là chiếc cầu nối để nối tác giả với bạn đọc thông qua văn bản. Con
đường đi vào tác phẩm văn chương nhất thiết phải bắt đầu từ đọc. "Đọc văn
gắn liền hữu cơ với tiếp nhận. Vì muốn lĩnh hội trọn vẹn tác phẩm văn học
không còn con đường nào khác là đọc và sử dụng các hình thức khác nhau,
dưới những bình diện khác nhau để đạt tới sự hiểu biết và xúc cảm thật sự
nhằm tự khám phá bản thân và hướng thiện"( Nguyễn Thanh Hùng " Hiểu
văn dạy văn”). Công việc đọc là quan trọng như vậy nên để nâng cao việc
hiểu và cảm thụ tác phẩm thơ cho các em, thầy cô giáo chúng ta phải bắt đầu
từ việc đọc của các em.
Việc đọc thơ trong giờ giảng văn được thực hiện ở cả thầy và trò.
Nhưng riêng đối với người thầy, trong thiên chức sáng tạo của mình việc đọc
thơ lại sáng tạo đến hai lần: vừa huy động năng lực cảm thụ cá nhân vừa thức
tỉnh sự quan tâm tò mò của bản thân học sinh. Thế nên khi đọc thơ, chúng ta
phải đặc biệt chú ý và thực hiện tốt các yêu của việc đọc:
- Phát âm rõ ràng chính xác
- Giản dị và tự nhiên
- Thâm nhập vào nội dung tư tưởng ở mức dễ hiểu với học sinh.
- Truyền đạt được loại thể hiện và phong cách nghệ thuật.
- 11 -


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------- Truyền đạt rõ tư tưởng tác giả.
- Thể hiện trình độ của mình với tác phẩm đọc.

thông tin lớn. Dùng điển cố là lấy xưa để nói nay, cụm từ chỉ có vài chữ mà
nói lên, mà gợi lên sâu sắc các tầng ý nghĩa. Chú giải điển cố bao gồm:
+ Chú giải nghĩa đen của điển cố: làm cho học sinh biết sự tích của điển
cố. Chẳng hạn trong câu thơ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” trong bài
thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão: Vũ Hầu chỉ Gia Cát Lượng, một người
nổi tiếng về trí tuệ, mưa lược dưới thời Tam Quốc, giúp Lưu Bị và được
phong tước Vũ Lượng hầu. Phạm Ngũ Lão thẹn vì thấy mình không bằng Vũ
Hầu để hoàn thành sứ mệnh đối với đất nước. ..
- 12 -


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------+ Sau khi chú giải nghĩa đen, giáo viên cần phân tích hoặc chú giải
thêm giá trị của điển cố, đặt nó trong văn bản để phân tích, cắt nghĩa để hiểu
sâu sắc hơn.
4. Hướng dẫn các em biết cắt nghĩa và phân tích
Cắt nghĩa là giải thích có suy nghĩ để tìm ra ý nghĩa của văn bản. thông
qua việc cắt nghĩa các yếu tố, các hình ảnh, các từ, câu, bộ phận trong chỉnh
thể của mạch thơ, làm cho chúng bộc lộ ý nghĩa riêng của từng thành phần.
Song mọi yếu tố nội dung trong văn bản đều có quan hệ với hình thức. Chúng
xác định lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Do đó, cắt nghĩa phải luôn đối
chiếu với bộ phận, các thành phần được cắt nghĩa với chỉnh thể của văn bản,
làm bộc lộ ý nghĩa chung của toàn bộ văn bản.
Cắt nghĩa và phân tích phải đi liền với nhau. Quá trình cắt nghĩa, phân
tích và làm sáng rõ những nét độc đáo của tác phẩm sẽ góp phần làm phát

Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------Bằng thủ pháp nghệ thuật đối lập: người về - kẻ đi, nhà thơ đã khắc hoạ được
tâm trạng của hai con người, họ đang đi về bến bờ cô đơn, vô vọng, thăm
thẳm.
- Cắt nghĩa hình ảnh: để làm bật sáng hình ảnh trong bài thơ, làm rõ
dụng ý nghệ thuật của tác giả. Ví dụ: trong câu thơ trên ta phải phân tích hình
ảnh “chiếc bóng năm canh” và “muôn dặm một mình” tạo sự tương phản, chia
li, mở ra hai khung trời cô đơn. Dù đi hướng nào họ cũng chỉ có một, lẻ
loi,đơn chiếc.
- Cắt nghĩa hình tượng: Ví dụ: Cảnh ngày hè không hoàn toàn là một
bài thơ tả cảnh. Cảnh ấy là cảnh tác giả nhìn qua cảm nhận của mình, với tình
cảm và tâm tư của bản thân mình. Qua cảnh được tả ta thấy được vẻ đẹp tâm
hồn nhà thơ Nguyễn Trãi với tình yêu thiên nhiên, yêu đời, nặng lòng với
nhân dân, đất nước.
5. Phải có hệ thống câu hỏi phù hợp và khoa học:
Dạy văn nói chung, thơ nói riêng là phải trao đổi, đàm luận nhằm tạo
bầu không khí văn chương, đồng thời phát huy khả năng cảm thụ tác phẩm
văn chương ở các em học sinh. Và trong bầu không khí văn chương ấy, các
em có thể khẳng định những suy nghĩ có tính chất phát hiện, độc đáo và phù
hợp với nội dung bài học hoặc có thể hình thành những cảm xúc mới, đạt mức
trí tuệ và thay đổi cách nghĩ cũ. Với học sinh vùng cao, bằng cách này có thể
rèn luyện cho các em bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập
thể. Muốn thực hiện được điều đó, đòi hỏi giáo viên phải xây dựng được hệ
thống câu hỏi khoa học, phù hợp với yêu cầu của bài học, hấp dẫn, sát đối
tượng, xác định được vai trò, sức nặng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các

- Câu hỏi phát hiện: trong giờ giảng văn nói chung và thơ nói riêng ,
giáo viên phải sử dụng và phát huy một cách tối đa hiệu quả của loại câu hỏi
phát hiện bởi loại câu hỏi này có vai trò rất quan trọng trong việc hướng các
em chú ý vào tìm tòi và tự phát hiện ra "những tín hiệu nghệ thuật” đặc biệt
của tác phẩm.
- Câu hỏi nêu vấn đề: Loại câu hỏi này tạo nên mâu thuẫn giữa những
cái đã biết với những cái chưa biết, giữa cái cũ và cái mới trong nhận thức của
học sinh, mâu thuẫn giữa nhận thức của học sinh và ý đồ nghệ thuật của tác
giả….Có thể nói một cách ngắn gọn : Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi chứa tình
huống có vấn đề. Và những tình huống có vấn đề ở câu hỏi nêu vấn đề thường
rất nhạy cảm với tâm lí thích cắt nghĩa lí giải để chinh phục, để giải toả thắc
mắc hay đơn giản chỉ là thoả trí tò mò của học sinh hiện nay. Khi ra câu hỏi
nêu vấn đề chúng ta cần lưu ý :
+ Câu hỏi nêu vấn đề làm sao phải thể hiện được nhiều mối liên hệ giữa
các yếu tố, các sự kiện nhằm góp phần làm sáng tỏ những ý nghĩa sâu sắc của
chi tiết , của tác phẩm, tạo được ấn tượng sâu đậm trong học sinh .
+ Tình huống có vấn đề của câu hỏi nêu vấn đề sao cho phải "đánh
trúng " vào giao điểm của tuyến phát triển logic của tác phẩm với niềm hứng
thú của học sinh
- Câu hỏi gợi mở: Giúp các em hiểu và phân tích sâu hơn. Câu hỏi gợi
mở hỗ trợ cho phương pháp đọc sáng tạo, giúp các em mở rộng và đào sâu
hoạt động nhận thức, khơi sâu năng lực cảm thụ ban đầu. Theo tôi, chúng ta
nên quan tâm tới những em yếu kém. Và khi đưa ra câu hỏi, nên đồng thời có
cả những lời động viên các em khác phát biểu và cũng nên mạnh dạn gọi cả
những em không giơ tay. Khi các em ấp úng hoặc không trả lời được, lúc ấy
thường một số thầy cô vì sợ mất thời gian nên cho các em ngồi xuống nhưng
theo tôi, như thế là chúng ta chưa thể hiện rõ được vai trò người "nhạc
trưởng" là người "thắp sáng lên những ngọn lửa". Những lúc như thế, chúng
ta nên sử dụng những câu hỏi gợi mở, vừa hỏi vừa gợi từ từ, từ dễ đến khó.
Như thế học sinh sẽ cảm thấy được trân trọng và chúng ta cùng các em vẫn đi

hàm chứa sự khác biệt, xác định năng lượng và ý nghĩa của "sự có mặt" - sự
tồn tại của tác phẩm. Và nếu chúng ta thành công trong việc làm rõ vai trò, ý
nghĩa quan trọng của các chi tiết đó trong nội dung của lời giảng giải, phân
tích chắc chắn chúng ta sẽ thành công trong việc tạo và các em sẽ cảm thụ
được nhiều vấn đề.
7. Giọng điệu người thầy khi giảng giải phân tích và khi phát vấn, nhận xét
câu trả lời của học sinh có vai trò rất quan trọng:
Khi giảng giải, phân tích, giọng điệu người thầy phải thể hiện được tính
chất giao tiếp của giọng giảng văn, phải cho học sinh cảm nhận được, một
nhiệt huyết trao gửi và truyền đạt. Chúng ta phải biết chế ngự hay phát huy,
biết giảm hay tăng tốc, biết to tát hay nhỏ nhẹ ái ưu, cái nhược của từng loại
âm thanh hội nhập trong một chính mình sao cho: “Mỗi chuỗi lời giảng phải
thực sự là chuỗi âm thanh sóng sánh, hoà hợp tuyệt vời rót vào tai học sinh,
rót cả vào trí óc và tâm hồn nữa”.
Khi phát vấn và nhận xét câu trả lời của học sinh người thầy phải thể
hiện được sự trân trọng, động viên khích lệ. Cùng với ngữ điệu, giọng điệu
của mình, chúng ta có thể kết hợp với ánh mắt chăm chú, đợi chờ, hi vọng,
chia sẻ, và phải cho học sinh thấy được tình cảm, sự thân thiện cởi mở của
người thầy… Điều này sẽ tạo cho học sinh sự mạnh dạn tự tin cho các em.
Đặc biệt là đối với các em học sinh dân tộc vốn rất nhút nhát, rụt rè.
Chúng ta cũng cần lưu ý: trong khi học sinh trả lời, không nên làm
những việc khác như: đọc sách, nhìn giáo án hay lau bảng ... Như thế sẽ tạo
cho học sinh những ấn tượng không tốt, các em dễ cảm thấy bị coi thường,
không được tôn trọng và dễ sinh chán nản, không còn hứng thú .
- 16 -


Sáng kiến kinh nghiệm



chúng.
B. Tiến trình dạy học:
1. Ổn định tổ chức(1P):
2. Kiểm tra bài cũ (3p):
Câu hỏi: Đọc thuộc bài thơ Nhàn, nêu quan niệm của nhà thơ về lối sống
nhàn?
3. Bài mới:
HĐ1: Khởi động(1P)
Trong tiết thanh minh, đứng trước nấm mồ Đạm Tiên lạnh lùng hương
khói, Thúy Kiều băn khoăn, ngậm ngùi:
“ Rằng: Hồng nhan tự thuở xưa,
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu.
Nỗi niềm tưởng đến mà đau,
Thấy người nằm đó biết sau thế nào?”

- 17 -


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------Đó cũng chính là nỗi niềm chính của Nguyễn Du với nàng Tiểu Thanh
khi ông đọc tập truyện kí viết về cuộc đời bất hạnh của nàng, thêm một lần cất
lên thành bài thơ.
Hoạt động của GV & HS
Nội dung cần đạt
HĐ2:

1. Đọc và giải thích từ khó
GV hướng dẫn HS đọc.
Gv đọc mẫu; gọi HS đọc diễn cảm bài
thơ
Gv giảng giải nhan đề bài thơ
GV mở rộng:
- Vậy nhan đề trên có nghĩa là: Đọc
tập ghi chép của Tiểu Thanh (Hay
“Đọc tập thơ của Tiểu Thanh”). Theo
gíáo sư Trần Đình Sử thì Độc Tiểu
Thanh ký” nghĩa là cảm nghĩ về đọc
truyện ghi chép về Tiểu Thanh. Ký
là một thể loại truyện ghi chép thịnh
hành đời Thanh như : “ Hội tiên ký”,
“ Lâm Tú Nương ký”... điều này cho
thấy Nguyễn Du đã đọc tập truyện “

2. Nhan đề
+ “Độc” nghĩa là “ đọc”
+ Tiểu Thanh : Tên người con gái
+ “Ký”: là ghi chép
 Cảm nghĩ về đọc truyện ghi chép
về Tiểu Thanh.

- 18 -


Sáng kiến kinh nghiệm



đó?
GV gợi mở: Câu thơ diễn tả sự thay đổi
biến thiên đến kinh hoàng. Vườn hoa
Tây Hồ đẹp là thế mà nay đó thành gò
hoang cả rồi. Vậy để diễn tả điều này
tác giả đó sử dụng biện pháp nghệ thuật
nào?

III- Đọc- hiểu văn bản:

1. Hai câu đề: Tả cảnh để kể sự kiện
* Câu 1:
- Sự hoang tàn, hoang phế đến khinh
hoàng của vườn hoa Tây Hồ:
+ “Tẫn” : Sự triệt để tận cùng, tuyệt
đối
+ “Khư” : gò hoang
- Nghệ thuật đối.
+ Quá khứ >< hiện tại
+ Rực rỡ tươi đẹp >< hoang phế điêu
tàn.

H. Địa danh Tây Hồ được nhắc đến câu
1 gợi nhớ đến ai? Từ đó câu thơ này - Cảnh Tây hồ gợi nhớ người con gái
đó từng sống ở Cô Sơn cạnh Tây Hồ,
- 19 -


Sáng kiến kinh nghiệm


nghiệt ngã của những người có tài văn
chương NT.
+ Bằng NT đối ND đã thể hiện sự
xót xa, tiếc nuối , sự đồng cảm của hai
tâm hồn cô đơn gặp nhau.
H. Giải thích “phần dư” là cái gì?
2. Hai câu thực: Suy nghĩ về số phận
H. Nguyễn Du đứng về phía ai để ca
bất hạnh của Tiểu Thanh
ngợi sắc, tài của TT?
* Câu 1: Nhan sắc khác thường, hơn
HS trả lời
người như có thần của nàng TT. Nhan
Gv:
sắc là báu vật của tự nhiên. Người
* Hai câu thực đa nghĩa:
mang nó đã chết. Chết trẻ càng làm cho
+ Nếu hiểu “son phấn”, “văn
người đời thương xót.
chương” là chủ thể tự hận, tự thương
* Câu 2: Nói về tài văn chương thơ, họa
thì có nghĩa là: Son phấn có thần
của TT. Phần dư là phần di cảo gồm 12
chắc phải xót xa vì những việc sau
bài thơ và 1 bức chân dung của nàng
khi chết/ Văn chương ko có số mệnh
còn để lại, còn cứu được sau trận ghen
mà cũng bị đốt dở.
tuông tàn độc, định đốt bỏ của người vợ
+ Nếu hiểu “son phấn”, “văn

chung”
(Truyện Kiều)
“Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”
(Văn chiêu hồn)
*GV củng cố tiết 41(2P):...
Hết tiết 41
Ngày soạn:…….
Ngày dạy:...........
HĐ4 (tiếp):
- Thời gian: 35P
- Đồ dùng DH: sgk, giáo án...
- PPDH: đọc, gợi ý...
GV dẫn dắt:…
H. “ Nỗi hờn… hỏi” có nghĩa gì? Tại
sao tác giả lại cho là “ không hỏi trời
được”?
HS trả lời
Gv nhận xét.

Son phấn sắc đẹp.
Văn chương tài năng
- Gợi nhớ lại cuộc đời, số phận bi
thương của Tiểu Thanh: tài hoa, nhan
sắc hơn người nên bị đố kị, phải làm lẽ
và bị đày ải đến chết vẫn không được
buông tha.
- Tiểu Thanh- hận chồng, hận người vợ
cả tàn bạo, phũ phàng khiến nàng phải
chết trong đau khổ , bệnh tật.

Dương Quỳnh Hương

---------------------------------------------------------------------------------

H. Em hiểu “ khách tự mang “ nghĩa
là gì? Tại sao nhà thơ lại thương xót
đồng cảm với TT? Có mối liên hệ gì
giữa cuộc đời nhà thơ với cuộc đời
TT?
- Điều này nói gì về tấm lòng của nhà
thơ đối với người nghệ sĩ.

GV chuyển ý:…
GV: Tố Như (sợi tơ trắng) là tên chữ,
bút hiệu của Nguyễn Du tư cách
một nhà thơ, một nghệ sĩ, một cái tôi
cá nhân việc xưng danh này hiếm
thấy trong VHTĐVN.
HS theo dõi hai câu cuối.
H. ND lo lắng băn khoăn điều gì?
Mong mỏi điều gì ở hậu thế?
( 1965 VN long trọng kỉ niệm 200
năm ngày sinh ND. Hội đồng hoà

những nhà thơ tài năng nhưng gặp
nhiều khổ đau, bất hạnh trong cuộc đời
như Nguyễn Du.
 Ở 4 câu đầu, Nguyễn Du chủ yếu
hướng sự thương cảm đến Tiểu Thanh
thì đến câu 5, trái tim Nguyễn Du đã

+ Cách hiểu 1: Nguyễn Du lo lắng, băn
khoăn ko biết có ai trong mai hậu thấu
hiểu, thương cảm ông như ông đã đồng

- 22 -




Sáng kiến kinh nghiệm

Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------bình thế giới công nhận là danh nhân
văn hoá thế giới.
300 năm tính chưa đầy nữa
Thiên hạ ngày nay hiểu Tố Như
(Xuân Diệu)

- HS thảo luận trả lời câu hỏi 3.

- Nỗi băn khoăn đó đã tìm được sự tri
âm của bao thế hệ người Việt Nam
sau này:
+ Từ khi tác phẩm của Nguyễn Du ra
đời đến nay, ông luôn có vị trí trang
trọng trong lòng người Việt Nam.
+ Đặc biệt, ở thế kỉ XX, chưa đến 300
năm, cả dân tộc ta “khóc” Nguyễn Du
qua tiếng khóc, tiếng ca của Tố Hữu:

Thanh, cho những kiếp hồng nhan bạc
phận thuở trước, khóc thương cho
những kiếp tài hoa bạc mệnh đương
thời, trong đó có cả chính ông mà còn
khóc cho người đời sau phải khóc mình
(kiếp tài hoa bạc mệnh vẫn còn trong
tương lai).
- Đó là nỗi băn khoăn hợp với lôgíc vận
động cảm xúc của nhân vật trữ tình
hợp lí, chính đáng.

5. Giá trị nhân đạo sâu sắc của bài thơ
Nhà văn, nhà thơ không chỉ đồng
cảm với những con người bất hạnh( đói
cơm rách áo) mà còn biết yêu thương
trân trọng chủ nhân của các giá trị tinh
thần. Khi những chủ nhân này là người

- 23 -


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

--------------------------------------------------------------------------------phụ nữ thì sự đồng cảm có ý nghĩa sâu
sắc hơn.
HĐ5: Kết thúc đọc – hiểu:

- Đọc thêm bản dòch thơ của Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương.
*Hướng dẫn học bài:
- Bài cũ: Nắm giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
- Bài mới: Soạn: Đọc thêm: Vận nước (Đỗ Pháp Thuận); Cáo bệnh, bảo mọi
người (Mãn Giác), Hứng trở về (Nguyễn Trung Ngạn)

- 24 -


Sáng kiến kinh nghiệm



Dương Quỳnh Hương

---------------------------------------------------------------------------------

III. Những kết quả bước đầu sau khi thử nghiệm đề tài:
Khi áp dụng sáng kiến vào trong thực tế giảng dạy với học sinh ở
trường tôi, không khí giờ giảng văn của cô trò chúng tôi đã được cải thịện
đáng kể. Trò hứng thú sôi nổi, tôi cũng thấy mình nhiệt tình say mê hơn. Cũng
từ đó tôi nhận thấy khi các em viết bài, càng ngày các em càng thể hiện sự
tiến bộ vững vàng về kiến thức văn học. Khả năng phát hiện, giảng giải phân
tích các chi tiết ngày càng nhanh, sắc và ấn tượng. một số em đã viết rất có
cảm xúc. Cụ thể như sau:
+ Kỹ năng đọc và học thuộc lòng bài thơ: Thông qua sự hướng dẫn về
cách đọc từng bài, từng đoạn, thậm chí từng câu, theo ước đoán của tôi có
khoảng trên 80% học sinh có khả năng đọc đúng bài thơ, trong đó có một số
có khả năng đọc diễn cảm. Đặc biệt có 2 em 10A2, đã có sự nhập thân vào
nhân vật, với giọng đọc trầm ấm, thiết tha

11=26,8%
27=65,9%
3=7,3%



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status